Lập luận của Trần Quốc Vượng về danh xưng “Khun”: Tại sao học thuật Việt Nam không tiến bộ

18 Apr

Luận cứ Khun của Trần Quốc Vượng: Tại sao học thuật Việt Nam không tiến bộ?

Bản dịch 1: 
Luận cứ Khun của Trần Quốc Vượng: Tại sao học thuật
Việt Nam không tiến bộ?
 Le Minh Khai
Người dịch: Hà Hữu Nga
Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam; đề cập đến các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa hàng đầu của Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan – quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra nhằm thúc đẩy học thuật phát triển.
Trong một bài viết có nhan đề Về Danh Hiệu ‘Hùng Vương in trong Hùng Vương Dựng Nước, Tập III, (tập này xuất bản năm 1973, nhưng bài viết đã được trình bày tại Hội nghị vào cuối những năm 1960), Trần Quốc Vượng cho rằng “Hùng” có lẽ là một âm cổ để gọi một thủ lĩnh quốc gia, dân tộc. Tương tự như vậy ông cho rằng thuật ngữ “khun” cũng được các tộc người nói ngôn ngữ Mon-Khmer và Tày Thái sử dụng.
Trần Quốc Vượng còn cho rằng từ đó có mối liên hệ với từ “khunzt” trong ngôn ngữ Mundari. Mundari là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á mà chủ nhân của nó là những tộc người hiện sống ở Bắc Ấn, Bangladesh và Nepal, gọi chung là người Munda.
Sau đó Trần Quốc Vượng sử dụng thông tin này để chứng tỏ rằng vào thời “Hùng vương dựng nước” đã có mối quan hệ gần gũi giữa những tộc người nói các ngôn ngữ Nam Á và Tày Thái.
Ở đây xuất hiện nhiều vấn đề với luận cứ ngôn ngữ học của Trần Quốc Vượng, mà tôi sẽ quay trở lại bên dưới. Tuy nhiên suy cho cùng thì bài viết này không phải nói về ngôn ngữ học, mà về việc tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc dưới dạng một nghiên cứu học thuật. Điều Trần Quốc Vượng muốn chứng tỏ là nhiều tộc người khác nhau sống trong nhà nước dân tộc hiện đại Việt Nam đã có quan hệ gần gũi, thân thiện, hợp tác ngay từ buổi ban đầu.
Năm 1983, Keith Taylor dẫn bài này của Trần Quốc Vượng khi ông viết trong cuốn The Birth of Vietnam như sau: “Theo một nghiên cứu mới đây của người Việt thì cái tên Hùng có nguồn gốc từ một danh hiệu thủ lĩnh thuộc các nhóm tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á vẫn còn được duy trì cho đến tận ngày nay trong các tộc người nói ngôn ngữ Mon-Khmer sống ở các vùng núi Đông Nam Á, cũng như ở người Mường, một ngôn ngữ chị em miền núi của tiếng Việt; danh hiệu đó còn thấy ở người Munda, bắc Ấn Độ, là những nhóm nói các ngôn ngữ ở vùng cực tây của ngữ hệ Austrasiatic.
Taylor đã bỏ qua các ngôn ngữ Tày Thái, có lẽ vì sứ mệnh của ông trong cuốn sách này là chứng tỏ rằng có một tuyến kết nối trực tiếp giữa người Việt thuộc thời “Hùng Vương” với những người xuất hiện “độc lập” trong thế kỷ 10 với “sự ra đời của nước Việt Nam”. Taylor không quan tâm gì đến các tộc người không-phải-Kinh. Ông chỉ đơn giản muốn chứng minh rằng người Kinh đã có ngôn ngữ và văn hóa riêng trước thời Bắc thuộc, và họ vẫn kiên trì tồn tại qua hàng ngàn năm.
Giờ đây chúng ta hãy nhìn vào bằng chứng của Trần Quốc Vượng. Ông cho rằng ba từ sau có liên quan đến nhau: hùng, khun, và khunzt.
Trước hết các từ không đồng thời xuất hiện trong các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác nhau. Một từ trước tiên có thể xuất hiện trong một ngôn ngữ nào đó, rồi nó được các ngôn ngữ khác chấp nhận. Khi điều đó xảy ra thì một điều gì đó có thể sẽ biến đổi. Tuy nhiên các nhà ngôn ngữ học đã xác lập quy tắc cho trường hợp này.
Trần Quốc Vượng cho rằng các phụ âm đầu “h,” “kh,” và “k” có thể hoán đổi cho nhau. Ở một phạm vi nào đó thì điều đó là đúng, nhưng các nhà ngôn ngữ xác lập các quy tắc bằng cách xem xét vô số ví dụ để, chẳng hạn như, cho rằng khi một từ bắt đầu bằng “kh” trong ngôn ngữ “A” được những người nói ngôn ngữ “B” chấp nhận, thì âm tiết đầu “k” bị rụng mất và họ chỉ còn giữ lại “h”. Tương tự như vậy đối với các âm cuối từ, chẳng hạn các âm cuối rất khác nhau là “n”, “ng”, và “nzt” mà Trần Quốc Vượng không nhắc đến.
Nói cách khác Trần Quốc Vượng không đưa ra được một lập luận đáng tin cậy trong bài viết này. Ông có ba từ dường như tương đồng nhau, nhưng ông không giải thích từ nguyên là gì, các từ đó được vay mượn từ ngôn ngữ nào và những biến đổi ngôn ngữ nào đã xảy ra khi điều đó diễn ra.
Cuối cùng nguồn tư liệu của từ tiếng Mundari “kunzt” (Bhaduri’s, A Mundari-English Dictionary, 1931) mà Trần Quốc Vượng sử dụng không phải là nguồn đáng tin cậy nhất đối với ngôn ngữ đó, nhưng có lẽ ông chỉ có tư liệu đến mức đó. Nguồn tư liệu đáng tin cậy hơn là công trình nhiều tập Encylcopaedia Mundarica (1930-79) của John Hoffmann, trong đó từ này được phiên âm là “khut”, một cách chuyển âm làm giảm tính tương đồng với “khun” và “hùng”.
Thế là sau khi phê phán tri thức ngôn ngữ của Trần Quốc Vượng thì tôi sẽ đưa ra lập luận không cần tư liệu của tôi, nhưng đó lại là một lập luận mà tôi khẳng định nhờ các nhà ngôn ngữ học Thái. “Khun” là một từ chúng ta vẫn thấy trong các ngôn ngữ Tày Thái. Các ngôn ngữ Thái vùng Tây Nam bắt đầu phát triển tách biệt khỏi các ngôn ngữ Tày Thái khác vào quãng thế kỷ 9-10, hoặc đại loại như vậy. Ở Việt Nam ngày nay, các ngôn ngữ được gọi là “Thái” chính là các ngôn ngữ Thái vùng Tây Nam.
Vì vậy khi “khun” xuất hiện trong các ngôn ngữ Thày Thái Tây Nam thì đó là một từ đã được vay mượn từ tiếng Hán 君 quân. Từ này tiếng Hán bạch thoại phát âm là “jun”, nhưng thời trung đại thì nó được phát âm khác, và đó chính là cội nguồn của âm “khun” trong các nhóm Thái tây nam, cũng chính là âm “cun/khun” trong tiếng Mường và thậm chí cả âm “kun” trong tiếng Nhật, một từ mà ngày nay sử dụng như một phân từ thêm vào các tên gọi khi nói đến ai đó một cách không xã giao, chẳng hạn như “Koji-kun”, nhưng trong quá khứ nó lại được sử dụng theo cách khác.
Nói cách khác, có một từ mà trong lịch sử cả các tộc người nói tiếng Mường và tiếng Tày Thái ở Việt Nam (và có lẽ cả các nhóm nguyên – Việt nữa) đều chia sẻ. Tuy nhiên nó lại không liên quan gì đến thời cổ đại, ngôn ngữ Việt cổ, hoặc các vua Hùng. Tôi phỏng đoán nó là một từ gia nhập các ngôn ngữ này vào gần cuối thiên niên kỷ Bắc thuộc, khi ngôn ngữ Tày Thái tây nam bắt đầu phát triển.
Bất kể tôi nghĩ gì thì rõ ràng là lý lẽ về ngôn ngữ học của Trần Quốc Vượng cũng không có cơ sở, và cho dù quan điểm này được lặp lại, lặp lại nữa, lặp lại mãi trong các văn bản tiếng Việt (xem chẳng hạn trang 25, Tiến Trình Lịch Sử Việt Nam do Nguyễn Quang Ngọc chủ biên).
Đây chỉ là một ví dụ nhỏ về một vấn đề nhàm chán trong học thuật Việt Nam. Cần phải có người đưa ra các ý tưởng hoàn toàn mới. Các học giả có lẽ đều biết điều đó là không chính xác, nhưng không ai viết bất cứ điều gì để trực tiếp bác bỏ lập luận đó. Vì vậy mà không hề có quá trình xem xét, phê phán các ý tưởng cũ, làm cho chúng cứ lặp đi lặp lại và tái xuất bản mãi. Kết quả là học thuật không bao giờ tiến bộ. Các ý tưởng cũ kỹ đó vẫn cứ quay vòng hoài trong nhiều thập kỷ.
Nguồn: leminhkhai.wordpress.com/tran-quoc-vuong-khun-argument-why-vietnamese-scholarship-doesnt-progress/2011/02/28

Bản dịch 2:

LẬP LUẬN CỦA TRẦN QUỐC VƯỢNG VỀ DANH XƯNG “KHUN”: TẠI SAO HỌC THUẬT VIỆT NAM KHÔNG TIẾN BỘ
By Le Minh Khai
Trong một bài báo tựa đề “Về danh hiệu Hùng Vương” trong tập 3 của Hùng Vương Dựng Nước (xuất bản năm 1977, nhưng bài báo này là một báo cáo hội thảo từ những năm 1960s). Trần Quốc Vượng lập luận rằng “Hùng” có thể là cách phát âm Việt cổ của một từ để chỉ thủ lĩnh của một quốc gia. Điều này tương đồng, ông lưu ý, với khái niệm “khun” vốn được sử dụng rộng rãi trong các nhóm nói tiếng Mon-Khmer và Tai.
Trần Quốc Vượng cũng nói rằng khái niệm này có liên hệ với một từ Munda, “khunzt”. Tiếng Munda là một ngôn ngữ Nam Á được nói bởi các nhóm ở khu vực ngày nay là đông bắc Ấn Độ, Bangladesh và Nepal, những người được biết đến là cư dân Munda.
Sau đó, Trần Quốc Vượng sử dụng thông tin này để nói rằng trong thời cổ, giai đoạn mà “các vua Hùng dựng nước”, có mối quan hệ chặt chẽ giữa những người nói tiếng Nam Á và những người nói tiếng Tai.
Có rất nhiều vấn đề với lập luận ngôn ngữ học của Trần Quốc Vượng mà tôi sẽ trình bày sau đây. Tuy nhiên, điều cốt lõi là bài báo của ông không phải là về ngôn ngữ học mà là một sự tuyên truyền của chủ nghĩa dân tộc được trình bày như một nghiên cứu học thuật. Điều mà Trần Quốc Vượng muốn nói đó là có rất nhiều nhóm khác nhau cư trú trên địa bàn của dân tộc Việt Nam hiện đại, những người có quan hệ chặt chẽ,, thân thiện với nhau ngay từ thủa ban đầu.
Năm 1983, Keith Taylor dẫn dẫn bài báo này của Trần Quốc Vượng khi ông viết The Birth of Vietnam rằng “dựa theo một nghiên cứu gần đây ở Việt Nam, tên Hùng bắt nguồn từ một từ Nam Á chỉ thủ lĩnh, từ mà vẫn được sử dụng đến ngày nay trong những người nói tiếng Mon-Khmer cư trú ở vùng núi Đông Nam Á, cũng như là Mường,, một ngôn ngữ chị em với tiếng Việt. Danh hiệu này cũng được tìm thấy trong những người nói tiếng Munda ở đông bắc Ấn Độ, những người cư trú ở điểm cực tây của các nhóm cư dân nói tiếng Nam Á còn sót lại.
Taylor không đề cập đến tiếng Tai, có lẽ vì sứ mệnh của ông trong công trình của mình là chứng minh có một mối liên hệ trực tiếp giữa “tiếng Việt” trong thời kỳ vua Hùng với những người tạo nên sự “hưng khởi” của sự tự chủ ở thế kỷ X và sự ra đời của Việt Nam. Taylor đã không quan tâm đến các nhóm cư dân không phải người Kinh. Ông ấy chỉ đơn giản muốn minh họa rằng người Kinh có ngôn ngữ của riêng mình và văn hóa của họ cho tới khi người Hán tới cai trị và đã bảo tồn nền văn hóa đó trong giai đoạn 1000 năm.
Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát bằng chứng của Trần Quốc Vượng. Ông nói rằng ba từ sau đây có quan hệ; hùng, khun và khunzt.
Trước tiên, các từ này các từ này không xuất hiện đồng thời ở các ngôn ngữ thuộc các họ khác nhau. Một từ cần phải xuất hiện trước tiên ở một ngôn ngữ và sau đó được tiếp nhận bởi các ngôn ngữ khác. Khi điều này xảy ra, một số âm có thể thay đổi. Tuy nhiên các nhà ngôn ngữ học đã tìm ra các quy luật của sự biến đổi này.
Trần Quốc Vượng nói rằng các nhà ngôn ngữ học lập luận, các âm đầu như “h”, “kh”, và “k” là có thể thay thế lẫn nhau. Ở mức độ nào đó, điều này đúng, nhưng các nhà ngôn ngữ xác lập quy luật này bằng cách khảo sát nhiều từ khác nhau để đưa ra kết luận, ví dụ khi một từ bắt đầu bằng “kh” trong một ngôn ngữ A được tiếp nhận bởi những người nói ngôn ngữ B, âm “k” bị mất và họ giữ lại “h”. Cũng tương tự như thế với các hậu tố của từ, như sự khác biệt giữa “n”, “ng”, và “nzt” mà Trần Quốc Vượng không đề cập.
Nói cách khác, Trần Quốc Vượng đã đưa ra một lập luận không thể tin cậy ở bài viết này. Ông ấy có 3 từ có vẻ tương tự nhau nhưng ông không giải thích từ gốc là ở đâu và thuộc ngôn ngữ nào? Ngôn ngữ nào sau đó đã tiếp nhận nó? Và sự chuyển biến đã diễn ra làm sao?
Cuối cùng, nguồn tư liệu cho tiếng Munda mà Trần Quốc Vượng sử dụng (để tra cứu từ Khunzt, Bhaduri: A Munda-English Dictionray) không phải là tư liệu tham khảo tốt nhất cho ngôn ngữ này, mà có thể là văn bản mà ông ấy có thể tiếp cận được. Một nguồn tốt hơn là bộ nhiều tập Bách khoa toàn thư Munda (1930-79) của John Hoffmann, trong đó, khái niệm này được viết là “khut”, tức là có ít hơn sự tương đồng với các từ “khun” và “hùng”.
Tôi vừa phê phán kiến thức của Trần Quốc Vượng về ngôn ngữ học, bây giờ tôi sẽ đưa ra lập luận đã không được văn bản hóa của riêng mình, nhưng lập luận này đã được các nhà ngôn ngữ học Thái đồng tình. Khái niệm “khun” là từ được tìm thấy tại miền Tây Nam của các nhóm ngôn ngữ Thái. Ngôn ngữ Thái Tây Nam này bắt đầu được phát triển một cách độc lập với các nhóm Tai khác khoảng từ thế kỷ IX-X. Ở Việt Nam ngày nay, những ngôn ngữ được nói bởi người “Thái” là ngôn ngữ Thái Tây Nam.
Vì thế, trong khi “khun” là từ trong tiếng Thái Tây Nam, nó là một từ được mượn từ tiếng Hán “quân” “君”. Từ này được phát âm “jun” trong tiếng Mandarin, nhưng ở thời trung đại, nó được phát âm khác, và nó là cơ sở để “khun” trong tiếng Thái tây nam ra đời, cũng như “cun/khun” trong tiếng Mường và thậm chí là “kun” trong tiếng Nhật, một từ mà ngày nay được sử dụng như một mạo từ thêm vào tên người, để chỉ ai đó trong các tình huống không trang trọng, như “koji-kun”, nhưng trong các thế kỷ trước nó được sử dụng với chức năng khác.
Nói cách khác, có một khái niệm về mặt lịch sử được chia sẻ bởi người Thái và Mường ở Việt Nam (có thể là cả những người nói ngôn ngữ tiền-Việt Nam). Tuy nhiên, nó không có gì liên quan đến ngôn ngữ Việt cổ hay Hùng vương. Tôi đoán là đó là từ đã gia nhập vào các ngôn ngữ này vào cuối thiên niên kỷ bắc thuộc, trong khu vực cai trị của người Hán và nơi mà ngôn ngữ Thái Tây Nam bắt đầu phát triển.
Bỏ qua những gì tôi trình bày, rõ ràng là lập lập ngôn ngữ học của Trần Quốc Vượng là không có căn cứ, nhưng nó vẫn cứ được lặp đi lặp lại trong các văn bản Việt Nam (một ví dụ gần đây là ở trang 25 trong cuốn của Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, Tiến Trình Lịch Sử Việt Nam).
Đây chỉ là một ví dụ nhỏ của những vấn đề phổ biến trong nền học thuật Việt Nam. Ai đó mang đến một ý tưởng điên rồ. Các học giả có thể biết nó không chính xác, nhưng không ai viết bất cứ cái gì để trực tiếp phản bác. Và vì không có quá trình phản biện nên ý tưởng này có thể dễ dàng được lặp lại hoặc tái bản hết lần này qua lần khác. Hệ quả là học thuật không tiến bộ được. Và một ý tưởng không đúng như thế được lặp lại qua nhiều thế kỷ.
(Vũ Đức Liêm dịch)

Nguồn:  http://leminhkhai.wordpress.com/2011/02/28/tr%E1%BA%A7n-qu%E1%BB%91c-v%C6%B0%E1%BB%A3ng%E2%80%99s-khun-argument-why-vietnamese-scholarship-doesn%E2%80%99t-progress/

Nguồn bản dịch:

https://www.facebook.com/nguyen15581885

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: