Archive | April, 2013

Sự nguỵ biện: “Không có gì mới”

30 Apr

Bản dịch 1:

SỰ NGỤY BIỆN: “KHÔNG CÓ GÌ MỚI”
By Le Minh Khai

Tôi đã từng lưu ý điều này. Bất cứ khi nào học giả Việt Nam thách thức các ý tưởng đối lập với điều đang đang được nói ở Việt Nam, họ nói rằng [quan điểm học thuật này] “không có gì mới”. Gần đây nhất, tôi nghĩ là tôi đã viết đâu đó trong blog này khi đề cập đến bình luận của Dương Trung Quốc về cuốn sách Bên Thắng Cuộc của Huy Đức [http://www.amazon.com/Ben-Thang-Cuoc-Giai-Phong/dp/1467557919/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1365600943&sr=8-1&keywords=ben+thang+cuoc-ND]. Nhưng tôi nghe thấy những bình luận tương tự về bất cứ điều gì tôi nói, hoặc bất cứ điều gì mà những người khác nói khác biệt với các diễn trình [lịch sử] chính thống ở Việt Nam. 
Ok, nếu nói “không có gì mới” là một cách phê phán quan điểm học thuật, thì điều đó phải đồng nghĩa với việc nền học thuật ở Việt Nam mới thực sự là “mới”. Vậy thì nền học thuật mới đó ở đâu? Ai là học giả Việt Nam đang tạo ra một nền học thuật được cho là mới? Đâu là tựa đề của các công trình mới đó? Thành thật mà nói tôi không hề có ý niệm nào về những điều đang được tạo ra và được coi là “mới” đó.
Vậy thì điều gì làm cho nền học thuật này “mới”? Liệu có phải đó là một nền học thuật cập nhật đã tạo ra những cách nhìn mới về quá khứ, giống như các học giả Ấn Độ đã làm với “nghiên cứu về Subaltern[ Subaltern studies: là trường phái nghiên cứu hậu thực dân, viết lịch sử từ bên dưới, thay vì viết lịch sử của tầng lớp tinh hoa/ elite. Trường phái chủ yếu nghiên cứu lịch sử Ấn Độ và Nam Á bằng cách viết sử hướng đến các nhóm nằm ngoài cấu trúc của hệ thống thuộc địa._NDhttp://books.google.com.vn/books?id=JEjsQbxIOC0C&printsec=frontcover&dq=subaltern+studies&hl=en&sa=X&ei=-W9lUfvVOOKsiAfvkoHwDg&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false]
Và nếu có, đâu là lập luận của những điều mới này đang được các học giả Việt Nam tạo ra? 
Trong việc nói rằng “không có gì mới”, liệu các học giả Việt Nam có nghỉ rằng họ là những người chơi bình đẳng trong nền học thuật quốc tế? (Và trong khung cảnh này, điều đó có nghĩa là [họ] có thể thay thế các quan điểm của mình bằng quan điểm của người khác). Nếu vậy thì, công trình nào họ đã viết ra có thể đứng ngang hàng với các nghiên cứu ở những quốc gia khác trong vài thập kỷ gần đây? 
Liệu có lý do chính đáng nào để tôi cứ phải nghe mãi lời phê phán này? Hay đó chỉ là một phản ứng cảm tính được thốt ra trong sự mặc cảm? Nếu lí do này là đúng, thì xin hãy chứng minh rằng nền học thuật Vietnam là xứng đáng với những bình luận như thế (bình luận: “không có gì mới”_LV), ví dụ, ai đã tạo ra các công trình có đủ sức cạnh tranh với điều Huy Đức đã làm? Ngược lại [nếu là những phát biểu cảm tính trong sự mặc cảm_ND] thì hãy dừng ngay việc chỉ trích các công trình của người khác và bắt tay vào việc tạo ra các công trình học thuật thực sự “mới”. (Liem Vu dịch)

Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen15581885?hc_location=stream

Bản dịch 2:

The Excuse of “Không có gì mới” I’ve noticed something.

Whenever Vietnamese scholars are confronted with ideas that contradict what has been said in Vietnam, they say about that scholarship “Không có gì mới” (“there is nothing new [about this]”).

Most recently I think I wrote about this somewhere on this blog in talking about Dương Trung Quốc’s comments about Huy Đức’s Bên Thắng Cuộc. But I hear the same comment about anything I say, or anything anyone else says that contradicts the official discourse in Vietnam.

Tôi có một phát hiện.

Bất cứ khi nào các học giả VN phải đối diện với những ý tưởng khác biệt với những điều được xem là chính thống ở VN, là họ lại đưa ra nhận xét rằng điều đó “không có gì mới”.

Gần đây hình như tôi đã viết về điều đó ở trên blog này khi tôi nói về những nhận xét của DTQ về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức. Nhưng những nhận xét tương tự như vậy tôi cũng được nghe mỗi khi tôi nêu ra một điều gì, hoặc bất kỳ ai khác có nêu ra một điều gì không giống với những điều mà hệ thống chấp nhận.

Ok, so if “Không có gì mới” is a way to critique scholarship, then it must mean that there is scholarship in Vietnam that is truly “mới” (new). So where is that scholarship? Who are the Vietnamese scholars who are producing scholarship that is considered “mới”? What are the titles of these works? I honestly have no idea what is being produced that is considered “mới.”

OK, nếu nhận xét “không có gì mới” là một cách đưa ra lời phê bình về mặt học thuật, thì những người đưa ra lời phê bình ấy chắc phải có hàm ý rằng ở VN có những điều thực sự mới mẻ về mặt học thuật. Vậy, điều mới mẻ về mặt học thuật ấy ở đâu? Những học giả VN đã đưa ra những điều mới mẻ về mặt học thuật ấy là ai thế? Tên các tác phẩm của họ là gì? Vì quả thật tôi không hề biết đến những tác phẩm đã được viết ra và đáng được xem là “mới” này.

And what is it that makes this scholarship “mới”? Is it cutting-edge scholarship that is creating a new way of viewing the past, like Indian scholars did with the field of subaltern studies? If so, what are the arguments of this cutting-edge “mới” scholarship that Vietnamese scholars are producing?

Mà điều gì đã làm cho những tác phẩm này được xem là “mới” nhỉ? Phải chăng đó là các tác phẩm đã sử dụng những phương pháp hiện đại để tạo ra một cách nhìn mới về quá khứ, như những học giả Ấn Độ đã làm khi nghiên cứu “giai cấp cùng đinh”*? Nếu vậy, những lập luận mà các học giả VN đã tạo ra từ những phương pháp hiện đại mới mẻ này là gì thế?

*Ghi chú của người dịch: “subaltern studies” là một thuật ngữ của ngành lịch sử/nhân học/văn hóa học, không rõ được dịch ra tiếng Việt là gì, người dịch không phải chuyên ngành nên dịch tạm vậy, ai có nghề xin sửa giúp nhé. Có thể tham khảo ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Subaltern_(postcolonialism)

In saying “Không có gì mới,” do Vietnamese scholars think that they are equal participants in the world of global scholarship (and therefore can evaluate scholarship in that context)? If so, what works have they produced that stand side-by-side with the works that have been produced in other countries in the past several decades? What gives a Vietnamese scholar the right to criticize another work by saying “Không có gì mới”?

Khi đưa ra nhận xét “không có gì mới”, phải chăng các học giả VN nghĩ rằng họ là những thành viên bình đẳng của thế giới học thuật toàn cầu (và trong bối cảnh ấy họ có thể đưa ra nhận xét về giá trị học thuật của các tác phẩm của người khác)? Nếu vậy, những tác phẩm nào của họ có thể đưa ra để so sánh với những tác phẩm đã được viết ra tại các quốc gia khác trong nhiều thập kỷ vừa qua? Điều gì đã cho phép một học giả VN cái quyền phê phán tác phẩm của người khác bằng nhận xét “không có gì mới”?

Is there a valid scholarly reason why I keep hearing this critique? Or is this just an emotional response that is uttered out of a sense of inferiority? If it is the former, then demonstrate the scholarship that defends such a comment (who has produced scholarship that rivals what Huy Đức has done, for instance?). If it is the latter, then people should stop criticizing the work of others and get to work to produce scholarship that is truly “mới.” That is something that everyone will benefit from.

Có lý do chính đáng nào (về mặt học thuật) khiến tôi cứ phải nghe mãi lời nhận xét này không? Hay đó chỉ là một phản ứng cảm tính được thốt ra trong tâm trạng mặc cảm? Nếu quả thật là có lý do thì xin hãy chỉ ra những chứng cứ khoa học cho thấy nhận xét ấy là đúng (ví dụ, đã có ai viết ra được cái gì có thể xem là “cạnh tranh” được với HĐ hay không?) Còn nếu đó là do mặc cảm, thì mọi người hãy dừng lại đừng chỉ phê phán người khác như thế mà hãy lo đi nghiên cứu để tạo ra những gì thực sự là “mới” đi. Như thế thì được cả đôi bên đấy!

As far as I can tell, saying “Không có gì mới” is just a way to justify to oneself the mediocrity of the present. But there is no justification for mediocrity, because excellence is always attainable.

Theo như tôi biết thì lời nhận xét “không có gì mới” chẳng qua chỉ là một cách để các học giả VN tự biện hộ cho sự tầm thường hiện có của mình mà thôi. Nhưng thực ra chẳng có cách nào biện hộ cho sự tầm thường được, vì không có gì có thể cản trở chúng ta đạt đến đỉnh cao.

[Vũ Thị Phương Anh dịch]

Nguồn bản dịch 2:

http://bloganhvu.blogspot.com/2013/04/duoi-mat-hoc-gia-nuoc-ngoai-loi-bien-ho.html

Advertisements

(Với một số trường hợp) lịch sử Việt Nam chắc chắn vẫn chưa chết

30 Apr

VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP) LỊCH SỬ VIỆT NAM CHẮC CHẮN VẪN CHƯA CHẾT
By Le Minh Khai
Tôi biết rằng một số người cảm thấy thất vọng với một số phê phán tôi đưa ra ở blog này (ví như lời tuyên bố rằng sử học Việt Nam đã chết). Tuy nhiên tôi tin tưởng vào những gì tôi nói. Nếu có điều gì cần phê phán, tôi sẽ làm điều đó. Nếu điều gì xứng đáng được ngợi ca, tôi sẽ làm điều đó.
Mọt vài ngày trước đây, một bạn đọc rất lâu của blog này đã gợi ý cho tôi về cuốn sách mới của Huy Đức, tựa đề Bên Thắng Cuộc. Anh ta nói với tôi rằng “từ một số tiêu chí nào đó, nó là cuốn sách lịch sử quan trọng nhất trong vài thập kỷ trở lại đây”. 
Bên thắng cuộc đề cập đến giai đoạn từ 1975 đến 2005. Tôi chắc chắn không nhận mình là chuyên gia của giai đoạn này và tôi rất tò mò đề xem các chuyên gia sẽ đánh giá cuốn sách này như thế nào?
Tuy nhiên, tôi nghĩ là tôi có thể nhận ra các công trình học thuật tốt khi tôi nhận ra nó. Cụ thể, tôi rất ấn tượng với các thông tin chi tiết được đề cập trong công trinh này, với cách thức mà các thông tin này được dẫn giải một cách rõ ràng và với giọng kể trung lập (khách quan). 
Đây là một công trình rất quan trọng. Tôi nghĩ chúng ta đang dần dần được thấy nhiều hơn sự trung thực và các công trình có tính khám phá/ gợi mở từ các tác giả Việt Nam (như là công trình về cải cách ruộng đất trong những năm 1950s ở miền Bắc). Công trình này là sự kết hợp của sự trung thực và tính nghiêm cẩn của học thuật. 
Chắc chắn sẽ là một điều tuyệt vời khi thấy cuốn sách như thế được xuất bản. Tôi nghĩ những người những người tạo điều kiện cho cuốn sách được xuất bản xứng đáng được ghi nhận. Nhưng tất nhiên và trước hết, tác giả của nó xứng đáng được vinh danh vì đã tạo ra một công trình sử học vững chắc. 
Tôi ít khi quảng bá cho bất cứ thứ gì ở blog này nhưng cuốn sách nói trên là một ngoại lệ. Dành cho những ai quan tâm, nó đây link, trang Facebook của cuốn sách và địa chỉ để mua nó: link. 
Và vì thế, có thể một số công trình học thuật của sử học Việt Nam chắc chắn là chưa chết … Nhưng đối với (các chủ để như) Hùng vương và hàng nghìn năm “chống lại xâm lược ngoại bang”… Đó là một câu chuyện khác… Nhưng tạm thời hãy để những những điều này qua một bên và chào đón thành tựu tuyệt vời của Huy Đức. Rất giỏi! Hy vọng tiếp theo sau sẽ có thêm các công trình tương tự. (Vũ Đức Liêm dịch)

Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen15581885

Ngô Thì Sĩ và thời viễn cổ

28 Apr

Ngô Thì Sĩ và thời viễn cổ

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Gần đây, tôi đọc được một đoạn văn trong một văn bản địa dư Việt Nam thế kỉ XIX, cuốn Lê triu cng pháp 黎朝貢法 (kí hiệu A.53 [Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam], tờ 1b-2a). Đây là một văn bản được cho là bản nhuận sắc một công trình địa dư do học giả-quan chức Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV khởi thảo. Điều khiến tôi rất chú ý là đoạn văn, được gắn vào trong văn bản, là của học giả thế kỉ XVIII, ông Ngô Thì Sĩ. Văn bản này trích lời Ngô Thì Sĩ viết như sau:

自寅會生人之後,人種既繁,必有出類而君長之。起自人皇,以至神農,蓋世論十紀中之第九禪通也,悠悠南服,有山川必有人物,況神農時所云,南撫交趾,固已別成一國,豈應至神農四世為疏仡紀,而涇陽王為首出之帝王。

“Từ hội Dần sau khi người được sinh ra, giống người đã đông, ắt có kẻ xuất chúng xuất hiện để cai trị người khác. Bắt đầu từ Nhân hoàng, cho đến Thần Nông, luận trong 10 kỉ đó thì nhân vật cái thế là Thiền Thông ở đời thứ 9. Dằng dặc một vùng phía Nam, có núi sông ắt có nhân vật. Huống chi thời Thần Nông có câu “phía Nam vỗ về Giao Chỉ”, như thế thì [Giao Chỉ] trở thành riêng một nước, há phải đợi đến cháu bốn đời của Thần Nông ở Sơ Ngật kỉ, mà Kinh Dương Vương mới thành đế vương đầu tiên [của phương Nam]?” [chúng tôi tạm dịch từ nguyên bản Hán văn – HQV]

Điều đầu tiên khiến tôi ngạc nghiên về đoạn văn này là: Ngô Thì Sĩ đã dùng những khái niệm để chỉ các giai đoạn mà tôi thấy khá xa lạ. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến cái gọi là “hội Dần”, “Thiền Thông kỉ”, hay “Sơ Ngật kỉ”. Hoá ra, việc dẫn khái niệm “hội” có vẻ bắt nguồn từ đoạn mở đầu của một cuốn tiểu thuyết, cuốn Tây du kí. Tác phẩm mở đầu như thế này:

蓋聞天地之數,有十二萬九千六百歲為一元。將一元分為十二會,乃子、丑、寅、

卯、辰、巳、午、未、申、酉、戌、亥之十二支也。每會該一萬八百歲。

 

“Từng nghe, số của trời đất, thì 129.600 năm tạo thành một “nguyên”. Đem 1 nguyên chia làm 12 hội, tức là 12 chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi hội là 10.800 năm” [Tác giả dẫn bản dịch tiếng Anh trên mạng trong tài liệu Adapted from the WJF Jenner translation (Beijing, 1955) by Collinson Fair. Copyright 2005, Silk Pagoda; ở đây chúng tôi tạm dịch nguyên bản Hán văn để người đọc dễ hình dung hơn – HQV].

Dù thế nào, đây cũng là nơi duy nhất tôi tìm thấy các khái niệm này này.

Còn với “Thiền Thông kỉ” và “Sơ Ngật kỉ”, các khái niệm này không xuất hiện trong các sách sử chính thức về các triều đại. Tuy nhiên, thông tin này rõ ràng nằm trong cuốn Tư trị thông giám ngoại kỉ (Zizhi tongjian waiji 資治通鑒外記) của Lưu Nhự 劉恕 (1032-1078), trong đó thời kì mà ngày nay chúng ta coi là thời huyền sử Trung Hoa cổ được chia rõ thành 10 kỉ. Làm thế nào Lưu biết được thông tin ông viết, sau hàng ngàn năm, theo dự đoán của ai đó,…

Tuy nhiên, điều thú vị ở đây là Ngô Thì Sĩ lập luận rằng vị “hoàng đế” đầu tiên xuất hiện ở “phương Nam” hẳn phải làm như vậy (hay có thể dễ dàng làm như vậy) sớm hơn điều các sách sử Việt Nam khẳng định. Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên ở thế kỉ XV đã chép rằng hậu duệ đời thứ 4 của Thần Nông là Kinh Dương Vương đã được giao quyền cai trị một vương quốc ở phương Nam từ cha của ông, Đế Minh – một hình tượng cũng không được nhắc đến trong sử lịch chính thức về các triều đại Trung Hoa nhưng cũng xuất hiện trong cuốn Tư trị thông giám ngoại kỉ ở thế kỉ XI. Hơn nữa, Kinh Dương Vương không được đề cập đến như một “hoàng đế” trong cuốn sách đó hoặc một cuốn nào khác mà tôi được biết.

Ngô Thì Sĩ chỉ ra luận điểm này bằng cách khẳng định rằng ở thời Thần Nông người ta đã nói rằng “phía Nam vỗ về Giao Chỉ” (南撫交趾), và rằng điều này có nghĩa Giao Chỉ đã là một vương quốc, và điều đó cho thấy nó hẳn phải có một “hoàng đế”. “Giao Chỉ” là một khái niệm cổ nhất dùng để chỉ vùng đất phía Nam xa xôi trong hình dung của Trung Hoa về thế giới. Sẽ là không rõ ràng nếu nó chỉ một khu vực mà ngày nay thuộc Việt Nam, mà trên thực tế nó có xu hướng gắn với vùng đất hiện diện trong tâm thức của cả người Trung Hoa và Việt Nam [tức được cả hai bên coi là của mình – HQV]. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ biểu ngữ “nam vỗ về Giao Chỉ” được ghi chép trong các cuốn sách như Sử kí của Tư Mã Thiên là để chỉ Đế Thuấn, người được cho là sống sau Thần Nông.

Ngô Thì Sĩ chắc cũng biết rằng biểu ngữ này chỉ các hoạt động của Thuấn, và chắc ông cũng biết rằng không ai từng đề cập đến Kinh Dương Vương như là một vị hoàng đế. Vậy ông đã làm gì ở đây? Có vẻ như rõ ràng là ông đang cố gắng đẩy những cội nguồn của một vương quốc ở vùng này lùi thêm về quá khứ. Thật thú vị khi thấy rằng ông đang dựa trên cái mà chúng ta có thể gọi là các nguồn tài liệu “phi chủ lưu” hoặc “thứ cấp” để làm việc đó. Tuy nhiên, nhu cầu đẩy những cội nguồn của một vương quốc lùi về 4 thế hệ là để làm gì? Và khi đã nắm chắc biểu ngữ “nam vỗ về Giao Chỉ” nổi tiếng thế nào, tức nó được dùng để chỉ vua Thuấn [chứ không phải Thần Nông], thì ai sẽ tin ông?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2010/04/04/ngo-thi-si-and-distant-antiquity/#comment-3414

Ông Trọng đích thực

28 Apr

Ông Trọng đích thực

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Hơn một năm trước, tôi đã post một entry về “sự phát minh ra Lý Ông Trọng”, trong đó tôi lập luận rằng không có chứng cứ cho thấy có một người với cái tên như thế sống ở đồng bằng Sông Hồng vào thế kỉ III trước Công nguyên và đã lên đường đánh quân Hung Nô cho Tần Thuỷ Hoàng Đế. Tôi cho rằng thay vì điều đó, một vị quan nhà Đường có tên là Triệu Xương đã “nhập khẩu” câu chuyện này vào khu vực và dùng nó để tạo ra câu chuyện về một vị thần bản địa.

Tôi vẫn tin rằng câu chuyện về Lý Ông Trọng này là một phát minh. Tuy nhiên, gần đây tôi phát hiện một số thông tin cho thấy rằng từng có một người có tên là Ông Trọng có liên hệ với đồng bằng Sông Hồng.

“Ông Trọng” thật là một vị quan thời Hán có tên là Diêu Tuấn. Tên chữ của ông là Wengzhong (tức Ông Trọng). Vốn xuất thân từ khu vực ngày nay là tỉnh Triết Giang, ông làm quan ở Giao Chỉ trong những năm cai trị cuối cùng của nhà Hán. Một lúc nào đó trong khoảng triều Hán đổ, Wengzhong thôi chức và đi vào trong vùng núi non để theo một Đạo sĩ.

Có thể vì hành động ấy mà Diêu Tuấn không được nhắc đến trong các sách sử chính thức của triều đình. Tuy nhiên, câu chuyện về ông được ghi chép trong các nguồn khác. Tôi tìm thấy một chỉ dẫn về Diêu Tuấn trong cuốn Bách Việt tiên hiền chí của Âu Đại Nhậm (thế kỉ XVI, quyển 4, tờ 8b).

Âu Đại Nhậm đã trích dẫn nguồn tin về Diêu Tuấn 姚俊 từ các cuốn Tính viên 姓園 thế kỉ V của He Chengtian (?) và cuốn Liệt tiên truyện của Cát Hồng. Tuy nhiên, phiên bản gốc cuốn sách nổi tiếng ở thế kỉ IV của Cát Hồng không hề có Diêu Tuấn, vì vậy có lẽ ông được đưa vào ở những phiên bản sau.

Trong thời Đường, hình tượng này được đề cập bởi hai học giả-quan chức bị biếm xuống phương Nam, Thẩm Thuyên Kì và Liễu Tông Nguyên.

Ở hoặc cuối thế kỉ VII hoặc đầu thế kỉ VIII, khi Thẩm Thuyên Kì ở đồng bằng sông Hồng trên đường biếm trích xuống khu vực ngày nay là Bắc Trung Bộ Việt Nam, ông đã làm 1 bài thơ trong đó có liên thơ sau: “Uý Đà đã từng cai trị một vương quốc/ Ông Trọng chơi suối khe đã lâu” [尉佗曾馭國/翁仲久游泉] [渡安海入龍編].

Trong khi đó, ở đầu thế kỉ IX, khi Liễu Tông Nguyên đang hướng tới sự biếm trích lần 2, ông đã bắt đầu trong một bài thơ ông làm cho một người bạn trong khi họ đang cùng nhau ở Hành Dương, nơi này nay thuộc tỉnh Hồ Nam, với liên sau: “Con đường xưa cũ của Phục Ba nằm giữa khói và gió/ Dấu tích của Ông Trọng bị san bằng dưới cỏ cây” [伏波故道風煙在/翁仲遺墟草樹平] [衡陽與夢得分路贈別].

“Uý Đà” tức Triệu Đà, một quan chức Trung Hoa đã tự lập ra một vương quốc riêng nằm ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông vào khoảng cuối thế kỉ III trước Công nguyên, trong khi “Phục Ba” là muốn nói về Mã Viện, một vị tướng Trung Hoa danh tiếng, người đã dập tắt cuộc nổi dậy của chị em họ Trưng vào thế kỉ I sau Công Nguyên.

Vậy là trong thời Đường, Wengzhong là một hình tượng được liên hệ với phương Nam, nhưng không có gì trong các chỉ dẫn này gợi ý rằng ông là người xuất thân từ nơi đây và đã đi lên phương Bắc để bảo vệ lãnh thổ chống lại quân Hung Nô. Thay vào đó, những chỉ dẫn này dẫn tới một vị quan nhà Hán người đã thôi chức và bỏ đi để trở thành một Đạo sĩ.

Triệu Xương, người làm quan ở đồng bằng sông Hồng và cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, có vẻ như đã nắm lấy Wengzhong/Ông Trọng này và tạo ra một câu chuyện mới về ông. Sẽ là không rõ ràng nếu người dân thời đó đang thờ một Ông Trọng thật hoặc Triệu Xương đơn thuần sử dụng cái tên đó bởi hứng thú riêng, vì câu chuyện được tạo ra về Lý Ông Trọng không có liên hệ gì với Đạo sĩ trước đó.

Rồi trong khi tạo ra một hành trạng mới cho Wengzhong/Ông Trọng, Triệu Xương đã không phát minh ra toàn bộ những thông tin mới. Thay vào đó, ông tìm thấy cảm hứng từ một đoạn văn về một kiểu “Wengzhong/Ông Trọng” khác, tức là, những pho tượng người. “Wengzhong/Ông Trọng” là một cái tên đặt cho các pho tượng bảo vệ mộ phần. Nó cũng là cái tên của một pho tượng đặc biệt mà rõ ràng nhà Tần đã đúc.

Có một chỉ dẫn trong cuốn Hoài Nam tử, một văn bản triết học đại khái xuất hiện vào thế kỉ II trước Công nguyên, về việc nhà Tần đã đúc các bức tượng đồng. Trong lời bình luận sách Hoài Nam tử, một học giả ở đầu thế kỉ III, Cao Dụ, lí giải rằng, “trong năm thứ 26 đời Tần Thuỷ Hoàng đế, khi toàn Thiên hạ đã được bình định, có một người khổng lồ xuất hiện ở Lâm Thao. Ông ta cao 5 trượng và bàn chân ông dài 8 tấc. Vì vậy, một bức tranh về ông được vẽ và một bức tượng kim loại giống ông được đúc. Đây chính là wengzhong (tức Ông Trọng).

Đoạn văn này hiển nhiên tương ứng với đoạn văn chép trong Việt điện u linh rằng: “Khi Tần Thuỷ Hoàng đế bình định Thiên hạ, ông ta đã sai [Ông Trọng] lãnh đạo quân lính giữ Lâm Thao và khiến Hung Nô sợ hãi.”

Nói cách khác, trong khi từng có một vị quan thời Hán ở đồng bằng sông Hồng có tên là Ông Trọng, người đã thôi chức và bỏ đi làm Đạo sĩ, ông quan thời Đường là Triệu Xương đã tạo ra một câu chuyện mới về hình tượng này lấy cảm hứng từ một “ông trọng” khác.

Điều quan trọng cần lưu ý là Lý Ông Trọng mới này là một phát minh. Không hề có một người nào như thế từng tồn tại. Tuy nhiên, ông ta rốt cuộc được thu nạp vào Đại Việt sử kí toàn thư, rồi từ đó đến nay trở thành một phần của “lịch sử Việt Nam”.

Tôi đã đề cập trong một entry trước đây rằng câu chuyện về ông cũng được ghi chép trong các tác phẩm Trung Hoa. Tôi vốn nghĩ rằng điều này cho thấy câu chuyện ban đầu được sáng tạo ở Trung Hoa và rồi Triệu Xương đã dùng nó để tạo ra một câu chuyện mới dành cho một vị thần bản địa ở đồng bằng sông Hồng.

Nay tôi nhận ra rằng Triệu Xương có lẽ đã tự tạo ra câu chuyện này, và rằng nó được đưa vào các nguồn văn bản Trung Hoa sau này. Các nguồn văn bản Trung Hoa đề cập đến ông là Ruan Wengzhong (Nguyễn Ông Trọng). Trong thời Lý, Nguyễn là từ thay thế cho chữ huý Lý. Vì vậy, việc hình tượng này được đề cập trong các văn bản Trung Hoa với họ Nguyễn có lẽ là một dấu hiệu cho thấy câu chuyện đã được thu lượm ở thời Lý bởi một tác giả Trung Hoa nào đó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2011/11/07/the-real-ong-tr%E1%BB%8Dng/

Truyện kể truyền miệng mang tính khoa học và Văn học rẻ mạt

27 Apr

Scientific Oral Tales and Cheap Literature

by leminhkhai on Le Minh Khai’s SEAsian History Blog

Một khía cạnh của lịch sử Việt Nam rất có vấn đề là thực tế rằng có những nguồn tư liệu chứa thông tin về các sự kiện được giả định là đã từng diễn ra từ hàng thế kỉ trước đó.

Một ví dụ cho điều này là câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, cặp vợ chồng được cho là đã sống ở thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên, hoặc có thể thậm chí là sớm hơn. Song, các thông tin thành văn về việc này mà chúng ta có về họ thì chỉ có niên đại từ thế kỉ XV.

Như chúng ta biết, chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ xuất hiện lần đầu tiên trong Lĩnh Nam chích quái liệt truyện. Cuốn sách này được biên soạn năm 1489, nhưng trong đó có thể có cả những tư liệu được viết từ sớm hơn. Tuy nhiên, chẳng có gì để chắc chắn rằng bất kì phần nào của văn bản này đã được viết từ hơn 2000 năm trước! Nếu vậy thì chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ từ đâu mà ra?

Các học giả Việt Nam có một câu trả lời đơn giản cho câu hỏi ấy – câu chuyện đã được “nhân dân” truyền miệng.

Giới nghiên cứu Việt Nam vẫn nói mãi về tầm quan trọng của một thứ học thuật “mang tính khoa học” (scientific), và chẳng có gì không khoa học hơn nổi câu trả lời đơn giản trên. Trần Quốc Vượng đã có lần cố gắng đưa ra một cơ sở khoa học cho cái quan điểm không khoa học này khi ông viết rằng: “Một quy luật của tâm lý học là cái gì cần quên thì đã quên rồi, cái gì truyền thuyết dân gian còn nhớ, thì đó là kỷ niệm sâu sắc.” (Trần Quốc Vượng, “Về danh hiệu ‘Hùng Vương,’” trong: Hùng Vương dựng nước, tập III (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1973), tr.354.) [“A law of psychology is that the things which should be forgotten are all forgotten, and that which is remembered in the legends of the people is a deep memory.”]

Cả đời tôi, tôi không thể suy nghĩ ra nổi rằng “cái qui luật của tâm lí học” mà ông ấy chỉ đến là cái gì. Thế nên, có thể rằng nó là một trong những cái “cần quên” đi.

Để công bằng, đây là một vấn đề mà các học giả phương Tây thực sự chỉ đã đi đến nhận thức ra trong những thập kỉ gần đây, và trước thời điểm đó, họ cũng đã tin rằng nếu không có bất kì bằng chứng mang tính vật chất từ thời kì sớm hơn làm nền tảng của một câu chuyện được biết sau đó thì việc đó chính là “minh chứng” chỉ ra rằng câu chuyện đó đã được truyền miệng lại. Vâng, đúng là có một vài tầm nhìn đi trước thời đại một cách lẻ loi trước kia, chẳng hạn như học giả người Czech (Séc) tên là Albert Wesselski – người đã cố gắng chứng tỏ rằng vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX, một số truyện kể dân gian Đức nào đó đã thực sự dựa trên những văn bản sớm hơn. Nhưng đó là một thời điểm không thuận lợi cho các ý tưởng của Wesselski, và Nazis (người thuộc Đảng quốc xã Đức –NS chú thích) đã thành công trong việc không để cho ý tưởng này được phổ biến.

Những bước tiến to lớn đã đi cùng sự ra đời của các thư mục thư viện điện tử và sau đó là sự phát triển của Internet. Công nghệ này đã cho phép các học giả có thể nhìn thấy hàng tấn “tiểu thuyết bột vụn”[1] trong các thư viện của châu Âu, và thứ “văn học rẻ mạt” (cheap literature) này đã làm sáng tỏ rằng những câu chuyện đã được hình thành và được truyền bá phổ biến ra sao.

Điều mà những người đi nghiên cứu “các câu chuyện truyền miệng” (oral tales) hiện nay nhận ra là, vâng, có thể có một hai người nông dân đã tạo ra vài phần câu chuyện, là thứ mà một người có học hành nào đó sau đó đã nghe được, rồi viết ra. Thế nhưng, một lượng rất lớn “các câu chuyện truyền miệng” là được tạo ra bởi những người biết chữ và chúng được lưu truyền nhờ các văn bản được in ấn.

Điều mà cái phát hiện về tất cả chuyện “văn học rẻ mạt” ở các thư viện châu Âu hé mở với chúng ta là đã có nhiều chuyện in ấn trong quá khứ hơn mọi người trước đây từng nghĩ, và nhiều phần của việc in ấn đó là ở chất lượng thấp, chẳng hạn như một cuốn sách nhỏ chỉ vài trang với một hoặc hai câu chuyện được ghi trong đó.

Nói cách khác, thay vì bắt đầu với “dân gian,” các câu chuyện đã được sáng tạo bởi những người biết chữ/có học và được phổ biến đi bằng in ấn, và chỉ ở một thời điểm nhất định khá muộn mằn sau này chúng thỉnh thoảng mới được truyền miệng đến những người nông dân không biết chữ.

Việc in ấn ở Việt Nam trong quá khứ là vô cùng hạn chế. Tuy nhiên, không có lí do gì để tin rằng những văn bản viết tay đã không lưu hành và không được sao qua chép lại. Trong thực tế, những người làm việc ở một kho lưu trữ nào đó ở Việt Nam hiện nay đang bắt đầu rượt qua một vài tài liệu “rẻ mạt” mà họ đã sưu tầm được hàng thập kỉ trước, những tài liệu đã ở đó, không được ai nhòm ngó tới, không được lên thư mục, chỉ vì có người đã nói, chúng “không có giá trị lắm.”

Đó là điều mà các thủ thư ở châu Âu có thể đã nghĩ về những cuốn sách nhỏ đang dần mục nát phân rã trong các bộ sưu tầm của họ trước kia. Bây giờ những “tác phẩm rẻ mạt” lại đang để chỉ ra những sai lầm của các giải thích “mang tính khoa học” về “những truyện kể truyền miệng.” Đó là giá trị thật sự!

——————————————————————————–
[1] Tiểu thuyết bột vụn: Dịch từ chữ “pulp fiction” — tiểu thuyết viết về các chủ đề gây sốc hoặc nhạy cảm, thường được in trên những loại giấy ráp và có chất lượng kém, loại giấy được làm từ bột gỗ. (fiction dealing with lurid or sensational subjects, often printed on rough, low-quality paper manufactured from wood pulp.)

Nguồn: http://lichsuhoc.wordpress.com

Xác cáo, Hồ Tây và cư dân không thuần nhất của Việt Nam thời trung đại

27 Apr

Bản dịch 1:

Xác cáo, Hồ Tây, và Dân số không thuần nhất thời Việt Nam trung đại

From LMK’s blog

Lĩnh Nam chích quái liệt truyện là một hợp tập các truyện kể ngắn được soạn vào thế kỉ 15 (cho dù vài phần nội dung của nó có thể đã được soạn sớm hơn trước đó). Ngày nay, các học giả Việt Nam biện luận rằng cuốn sách này chứa nhiều câu chuyện mà “nhân dân” đã lưu truyền lại qua hàng thế kỉ. Vì thế, họ nhìn hợp tập này như bằng chứng của thời cổ xưa của “đất nước Việt Nam” (Vietnamese nation). Thế nhưng khi ai đó đọc Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, anh ta có thể thấy rõ ràng không phải như vậy.

Chúng ta có thể kiểm chứng vấn đề này khi nhìn vào một trong những câu chuyện trong hợp tập này, chẳng hạn “Truyện Hồ tinh” [狐精傳, “The Story of the Fox Essence”].

昇龍之城,昔號龍編地,上古無人居焉。李朝太祖泛舟珥河津,有雙龍引舟,因名焉,而都之,即今之京華城也。 Thăng Long chi thành, tích hiệu Long Biên thành, thượng cổ vô nhân cư yên. Lí triều Thái Tổ phiếm chu Nhị Hà tân, hữu song long dẫn chu, nhân danh yên, nhi đô chi, tức kim chi kinh hoa thành dã.
初,城之西有小石山,東枕蘇瀝江,山下之穴,有白狐九尾,壽千餘年,能化為妖怪,變化萬端。或為人為鬼,遍行民間。時傘圓山下,蠻人架木結草為屋。山有神靈異,蠻人奉事之。常教蠻人耕織,作白衣 衣之,因名曰白衣蠻。 Sơ, thành chi tây hữu tiểu thạch sơn, đông chẩm Tô Lịch giang, sơn hạ chi huyệt, hữu bạch hồ cửu vĩ, thọ thiên dư niên, năng hóa vi yêu quái, biến hóa vạn đoan. Hoặc vi nhân vi quỉ, biến hành dân gian. Thời Tản Viên sơn hạ, man nhân giá mộc kết thảo vi ốc. Sơn hữu thần linh dị, man nhân phụng sự chi. Thời giáo man nhân canh chức, tác bạch y ý chi, nhân dan viết bạch y man.
九尾狐化為白衣人,入蠻眾中,與同歌唱,誘取蠻人男女,藏於小石岩穴。蠻人苦之。龍君遂遣水府六部眾引水而上,攻破小石岩穴。九尾狐走之,水府部逐之,破穴,獲狐啗之。其破處成深淵,今呼為狐屍潭(即今之西湖也)。 Cửu vĩ hồ hóa vi bạch y nhân, nhập man chúng trung, dữ đồng ca xướng, dụ thủ man nhân nam nữ, tàng ư tiểu thạch nham huyệt. Man nhân khổ chi. Long quân toại khiển thủy phủ lục bộ chúng dẫn thủy nhi thượng, công phá tiểu thạch nham huyệt. Cửu vĩ hồ tẩu chi, thủy phủ bộ trục chi, phá huyệt, hoạch hồ đạm chi. Kì phá xứ thành thâm uyên, kim hô vi Hồ Thi đàm (tức kim chi Tây Hồ dã).
遂立祠觀(今金牛寺),以鎮壓其妖。 Toại lập từ quán (kim Kim Ngưu tự), dĩ trấn áp kì yêu.
湖之西岸,原野平地,民田而耕,今呼為狐洞。土地高爽,民屋而居,今呼為狐村。其狐穴,今呼為魯卻村。 Hồ chi tây ngạn, nguyên dã bình địa, dân điền nhi canh, kim hô vi Hồ động. Thổ địa cao sảng, dân ốc nhi cư, kim hô vi Hồ thôn. Kì hồ huyệt, kim hô vi Lỗ Khước thôn.

The citadel of Thăng Long [lit., “rising dragon”] was formerly called the land of Long Biên. In antiquity no one resided there. Then when Lý Thái Tổ sailed in a boat to the Nhị River crossing, there was a pair of dragons who led the boat. He therefore named it thus [i.e., Thăng Long], and made it the capital. Today it is the capital citadel.

Earlier, to the west of the citadel was a small stone mountain, and to the east it was cushioned by the Tô Lịch River. In a cavern below the mountain there was a white fox with nine tails which was over 1,000 years old. It could transform into a monster and change in myriad ways. It could become a person or a ghost and would move about among the people. At that time, below Mount Tản Viên savages made houses of wood frames and grass. There was a spirit which was numinous and the savages worshipped it. The spirit had long taught the savages to cultivate and weave. It made white robes and clothed them. They were therefore called the “White-Robed Savages.”

The nine-tailed fox transformed into a white-robed person and went amongst the savages. Together with them it sang songs and seduced savage men and women, and then hid them in its small stone cavern. The savages suffered from this. Dragon Lord then dispatched a group from the Six Boards of the Water Palace to draw water upward to attack and smash the small stone cavern. The nine-tailed fox fled. [The group from the Six] Boards of the Water Palace pursued it, destroyed the cavern, and captured and ate the fox. The destroyed area became a deep reservoir. Now it is called “Fox Corpse Pool” (this is the current West Lake). They then erected a shrine (current Kim Ngưu Temple) to suppress the monstrousness [of the nine-tailed fox]. On the western shore of the lake is an open flat area. People have fields which they cultivate. Now this is called Fox Grotto. Where the land is high and pleasing, people have houses where they live. This is now called Fox Village. As for the fox’s cavern, it is now called Lỗ Khước Village.

Thành Thăng Long [nghĩa đen: Rồng bay lên] xưa gọi là đất Long Biên, thời thượng cổ không có người sống ở đó. [Vua] Thái Tổ triều Lí ngồi thuyền đến bến Nhị Hà, có hai con rồng dẫn thuyền, nên đặt tên đó, mà đóng đô đất này, tức kinh thành ngày nay vậy.

Thuở đầu, phía tây thành có một núi đá nhỏ, đông gối đầu sông Tô Lịch, cái hang dưới núi có cáo trắng chín đuôi (白狐九尾 bạch hồ cửu vĩ), sống lâu hơn nghìn tuổi, biết hóa thành yêu quái, biến hóa trăm đường, lúc làm người lúc làm quỉ, lưu chuyển khắp trong dân gian. Bấy giờ dưới núi Tản Viên, người man dựng cây kết cỏ làm nhà. Núi có thần linh dị, người man phụng thờ thần này. [Thần] từng dạy người man cày cấy dệt vải. [Thần] làm áo trắng mặc cho [người man], nhân đó gọi là người man áo trắng.

Cáo chín đuôi hóa làm người áo trắng, đi vào trong dân man, cùng họ ca hát, dụ bắt con trai con gái người man, giấu ở cái hang trong núi đá nhỏ. Người man khổ vì chuyện đó. Vua Rồng (Long quân) bèn sai quân Sáu bộ Thủy phủ dẫn nước mà dâng lên, đánh phá hang trong núi đá nhỏ. Cáo chín đuôi chạy trốn quân Thủy phủ, quân Thủy phủ đuổi theo cáo chín đuôi, phá hang đá, bắt cáo nhắm thịt. Nơi bị phá thành vực sâu, nay gọi là đầm Hồ Thi [đầm Xác Cáo; 狐屍潭 Hồ Thi Đầm] (tức Tây Hồ [西湖] ngày nay). [Dân] bèn lập đền quán (nay là chùa Kim Ngưu/Trâu vàng) để trấn áp yêu khí của nó. Bờ tây của hồ, [chỗ] đất phẳng bằng, dân làm ruộng mà cày, nay gọi là động Hồ [Hồ Động 狐洞]; [chỗ] đất cao thoáng, dân làm nhà mà ở, nay gọi là thôn Hồ [Hồ Thôn 狐村]. Cái hang cáo [hồ huyệt 狐穴] nay gọi là thôn Lỗ Khước [Lỗ Khước Thôn 魯卻村].

Thảo luận:
Câu chuyện này về một tinh cáo hay “a fox essence” [狐精 hồ tinh], một thuật ngữ mà có lúc được dịch là “fox spirit.” Con cáo kiểu này có thể được thấy trong những truyện kể ở khắp nơi trên thế giới, nhưng câu chuyện ở đây rõ ràng được lấy cảm hứng từ hàng núi chuyện về cáo trong truyền thống văn học Trung Quốc. Đề cập đến cáo chín đuôi sống thọ nghìn tuổi là một chứng dẫn rõ ràng rằng tác giả của mẩu chuyện này đã chịu ảnh hưởng bởi những câu chuyện về cáo của Trung Quốc. Vì thế, rõ ràng câu chuyện này không phải là chuyện do “nhân dân/dân chúng,” mà do một người có học hành về chữ Hán [tạo ra].

Phần kết của câu chuyện càng làm rõ điểm này hơn. Cơ bản, các địa danh ở cuối câu chuyện đều can hệ với chữ Hán để chỉ “cáo” (hồ/ hu 狐), một từ mà một trí thức Việt Nam thời đó hẳn đã biết được nhờ đọc các văn bản chữ Hán và đã đọc từ đó là “hồ.” Tôi đã dịch nghĩa vài trong số những thuật ngữ của văn bản trên, nhưng nếu chúng ta nhìn vào cách các chữ gốc được phát âm như thế nào, chúng ta có thể nhìn cách chơi chữ ở truyện kể này [but if we look at how the original characters are pronounced, we can see the play on words which is at work in this story].

Fox Corpse Pool = Hồ Thây Đầm 狐屍潭 (đầm xác cáo)

West Lake = Hồ Tây trong tiếng Việt, nhưng khi ở tiếng Hán thì viết đảo ngược lại, tức Tây Hồ 西湖.

Fox Grotto = Hồ Động 狐洞 (động cáo)

Fox Village = Hồ Thôn 狐村 (thôn cáo)

Tôi đoán là “Động Cáo” và “Thôn Cáo” vốn gốc chỉ cái như là “Động Hồ” và “Thôn Hồ,” và người ta đã không biết nghĩa “hồ” là gì. Một vài người có học hành vốn quen thuộc với những địa danh này sau đó đã tạo ra câu chuyện kể này, một câu chuyện gắn chữ “hồ” trong hai địa danh này với chữ Hán để chỉ “cái hồ nước” (hồ) trong từ “Hồ Tây” và sau đó đã tạo ra một câu chuyện về cáo để gắn tất cả những tên này với nhau bởi vì 1) chữ Hán để chỉ con cáo (hồ) có âm đọc giống hệt chữ Hán để chỉ cái hồ nước (hồ) và các tên của cái hang và cái thôn trong câu chuyện (cả hai đều là “hồ”), và 2) tác giả của câu chuyện hẳn đã đọc rất nhiều chuyện về cáo của Trung Quốc. Cuối cùng, câu chuyện này đã dẫn đến một “hồ thây” (xác cáo), một thuật ngữ về âm đọc rất gần với từ “Hồ Tây.) [Xin được lưu ý rằng: chỉ có một tên riêng trong câu chuyện mà không có nghĩa là Thôn Lỗ Khước, nhưng trong những bản khác nó là “Hồ Lỗ” 狐魯 hoặc Lỗ Hồ魯狐, và với cái này thì chúng mang nghĩ chỉ cái gì đó như là “lỗ cáo,” vì “lỗ” nghĩa là một cái hố trong tiếng Việt và “hồ” trong tiếng Hán nghĩa là “cáo.”

Nói cách khác, chỉ một vài người có học hành có thể hiểu được câu chuyện, nên nó không phải là một câu chuyện của “nhân dân.” Nội dung của nó cũng chỉ ra những sự chia biệt giữa các cư dân trên đồng bằng châu thổ sông Hồng khi đó. Nói đến “những người man” (savages) xung quanh núi Tản Việt là một ví dụ như vậy. Nói đến một cái “hang/động” ở gần Hồ Tây là một ví dụ khác. Từ “động” trong là một từ mà người Hán đã tạo ra để chỉ những đơn vị hành chính ở các vùng biên giới – nơi quản lĩnh bởi những người “không phải người Hán.” Việc đã có một cái động gần Hồ tây có thể là do thực tế rằng cái tên đã được đặt ra trong suốt thời kì người Trung Quốc cai trị và tiếp tục được sử dụng sau đó, hoặc nó có thể vì những người có học Việt Nam lúc đó đã đặt ra nó vì những người sống ở khu vực này được nhìn theo cách nào đó như là những người lạ.

Còn nhiều điều hơn để nói về câu chuyện này, nhưng điểm mà tôi muốn đặt ra ở đây chỉ đơn giản là xin được ghi chú rằng: 1) đây là một câu chuyện của những người có học (người bác học), và 2) nó chỉ ra những sự chia biệt giữa những dân cư trên đồng bằng sông Hồng. Nói cách khác, nó không phải là một câu chuyện được truyền lại từ xa xưa bởi “nhân dân/dân chúng,” bởi vì không có cái gọi là “người dân” (the people) [của một quốc gia] đã từng tồn tại [vào thời điểm đó].

Nguồn: http://lichsuhoc.wordpress.com

Bản dịch 2:

Xác cáo, Hồ Tây, và cư dân không thuần nhất của Việt Nam thời trung đại

By Le Minh Khai

Tập Lĩnh Nam chích quái liệt truyện là một tuyển tập các câu chuyện ngắn được soạn vào thế kỉ XV (mặc dù một số nội dung của nó có thể được phác thảo lần đầu sớm hơn thế). Các học giả Việt Nam ngày nay cho rằng nó chứa đựng những câu chuyện mà “nhân dân” đã truyền nhau qua nhiều thế kỉ. Vì vậy họ xem sách này là bằng chứng về thời cổ xưa của “đất nước Việt Nam”. Tuy nhiên, khi người ta đọc Chích quái, rõ ràng đây không phải là sự thật.

Chúng ta hãy kiểm tra vấn đề này bằng cách xem xét một trong các câu truyện của tập sách này, “Truyện tinh cáo” (狐精傳).

昇龍之城,昔號龍編地,上古無人居焉。李朝太祖泛舟珥河津,有雙龍引舟,因名焉,而都之,即今之京華城也。初,城之西有小石山,東枕蘇瀝江,山下之穴,有白狐九尾,壽千餘年,能化為妖怪,變化萬端。或為人為鬼,遍行民間。時傘圓山下,蠻人架木結草為屋。山有神靈異,蠻人奉事之。常教蠻人耕織,作白衣衣之,因名曰白衣蠻。九尾狐化為白衣人,入蠻眾中,與同歌唱,誘取蠻人男女,藏於小石岩穴。蠻人苦之。龍君遂遣水府六部眾引水而上,攻破小石岩穴。九尾狐走之,水府部逐之,破穴,獲狐啗之。其破處成深淵,今呼為狐屍潭(即今之西湖也)。遂立祠觀(今金牛寺),以鎮壓其妖。湖之西岸,原野平地,民田而耕,今呼為狐洞。土地高爽,民屋而居,今呼為狐村。其狐穴,今呼為魯卻村。

[Dịch]

“Thành Thăng Long xưa hiệu là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lý chèo thuyền ở bến sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long [có nghĩa là rồng bay lên] rồi đóng đô ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy. Xưa ở phía tây thành có hòn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (mán áo trắng). Con cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám dân Mán cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là “đầm xác cáo” (tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu Tự) để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ Động (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở nay gọi là Hồ Thôn (thôn Cáo). Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn” [bản dịch: http://vi.wikisource.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i/Truy%E1%BB%87n_H%E1%BB%93_tinh – HQV]

Thảo luận

Truyện này kể về một con cáo thành tinh (狐精), một khái niệm đôi khi được dịch là “thần cáo”. Ta có thể thấy con cáo xuất hiện trong các truyện ngụ ngôn trên toàn thế giới, nhưng truyện này rõ ràng được gợi ý từ một lượng lớn các truyện về cáo trong truyền thống văn chương Trung Hoa. Sự đề câp đến một con cáo chín đuôi, hơn một nghìn tuổi đều là những chỉ dấu rõ ràng cho thấy tác giả đoạn này chịu ảnh hưởng bởi các truyện Trung Hoa. Vì vậy, rõ ràng câu chuyện này không phải là truyện của “nhân dân” mà từ một cá nhân có học ở Trung Hoa.

Kết thúc câu chuyện khiến luận điểm này còn rõ ràng hơn. Về bản chất, những địa danh ở cuối truyện đều liên hệ với một từ Hán là “cáo” (hu 狐), một từ mà một người Việt Nam biết chữ lúc bấy giờ hẳn biết khi đọc các văn bản Trung Hoa và hẳn phát âm là “hồ”. Tôi đã dịch nghĩa của một số khái niệm như thế trong văn bản trên, nhưng nếu chúng ta xem xét cách phát âm các từ trong nguyên bản, chúng ta có thể thấy trò chơi ngôn từ thể hiện rõ trong truyện này.

Hồ Xác Cáo = Hồ Thây Đầm [狐屍潭 – cách đọc Hán Việt: Hồ Thi đàm – HQV]

Hồ Tây = Hồ Tây trong tiếng Việt, nhưng viết bằng chữ Hán thì có trật tự ngược lại [Tây Hồ 西湖].

Động Cáo = Hồ Động 狐洞

Làng Cáo = Hồ Thôn 狐村

Tôi đoán rằng “Động Cáo” và “Làng Cáo” vốn để chỉ “Động Hồ” và “Làng Hồ”, và rằng người ta không hiểu nghĩa của chữ “Hồ”. Một học giả nào đó quen thuộc với những địa danh này đã sáng tạo ra câu chuyện trong đó kết nối “hồ” trong hai địa danh đó với khái niệm Hán là “hồ” chỉ “hồ nước” mà chúng ta thấy trong khái niệm “Hồ Tây” và rồi sáng tạo ra một câu chuyện về cáo để kết nối toàn bộ các tên với nhau, bời vì: 1) từ Hán chỉ “cáo” (hồ) đồng âm với từ Hán khác chỉ “hồ nước” (hồ) cũng như các tên chỉ động và làng (đều là hồ), và 2) ông ta đã đọc nhiều câu chuyện cáo của Trung Hoa. Cuối cùng, câu chuyện của ông ta dẫn đến một “xác cáo” (Hồ Thây), một khái niệm nghe gần y hệt như là Hồ Tây). [Lưu ý: một cái tên trong câu chuyện này không tạo ấn tượng gì là Làng Lỗ Khước, nhưng trong một dị bản khác nó là Hồ Lỗ 狐魯 hoặc Lỗ Hồ 魯狐, có thể gợi ra cái nghĩa nào đó tương tự như là “hố cáo” khi “lỗ” có nghĩa là “hố” hoặc “hốc” trong tiếng Việt và “hồ” là từ Hán để chỉ “cáo”].

Nói khác đi, chỉ ai đó biết chữ mới có thể hiểu được câu chuyện này, vì vậy nó không phải là một câu chuyện của “nhân dân”. Nội dung của nó cũng chỉ ra những sự chia cắt giữa các cư dân của đồng bằng sông Hồng lúc bấy giờ. Sự đề cập đến “Man nhân” xung quanh núi Tản Viên là một ví dụ về điều này. Sự đề cập đến một “động” gần Hồ Tây là một ví dụ khác. Khái niệm “động” là một khái niệm mà người Hán sáng tạo ra để chỉ những đơn vị hành chính nằm ở những khu vực biên giới được cai trị bởi những người phi Hán. Việc có một động ở gần Hồ Tây có thể tương ứng với một sự thực là cái tên được thiết lập trong thời kì người Hán cai trị và vẫn tiếp tục được sử dụng sau đó, hoặc có thể bởi vì giới tinh hoa người Việt lúc bấy giờ đã thiết lập ra nó bởi những người sống ở khu vực đó được xem như là một cái gì đó xa lạ.

Còn nhiều thứ hơn nữa cần được bàn bạc qua truyện này, nhưng luận điểm mà tôi muốn đưa ra ở đây sẽ đơn giản là lưu ý rằng: 1) nó là một câu chuyện của giới tinh hoa, và 2) nó chỉ ra sự chia cách giữa các nhóm cư dân ở đồng bằng sông Hồng. Nói khác đi, nó không phải là một câu chuyện được lưu truyền bởi “nhân dân”, bởi vì “nhân dân” (theo số ít) không hề tồn tại.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2010/08/13/a-fox-corpse-west-lake-and-the-divided-population-of-medieval-vietnam/

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Những người man ở núi Tản Viên

27 Apr

Núi Tản Viên được nhiều người ngày nay coi là một nơi thiêng liêng của người Việt Nam suốt từ thời viễn cổ. Những câu chuyện về linh thần núi Tản Viên có thể được tìm thấy trong những văn bản thời kì sớm của Việt Nam, và chúng chứa đựng các thông tin về ngọn núi này đi cùng những liên hệ đến các vua Hùng – người được giả định là đã cai trị [ở vùng đất này] trong năm trước Công nguyên. Mỗi liên hệ giữa người Việt Nam và ngọn núi này vì thế có vẻ như có nguồn gốc cổ xưa.

Tuy nhiên, có những vấn đề với bức tranh thời viễn cổ giả định về mối quan hệ giữa người Việt Nam và núi Tản Viên. Thứ nhất là các nhà ngôn ngữ học tin rằng người Việt Nam (ở đây tôi muốn chỉ những người đã nói những phiên bản sớm của thứ ngôn ngữ mà chúng ta ngày nay gọi là tiếng Việt) đã có nguồn gốc từ một nơi nào đó trong khu vực mà ngày nay là miền trung Việt Nam và phần miền đông của Lào. Trong thời kì trước Công nguyên, phần lớn đồng bằng sông Hồng đã là nơi sinh sống của những người “không phải là Việt Nam,” chẳng hạn như những người nói các ngôn ngữ Tai và Kadai.

Vì thế, trước khi người Việt Nam tiếp xúc với núi Tản Viên, họ hẳn cần phải đã làm quen với những người khác rồi. Đó là bao lâu để người Việt Nam bắt đầu coi trọng ngọn núi này trong những tín ngưỡng của họ và để họ sau đó thay thế vị trí của những cư dân đã sống ở vùng đất này trước họ?

Nếu bạn bỏ qua những câu chuyện về núi Tản Viên và các vua Hùng ở phần đầu của Đại Việt sử kí toàn thư và đi tìm kiếm những tham chiếu lịch sử có thật cho ngọn núi này trong cuốn sử đó, bạn sẽ tìm thấy những thông tin dưới đây:

1) Năm 1073 đã có mưa liên tục, nên hoàng đế Lí Nhân Tông sai người rước một tượng Phật từ chùa Pháp Vân về kinh thành để ông ấy có thể có được uy lực cầu khấn cho trời tạnh. Ông ấy đã sai làm những lễ vật để dâng cúng ở núi Tản Viên.

2) Năm 1129, có người tâu với Hoàng đế Lí Thần Tông rằng có một con hươu trắng trên núi Tản Viên và hoàng đế đã phái người đi bắt nó. Cũng quan trọng như voi trắng trong thế giới Burmese-Tai, nó có vẻ như là con hươu trắng này đã được xem là một dấu hiệu của quyền lực. Tuy nhiên, con hươu trăng (hay sự xuất hiện của nó trên núi Tản Viên) có thể cũng được coi như có liên quan đến mưa bởi vì ngay trước đoạn chép này trong Đại Việt sử kí toàn thư, có một đoạn ghi rằng hoàng đế đã ăn chay và cầu mưa, nên rõ ràng là lúc đó đang thiếu mưa.

3) Vào năm 1145, một ngôi đền [thờ phụng] linh thần được dựng trên núi Tản Viên.

Cho nên, vào cuối thế kỷ thứ 11, chúng ta thấy một người cai trị Việt Nam hạ lệnh đem lễ vật cúng ở núi Tản Viên và việc đó có liên hệ với mưa. Hơn 70 năm sau, một vị vua khác cũng đã hạ lệnh để xây dựng một ngôi đền trên ngọn núi này.

Có thể đã có một đền thờ trên ngọn núi này từ trước thời điểm đó. Nhưng nếu đã có một đền như thế, văn bản này có thể sẽ nói rằng hoàng đế đã ra lệnh trùng tu đền thờ, vì trùng tu một đền thờ là một hoạt động rất phổ biến. Tuy nhiên, chúng ta không thể chắc chắn theo giả định trước hay giả định sau. Dù sao, điều đáng kể là những ghi chép này chứng tỏ rằng đến thời điểm đó thì người Việt Nam đã tôn kính linh thần của núi Tản Viên.

Một điểm khác đáng nói là sau những ghi chép này về núi Tản Viên trong Đại Việt sử kí toàn thư chúng ta thấy những tham chiếu khác liên hệ với núi Tản Viên, những ghi chép chỉ người “man” (savages) đã sống xung quanh ngọn núi. Năm 1207, những người man trong núi Tản Viên (sơn man 山蠻) đã đi cướp, và năm 1226 họ đã đánh nhau với những người man lân cận.

Thông tin này trong Đại Việt sử kí toàn thư chắc chắn không dẫn người ta đến nhìn nhận rằng có vẻ như người Việt nam đã sùng bái núi Tản Viên từ thượng cổ xa xưa. Ngược lại, những ghi chép như thế đã khiến câu chuyện như là việc sùng bái núi Tản Viên chỉ đang bắt đầu từ khoảng thế kỉ 10 và11.

Liệu rằng những câu chuyện về núi Tản Viên và các vua Hùng chỉ là – “những câu chuyện kể”?

Nguồn: http://lichsuhoc.wordpress.com

%d bloggers like this: