Sự hoà trộn chính trị, chủng tộc và văn hoá ở Đông Nam Á

22 Apr

Sự hoà trộn chính trị, chủng tộc và văn hoá ở Đông Nam Á

Le Minh Khai

 

Tuần vừa rồi, tôi đã đọc một cuốn sách ra đời ít năm trước, cuốn Từ sự nổi dậy đến những cuộc bạo động: Bạo lực tập thể ở Borneo Indonesia (Madison: University of Wisconsin Press, 2008) [http://www.uwpress.wisc.edu/books/4055.htm]. Nó nói về các trường hợp bạo lực “sắc tộc” xuất hiện ở Kalimantan (phần Indonesia của đảo Borneo) trong vòng khoảng 50 năm nay hay đại loại như thế.

Davidson lập luận rằng nguyên nhân thực sự của bạo lực ở Kalimantan là do chính trị. Cuốn sách được tóm tắt ở bìa sau như thế này:

Từ sự nổi dậy đến các cuộc bạo động là một phân tích có phê phán về những gốc rễ của tình trạng bạo lực đương thời ở một trong những tỉnh có sự hỗn tạp về sắc tộc nhất của Indonesia là Tây Kalimantan. Từ cuối thập kỉ 1960s, tỉnh này đã phải trải qua những sự bùng nổ bạo lực sắc tộc có tính định kì giữa các nhóm dân cư như Dayak, Malay, Madurese, và tộc người Hoa. Dẫn chứng cứ từ công trình nghiên cứu của ông, tức các tài liệu quân sự nội bộ, và những báo cáo dân tộc học, Jamie S.Davidson đã bác bỏ những lí giải thông thường về các cuộc xung đột này. Bạo lực định kì ít liên quan đến sự xung đột văn hoá, những căn bệnh của Trật Tự Mới (New Order) – dẫn đến sự phát triển, hay ngoại biên hoá dân bản địa hơn là sự chính trị hoá luôn tiếp diễn cái bản sắc chủng tộc và tính địa phương ở vùng này”.

Đọc sách này, tôi lập tức nghĩ đến Sayadaw U Wirathu, một nhà sư người Burma, người gần đây đã tung ra những tin tức nhằm tuyên truyền cho lòng hận thù Hồi giáo.

Trong một bài báo gần đây trên tờ The Guardian [http://www.guardian.co.uk/world/2013/apr/18/buddhist-monk-spreads-hatred-burma] về Wirathu, Kate Hodall đã viết như sau: “Sự gia tăng tính cởi mở của Burma, nơi đã từng bị cai trị hà khắc bởi một hội đồng quân sự, đã chứng kiến xuất hiện một làn sóng tâm lí chống Hồi giáo lan truyền qua nhóm sắc tộc chính với khoảng 60 triệu tín đồ Phật giáo nhiệt thành – và Wirathu đứng đằng sau phần lớn chuyện này”.

Điều này rõ ràng giống với tình trạng mà Davidson đã nói về bạo lực sắc tộc ở Kalimantan ở cuối thập kỉ 1990 đầu những năm 2000 vốn được các phóng viên miêu tả lại. Các phóng viên ngụ ý rằng với sự kết thúc vài thập kỉ dưới sự cai trị chặt chẽ của Suharto, những sự thù ghét truyền kiếp đã tái xuất hiện.

Tuy nhiên điều mà Davidson bàn luận khá thuyết phục là: những sự thù ghét đều xuất hiện  một cách có liên hệ với nhau gần đây, và chúng có động cơ chính trị. Tôi chắc là điều đó cũng đúng với trường hợp Wirathu ở Burma. Thực vậy, tôi đã đọc một số báo cáo chỉ ra rằng những thành viên của quân đội đã hậu thuẫn cho những gì Wirathu đang phát ngôn, khi sự bất ổn định không ngừng sẽ cho phép họ có cơ hội lớn để kéo lùi các cải cách và vãn hồi quyền lực độc đoán của mình.

Và rồi có một trường hợp gần đây với các quân nhân từ Sulu [của] Sultanate, những người đã chiếm đóng một phần đất Sabah của Malaysia, khi họ tuyên bố rằng vùng đất đó là chủ quyền mang tính lịch sử của họ. Khi câu chuyện này mới xuất hiện, tôi vẫn băn khoăn vì sao điều này lại xảy ra bây giờ. Tôi biết rằng hẳn phải có một nguyên nhân chính trị nào đó.

Hẳn đủ [dẫn chứng], trước khi những bản báo cáo dài bắt đầu xuất hiện, như báo cáo này trên tờ CounterPunch [http://www.counterpunch.org/2013/03/15/the-mysterious-case-of-the-sulu-sultan/], để liên hệ sự kiện đó với những cuộc bầu cử sắp diễn ra ở cả Malaysia và Philippines.

Cũng như vậy, trong khi tôi đọc sách của Davidson và nghĩ về những sự kiện mới xảy ra này, tôi cố gắng hình dung những sự phát triển nào đang diễn ra trong hiện tại có tiềm năng dẫn đến những cuộc xung đột hay những vấn đề kiểu như vậy trong tương lai.

Điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi là sự lan truyền của những “chứng nhận Di sản thế giới” ngang qua khu vực Đông Nam Á. Trên thực tế, điều này đã dẫn đến một cuộc xung đột giữa Cambodia và Thailand xung quanh một ngôi đền nằm ở biên giới hai nước, Preah Vihear [http://en.wikipedia.org/wiki/Preah_Vihear_Temple#Modern_history_and_ownership_dispute].

Nói cho ngay, sự tranh cãi về “quyền sở hữu” ngôi đến này bắt đầu ở thế kỉ XX, nhưng nó thực sự được hâm nóng khi UNESCO công nhận Preah Vihear là một di sản thế giới vào năm 2008.

Có được một di sản trong danh sách di sản thế giới của UNESCO là tiềm năng đưa đến tiền bạc dưới hình thức du lịch đôla, và tiền bạc là cái mà người ta tranh nhau quyết liệt. Những vấn đề như thế này đang trở nên rắc rối trong các nền chính trị quốc nội và quốc tế, và đó là cái chính xác đã xảy ra trong trường hợp đền Preah Vihear.

Người Việt Nam những năm gần đây cũng rất tích cực trong nỗ lực xin công nhận các địa điểm ở Việt Nam là di sản thế giới hoặc đưa những thực hành văn hoá nào đó vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện nhân loại của UNESCO. Nghi lễ thờ các vua Hùng ở Phú Thọ vừa được đưa vào danh sách ấy gần đây (và tôi đã viết về điều này ở đây: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/12/06/unesco-hung-kings-and-the-benefits-of-being-vague/, bản dịch: https://leminhkhaiviet.wordpress.com/category/van-hoa-viet-nam/).

Tôi nghĩ rằng người ta biết rõ khao khát tiền bạc là một trong những nhân tố chính đứng đằng sau “hội chứng cuồng di sản thế giới” ở Việt Nam. Tuy nhiên, bằng việc đọc sách của Davidson, tôi bắt đầu băn khoăn về những sự dính líu trường kì của việc “lạm phát” các “di sản thế giới” trong toàn quốc. Điều đó liệu có thể tác động đến cái cách người Việt Nam nghĩ về họ trong sự liên hệ với những dân tộc khác hay không?

Sáng nay tôi lướt qua một cuộc tranh luận đã xuất hiện ít nhất ít ngày qua (hay có lẽ dài hơn?) về “hòn đá lạ” được đặt trong ngôi đền tưởng niệm các vua Hùng ở Phú Thọ vào năm 2009.

Tôi đọc không đủ nhiều để hiểu toàn bộ về hòn đá này, nhưng cái thực tế rằng hòn đá đã nằm ở đó trong nhiều năm và đến bây giờ mới được đem ra tranh luận, đối với tôi, là một chỉ dấu cho thấy sự can dự của chính trị.

Dù thế nào chẳng nữa, cái thực sự thu hút sự chú ý của tôi là một dạng ngôn ngữ được sử dụng để nói về hòn đá này, bởi vì nó chỉ ra chính xác ý tưởng mà tôi có trong đầu hôm qua – tức là, “hội chứng cuồng di sản thế giới” có thể dẫn đến những cách nhìn “chắt lọc” về văn hoá, và những cách nhìn như thế đến lượt nó có thể bị lợi dụng bởi mục đích chính trị.

Riêng đoạn văn này thực sự thu hút sự chú ý của tôi:

[Tín ngưỡng thờ vua Hùng là tín ngưỡng quốc gia nên bất kể vật nào đó được cung tiến vào đó đều phải tuân thủ tín ngưỡng thuần Việt. Đây là nơi thờ quốc tổ nên từng tự khí (đồ thờ) dâng lên đều phải thể hiện ý chí của con Lạc cháu Hồng và bày tỏ ngưỡng vọng của tổ tiên, chứ không phải là nơi để bày đặt các đồ thờ chỉ đề cầu lợi ích phúc lộc cho cá nhân, tổ chức hoặc dòng họ – tiếng Việt trong nguyên bản – ND]

Có nhiều luận điểm khác nhau về đoạn văn ngắn này mà người ta có thể bàn bạc, nhưng tôi sẽ chỉ đề cập đến một điểm, đó là về việc sử dụng khái niệm “thuần Việt”.

“Tính thuần” là một khái niệm trở nên quan trọng ở phương Tây bắt đầu vào cuối thế kỉ XIX với sự phát triển (và bây giờ bị nghi ngờ) của những ý tưởng về sắc tộc, và rồi nó được kế thừa bởi một số trí thức ở châu Á vào thế kỉ XX.

Bài gần đây tôi viết về “Những vấn đề huyết thống ở Cambodia thuộc địa” [http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/10/blood-matters-in-colonial-cambodia/] bình luận về hứng thú với “tính thuần” của phương Tây, cũng như với thực tế rằng khái niệm này dựa trên một huyền thoại. Chúng ta có thể thấy rằng người Pháp ưa thích xác định chính xác tính thuần của con người, nhưng những “phát hiện” của họ đã chỉ ra một kết luận khác – rằng tính thuần không hề tồn tại.

Sự quan trọng của “tính thuần” ở phương Tây đã dẫn đến những hệ quả bi kịch trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, nhưng ở Cambodia, những trí thức nào đó được Pháp đào tạo đã cấp cho nó một đời sống mới sau chiến tranh [thế giới thứ hai] khi họ biến chúng thành một thành tố trong ý thức hệ của tổ chức chính trị, tức Khmer Đỏ, của họ.

Điều bi hài đương nhiên là nhiều trí thức, những người nói về tính thuần, lại không hề “thuần chủng”, mà giống như một vài người ở trong bức ảnh mà tôi đăng ở bài trên, họ là những người Hán-Khmer.

Cuối cùng, tất cả các vấn đề này đều liên quan đến chính trị. Từ Khmer Đỏ, đến bạo lực sắc rộc ở Kalimantan, đến Preah Vihear, đến Sayadaw U Wirathu, đến Sultanate của Sulu, đến viên đá lạ ở Phú Thọ… người ta có thể nói bằng những thuật ngữ của văn hoá và sắc tộc, nhưng đằng sau chúng đều là chính trị cả thôi.

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/20/mixing-politics-ethnicity-and-culture-in-southeast-asia/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: