Bản sắc và Identity

18 Apr

Bản sắc và Identity

Le Minh Khai
Bản dịch 1:
Người dịch: Hà Hữu Nga
Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan – quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra nhằm thúc đẩy học thuật phát triển.
Bất cứ ai đã học một thứ tiếng nước ngoài nào thì cũng đều biết rằng không phải lúc nào ngôn ngữ này cũng có những từ tương đương chính xác trong một ngôn ngữ khác, chính vì vậy mà nhiều thứ có thể “mất đi khi dịch”. Trong tiếng Việt và tiếng Hán có một thuật ngữ đặc biệt có vấn đề, đó là thuật ngữ dân tộc/民 族. Thuật ngữ này do người Nhật tạo ra từ cuối thế kỷ XIX, và sau đó đã được người Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận để dịch từ nationality và nation – hai thuật ngữ sau này đã thay đổi nghĩa trong các ngôn ngữ phương Tây. Kết quả là ngày nay rất khó có thể coi dân tộc và nation là tương đồng nghĩa.
Trong khi lâu nay tôi đã vật lộn với vấn đề về tính bất tương đồng của hai thuật ngữ dân tộc vànation thì tôi cũng nhận thấy rằng trong tiếng Việt có một thuật ngữ khác thường đi thành cặp với từ dân tộc, là từ bản sắc cũng rất có vấn đề.
Bản sắc là một thuật ngữ bắt đầu trở nên thông dụng ở Việt Nam trong mấy thập kỷ qua, để dịch thuật ngữ identity. Rõ ràng là thuật ngữ này bắt đầu thông dụng khi trí thức Việt Nam ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với học giới phương Tây kể từ sau chính sách Đổi Mới, và rõ ràng đã có những cuộc tranh luận về việc dịch thuật ngữ này. Tôi chưa đọc bất cứ thảo luận thực sự nào về vấn đề này, vì vậy tôi không dám chắc những từ nào khác được dùng thay thế cho thuật ngữ bản sắc (có lẽ là căn cước). Dù sao thì hiện nay bản sắc đã được sử dụng rất rộng rãi.
Dựa theo một cuốn từ điển tiếng Việt mà tôi có từ năm 1996 thì nghĩa cơ bản của bản sắc là “màu sắc”, nhưng nó còn có nghĩa là “một tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính”. Và cuốn từ điển đưa ra một ví dụ: bản sắc dân tộc. (Bản sắc d. Màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính. Bản sắc dân tộc).
Bản sắc kiểu đó không có gì giống với identity. Về một số phương diện, khái niệm đó lại gần gũi với những điều ngược lại khi các học giả phương Tây nói về identity.
Bản sắc như thế thuộc về một cái gì đó hiện thực mà người ta có thể đồng nhất cùng. Nhưngidentity thì lại là một cái gì đó mà người ta NGHĨ hoặc TƯỞNG TƯỢNG là có thực. Nó không tồn tại trong thực tế mà nó được tạo dựng, tưởng tượng và/hoặc hư cấu nên.
Chẳng hạn người Mỹ NGHĨ rằng họ là một hợp quần xiển dương và thúc đẩy tự do. Khi còn nhỏ họ được học điều đó trong nhà trường, và chính phủ của họ cũng thường xuyên dựng đặt quan điểm đó. Trong một số trường hợp điều đó là đúng, nhưng trong những trường hợp khác thì lại không phải như vậy.
Trong những năm 1980, nước Mỹ ủng hộ mạnh mẽ Iraq do Saddam Hussein cai trị. Chẳng có mấy chút tự do ở Iraq trong thời gian đó, và Mỹ cũng chẳng làm gì để thúc đẩy tự do ở Iraq lúc đó. Chính phủ Mỹ vui vẻ hỗ trợ kẻ độc tài Saddam Hussein, vì ông ta chống lại một đất nước được coi là kẻ thù của Mỹ là Iran. Vì vậy hành vi của chính phủ Mỹ lúc đó không hề ăn nhập gì với cái identity dân tộc của nó cả. Lúc đó nước Mỹ đưa hàng ngàn binh lính đến Nam Hàn để bảo vệ tự do của nó, và điều đó thích hợp với cái identity dân tộc kia.
Vậy thì identity là một cái gì đó được tạo dựng và được tưởng tượng ra. Nếu người Mỹ không được dạy dỗ ở tiểu học và trung học mà chính phủ Mỹ vẫn nhắc nhở rằng mình là một dân tộc thúc đẩy tự do thì liệu người Mỹ có thực sự nghĩ như vậy không? Chắc là không.
Công bằng mà nói thì do người ta tin là có identity nên chắc chắn nó phải là một cái gì đó có thật, và hàng ngàn lính Mỹ tại Nam Hàn đã chứng tỏ điều mà người Mỹ tin rằng họ là dân tộc thúc đẩy tự do. Tuy nhiên vì nó là một cái gì đó được tạo dựng và được tưởng tượng ra nên nhiều điều về nó là không thật, và điều đó đã được thể hiện rõ tại Iraq vào những năm 1980, khi người Mỹ vui lòng cung cấp vũ khí cho kẻ độc tài đủ để ông ta có thể chống lại Iran, và cũng đủ để chặn đứng nhân dân Iraq của ông ta có được tự do.
Khi các học giả phương Tây viết về bản sắc dân tộc thì họ tập trung vào một thực tế đó là một cái gì đó được “tạo dựng” hoặc “tưởng tượng” nên. Họ cố gắng hiểu xem ai hoặc cái gì là những lực lượng hoặc sức mạnh đứng đàng sau sự nỗ lực này để tạo dựng nên bản sắc đó, và tại sao họ lại làm điều đó, hoặc tại sao người dân lại có nhu cầu tự tưởng tượng mình theo một cách thức như vậy.
Tại Việt Nam ngày nay, nhà nước đang hết sức, cũng như trong nhiều thập kỷ nay, mong làm cho người dân suy nghĩ và sống bằng những cung cách mà nhà nước bằng lòng. Trong những năm gần đây, nhà nước đã sử dụng chính thuật ngữ bản sắc dân tộc để làm như vậy. Vì thuật ngữ này được nhà nước Việt Nam sử dụng nên nó không thuộc loại bản sắc mà các học giả phương Tây hiểu và sử dụng, nhưng với tư cách là “các đặc điểm thật của dân tộc” thì đó chính là những gì mà các từ này thể hiện theo nghĩa đen. Nhà nước Việt Nam muốn nhân dân tin rằng (và trong một nhà nước như vậy thì có lẽ người dân cũng tin chắc như vậy) thật sự tồn tại những đặc điểm ấy và có thể được xác nhận là bản sắc dân tộc.
Khi nỗ lực cổ vũ cho ý tưởng bản sắc dân tộc, nhà nước Việt Nam đang thực sự hỗ trợ để tạo ra một bản sắc dân tộc, giống hệt như lúc nào chính phủ Mỹ cũng nói về việc thúc đẩy tự do theo đúng cung cách như vậy. Có những người Việt Nam TIN rằng Việt Nam là một dân tộc có những “đặc điểm thực sự” nào đó hệt như những người Mỹ TIN rằng nước Mỹ là một dân tộc thúc đẩy tự do. Tuy nhiên nếu các học giả Việt Nam xem xét vẫn đề này một cách xát xao, giống như các học giả Mỹ đã làm đối với xã hội của mình, thì chắc họ sẽ nhận thấy rằng giống như bất cứ nỗ lực nào nhằm tạo dựng một bản sắc dân tộc trên thế giới, thì “những đặc điểm có thật” này cũng chứa đựng đầy các mâu thuẫn và thực sự không “có thật”.
Tuy nhiên vấn đề lại là ở chỗ tôi chưa hề thấy học giả Việt Nam nào làm như vậy khi họ không có một thuật ngữ nào có thể thay cho khái niệm “bản sắc”. Bản sắc dân tộc không có nghĩa làidentity. Nó cố gắng để quy về cái gì đó là “thật”. Bản sắc chỉ là một cái gì đó mà người ta “nghĩ” ra. Có lẽ thuật ngữ “khái niệm bản sắc dân tộc” sẽ chính xác hơn, vì bản sắc chỉ là một niềm tin hoặc một cách nhận thức.
Tôi biết người Trung Quốc thể hiện khái niệm bản sắc là “nhận thức hoặc đồng nhất với vị thế/vị trí nào đó” (身份認同- thân phần nhận đồng). Đó là một cụm từ rắc rối, nhưng nó còn có nghĩa hơn nhiều so với khái niệm bản sắc khi nó nói đến việc thừa nhận/đồng nhất. Vì vậy, tuy rắc rối hơn, nhưng việc họ mô tả cái gọi bản sắc dân tộc bằng cụm từ 國家身份認同– quốc gia thân phần nhận đồng) thì lại có thể hiểu được.
Bằng cụm từ đó, người Trung Quốc có thể chuyển tải được khái niệm bản sắc và bản sắc dân tộc theo nghĩa phương Tây của từ identity. Trong khi đó người Việt không thể làm được như vậy với cụm từ bản sắc dân tộc.
Tôi thực sự thấy toàn bộ vấn đề này rất hấp dẫn và điển hình cho những nỗ lực liên tục tại Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Một nguyên do chủ yếu trả lời câu hỏi tại sao nhà nước Việt Nam lại ra sức thúc đẩy ý tưởng bản sắc dân tộc chính là vì họ sợ toàn cầu hóa. Trong khi đó các trí thức Việt Nam lại chưa thể tìm được từ nào khả dĩ để dịch khái niệm identity của phương Tây. Theo lẽ thường tình, tôi cho rằng chính giới trí thức mới cần phải trăn trở về điều này chứ không phải là nhà nước.
Nguồn: leminhkhai.wordpress.com/22 June, 2010.
Nguồn tải bản dịch:
Bản dịch 2:
Bản Sắc and Identity
Bất cứ ai đã học một thứ tiếng nước ngoài đều biết rằng từ ngữ trong một thứ tiếng này không luôn luôn có một từ tương đương chính xác ở một thứ tiếng khác, và vì thế chúng có thể bị “mất mát rất nhiều khi bị dịch.” Một thuật ngữ rất có vấn đề trong tiếng Việt và tiếng Trung Quốc là dân tộc/ 民族. Thuật ngữ này vốn do người Nhật Bản đặt ra vào cuối thế kỉ 19 (và sau đó được người Trung Quốc và Việt Nam áp dụng) để dịch các từ “nationality” và “nation,” những thuật ngữ sau đó tiếp tục có những biến động về nghĩa trong các thứ tiếng phương Tây. Hệ quả là ngày nay đã có rất nhiều điểm không thể tạo thành tương đương (incommensurability) về nghĩa giữa thuật ngữ “nation” và “dân tộc.”

Trong khi tôi đã trăn trở rất nhiều với vấn đề về sự thiếu tương đương giữa thuật ngữ “nation” và “dân tộc,” tôi sau đó đã nhận ra rằng một thuật ngữ khác trong tiếng Việt, một thuật ngữ thường được đi cặp với thuật ngữ dân tộc, cũng rất có vấn đề. Thuật ngữ đó là “bản sắc.”

Bản sắc là một từ mà người Việt Nam trong vài thập kỉ qua cho đến nay đã dùng để dịch thuật ngữ “identity.” Có lẽ là cách dùng từ này đã được bắt đầu khi các trí thức Việt Nam tiếp xúc nhiều hơn với học thuật phương Tây trong những năm từ sau Đổi Mới, và có lẽ là trước đây đã có tranh luận về việc dịch thuật ngữ này như thế nào. Tôi chưa từng đọc bất kì cái gì trong những thảo luận về chuyện đó, vì vậy tôi không chắc rằng có cách dịch nào khác cho “identity” từng được áp dụng không (chẳng hạn, có thể là từ “căn cước”). Dù sao, đến hiện nay, từ bản sắc đã và đang được sử dụng vô cùng phổ biến.

Theo một cuốn từ điển tiếng Việt mà tôi có in năm 1996, ý nghĩa cơ bản của bản sắc là “màu sắc” (color), nhưng nó cũng có nghĩa là “một tính chất riêng tạo thành một đặc điểm chính” (a separate property which produces a main characteristic.) Và sau đó cuốn từ điển đưa ra ví dụ là “bản sắc dân tộc.”

Cách hiểu này là KHÔNG giống như identity. Theo một vài cách nào đó, nó thực sự gần với các điều ngược lại của cái mà các học giả phương Tây đang dùng để chỉ khi họ nói về identity.

Bản sắc liên quan đến một cái gì đó có thực và có thể nhận diện được bởi bất kì ai đó. “Identity“, ngược lại, là cái gì đó mà mọi người NGHĨ ra hoặc TƯỞNG TƯỢNG rằng đó là cái có thật CỦA CHÍNH NÓ. Nó không tồn tại trong chính nó, mà là được chế dựng ra, được tưởng tượng ra và/hoặc được tạo tác ra.

Chẳng hạn, người Mỹ NGHĨ RẰNG họ là dân tộc (a people) luôn đề cao và thúc đẩy Tự Do (freedom). Họ được dạy điều này trong các trường học từ khi họ là bé, và chính phủ của họ cũng thường xuyên chủ xướng luận điểm này. Theo một vài lẽ, điều này là đúng, nhưng trong một số lẽ khác, nó lại không phải như vậy.

Trong những năm 1980, nước Mỹ là một người ủng hộ mạnh mẽ của Iraq – lúc đó nước này đang do Saddam Hussein cầm quyền. Đã không nhiều nhặn tự do gì tại Iraq vào thời điểm đó, và nước Mỹ đã không làm bất cứ điều gì để thúc đẩy tự do tại Iraq vào thời điểm đó. Chính phủ Mỹ đã vui vẻ ủng hộ nhà độc tài Saddam Hussein, vì ông này đang đánh nhau chống lại một đất nước được coi là một kẻ thù của Mỹ, tức nước Iran. Vì vậy, hành vi của chính phủ Mỹ vào thời điểm đó không sát hợp với national identity (bản sắc dân tộc!?) của nước này. Cùng lúc đó, nước Mỹ đã có hàng ngàn quân ở Nam Hàn để bảo vệ tự do của đất nước này, và điều này là sát hợp với national identity (bản sắc dân tộc!?) của nước Mỹ.

Vì vậy, một identity là cái gì đó được chế dựng và được tưởng tượng ra. Nếu người Mỹ đã không được dạy trong các trường tiểu học, trường trung học và đã chính phủ của họ đã không thường xuyên nhắc nhở họ về việc phải thúc đẩy tự do, liệu họ có thực sự nghĩ/tư duy như thế? Cơ bản có lẽ là không.

Nói cho công bằng, khi mọi người tin vào một identity, phải có một vài cái thật về nó, và chuyện hàng nghìn quân của Mỹ ở Nam Hàn đã cung cấp một bằng chứng như thế cho trường hợp cái niềm tin của người Mỹ rằng họ là một dân tộc (a people) đang thúc đẩy tự do. Tuy nhiên, bởi vì identity là cái gì đó được chế xây và được tưởng tượng ra, nên cũng có nhiều phần về nó không phải là sự thật, và điều đó rõ ràng ở Iraq trong những năm 80 của thế kỉ XX, khi nước Mỹ vui vẻ cung cấp vũ khí cho một kẻ độc tài Iraq để ông ta có thể đánh nhau được với Iran, và cũng để ngăn cản những người dân của Iraq được tự do.

Khi các học giả phương Tây viết về national identity họ tập trung chú ý đến thực tế là nó là cái gì “được chế dựng ra” hoặc “được tưởng tượng ra.” Họ cố gắng hiểu xem ai hoặc lực lượng nào là đứng đằng sau cái cố gắng để chế dựng ra cái identity này, và tại sao họ làm như vậy, hoặc tại sao người ta cảm thấy cần thiết phải tưởng tượng rằng họ là như thế.

Hiện nay ở Việt Nam, cũng như họ đã làm như vậy trong mấy thập kỉ trở lại đây, chính phủ đang bằng mọi cách một cách cần mẫn để khiến người dân (people) suy nghĩ/tư duy và sống theo những cách mà chính phủ này tán đồng. Trong những năm gần đây, chính phủ này đã và đang sử dụng thuật ngữ bản sắc dân tộc để làm điều đó. Theo cách thuật ngữ này được sử dụng bởi chính phủ ở Việt Nam, thì nó không để chỉ đến một cái “identity” như cách các học giả phương Tây hiểu và sử dụng thuật ngữ đó. Thay vào đó, chính phủ Việt Nam sử dụng từ bản sắc dân tộc với nghĩa “những đặc điểm có thật của dân tộc này” (the true characteristics of the nation) – mà đây là cái mà nghĩa đen của từ này thì không biểu thị. Chính phủ Việt Nam muốn người dân tin (và những người trong chính phủ có thể chính họ thật sự tin như thế) rằng có những đặc điểm có thật – cái đã tồn tại và cái có thể được nhận diện ra – để tạo nên (make up) bản sắc dân tộc.

Trong việc thúc đẩy ý tưởng bản sắc dân tộc, chính phủ Việt Nam thực sự đang góp phần để tạo ra một national identity, cũng như mỗi khi chính phủ Hoa Kỳ nói về việc thúc đẩy tự do, chính phủ ấy cũng làm như thế. Có những người ở Việt Nam TIN RẰNG người Việt Nam như một dân tộc (a people) có chung những “đặc điểm/ đặc tính có thực,” cũng giống như có những người Mỹ TIN RẰNG người Mỹ là một dân tộc (a people) thúc đẩy tự do. Tuy nhiên, nếu các học giả Việt Nam đã xem xét vấn đề này một cách cẩn mật như những học giả Mỹ đã làm về trường hợp của xã hội của họ, thì các học giả Việt Nam sẽ thấy rằng, giống như mọi nỗ lực để xây dựng một national identity trên toàn thế giới, các “đặc điểm thực chất” này chất chứa đầy mâu thuẫn và chúng không thực sự “có thật.”

Tuy nhiên, vấn đề là tôi không thấy được rằng bằng cách nào để các học giả Việt có thể sẽ làm được điều này khi họ không có một thuật ngữ để chỉ khái niệm “identity.” Bản sắc dân tộc không mang nghĩa “identity.” Nó cố gắng để chỉ đến một cái gì đó “có thực.” Một identity chỉ là cái gì đó mà người ta “nghĩ ra/nghĩ đến/nghĩ về.” Một thuật ngữ tốt hơn ở Việt Nam có thể sẽ là “khái niệm bản sắc dân tộc” bởi vì một identity là một niềm tin/tín niệm hoặc một nhận thức.

Tôi biết rằng cách người Trung Quốc biểu đạt khái niệm identity là “cái công nhận/ nhận diện về tình trạng/vị trí của nó” (身份認同). Khái niệm theo cách này là có vấn đề, nhưng nó có ý nghĩa nhiều hơn so với từ bản sắc bởi vì identity có liên quan đến sự công nhận/ nhận dạng. Thuật ngữ để chỉ national identity vì thế được người Trung Quốc dùng với nghĩa “ cho bản sắc dân tộc sau đó được “cái công nhận/ nhận diện về tình trạng/vị trí của quốc gia/dân tộc” (國家身份認同). Cái thuật ngữ này thậm chí còn có vấn đề hơn, nhưng một lần nữa, nó có thể lĩnh hội được.

Với những cách biểu đạt này, người Trung Quốc có thể truyền tải các khái niệm về “identity” và “national identity.” Người Việt Nam thì không thể làm điều đó với cụm từ bản sắc dân tộc. Họ cũng có thể không thể hiểu được những điều các học giả phương Tây đã nói trong hàng thập kỉ nay nếu họ nghĩ rằng “identity” tức là bản sắc dân tộc.

Thực tế, tôi thấy toàn bộ vấn đề này hấp dẫn và có ý nghĩa phần nhiều ở thứ đã diễn tiến ở Việt Nam trong hai thập kỉ qua. Một trong những lí do chính tại sao chính phủ Việt Nam đang thúc đẩy ý tưởng bản sắc dân tộc là bởi vì họ sợ những thế lực của cái toàn cầu hóa. Trong khi đó, các trí thức Việt Nam không thể tìm thấy một cách hiệu quả để chuyển dịch cái khái niệm phương Tây về một “identity.” Vậy nên, tôi nghĩ đó phải là vấn đề để những người trí thức người lo lắng suy nghĩ, mà không phải là vấn đề của chính phủ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: