Xác cáo, Hồ Tây và cư dân không thuần nhất của Việt Nam thời trung đại

27 Apr

Bản dịch 1:

Xác cáo, Hồ Tây, và Dân số không thuần nhất thời Việt Nam trung đại

From LMK’s blog

Lĩnh Nam chích quái liệt truyện là một hợp tập các truyện kể ngắn được soạn vào thế kỉ 15 (cho dù vài phần nội dung của nó có thể đã được soạn sớm hơn trước đó). Ngày nay, các học giả Việt Nam biện luận rằng cuốn sách này chứa nhiều câu chuyện mà “nhân dân” đã lưu truyền lại qua hàng thế kỉ. Vì thế, họ nhìn hợp tập này như bằng chứng của thời cổ xưa của “đất nước Việt Nam” (Vietnamese nation). Thế nhưng khi ai đó đọc Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, anh ta có thể thấy rõ ràng không phải như vậy.

Chúng ta có thể kiểm chứng vấn đề này khi nhìn vào một trong những câu chuyện trong hợp tập này, chẳng hạn “Truyện Hồ tinh” [狐精傳, “The Story of the Fox Essence”].

昇龍之城,昔號龍編地,上古無人居焉。李朝太祖泛舟珥河津,有雙龍引舟,因名焉,而都之,即今之京華城也。 Thăng Long chi thành, tích hiệu Long Biên thành, thượng cổ vô nhân cư yên. Lí triều Thái Tổ phiếm chu Nhị Hà tân, hữu song long dẫn chu, nhân danh yên, nhi đô chi, tức kim chi kinh hoa thành dã.
初,城之西有小石山,東枕蘇瀝江,山下之穴,有白狐九尾,壽千餘年,能化為妖怪,變化萬端。或為人為鬼,遍行民間。時傘圓山下,蠻人架木結草為屋。山有神靈異,蠻人奉事之。常教蠻人耕織,作白衣 衣之,因名曰白衣蠻。 Sơ, thành chi tây hữu tiểu thạch sơn, đông chẩm Tô Lịch giang, sơn hạ chi huyệt, hữu bạch hồ cửu vĩ, thọ thiên dư niên, năng hóa vi yêu quái, biến hóa vạn đoan. Hoặc vi nhân vi quỉ, biến hành dân gian. Thời Tản Viên sơn hạ, man nhân giá mộc kết thảo vi ốc. Sơn hữu thần linh dị, man nhân phụng sự chi. Thời giáo man nhân canh chức, tác bạch y ý chi, nhân dan viết bạch y man.
九尾狐化為白衣人,入蠻眾中,與同歌唱,誘取蠻人男女,藏於小石岩穴。蠻人苦之。龍君遂遣水府六部眾引水而上,攻破小石岩穴。九尾狐走之,水府部逐之,破穴,獲狐啗之。其破處成深淵,今呼為狐屍潭(即今之西湖也)。 Cửu vĩ hồ hóa vi bạch y nhân, nhập man chúng trung, dữ đồng ca xướng, dụ thủ man nhân nam nữ, tàng ư tiểu thạch nham huyệt. Man nhân khổ chi. Long quân toại khiển thủy phủ lục bộ chúng dẫn thủy nhi thượng, công phá tiểu thạch nham huyệt. Cửu vĩ hồ tẩu chi, thủy phủ bộ trục chi, phá huyệt, hoạch hồ đạm chi. Kì phá xứ thành thâm uyên, kim hô vi Hồ Thi đàm (tức kim chi Tây Hồ dã).
遂立祠觀(今金牛寺),以鎮壓其妖。 Toại lập từ quán (kim Kim Ngưu tự), dĩ trấn áp kì yêu.
湖之西岸,原野平地,民田而耕,今呼為狐洞。土地高爽,民屋而居,今呼為狐村。其狐穴,今呼為魯卻村。 Hồ chi tây ngạn, nguyên dã bình địa, dân điền nhi canh, kim hô vi Hồ động. Thổ địa cao sảng, dân ốc nhi cư, kim hô vi Hồ thôn. Kì hồ huyệt, kim hô vi Lỗ Khước thôn.

The citadel of Thăng Long [lit., “rising dragon”] was formerly called the land of Long Biên. In antiquity no one resided there. Then when Lý Thái Tổ sailed in a boat to the Nhị River crossing, there was a pair of dragons who led the boat. He therefore named it thus [i.e., Thăng Long], and made it the capital. Today it is the capital citadel.

Earlier, to the west of the citadel was a small stone mountain, and to the east it was cushioned by the Tô Lịch River. In a cavern below the mountain there was a white fox with nine tails which was over 1,000 years old. It could transform into a monster and change in myriad ways. It could become a person or a ghost and would move about among the people. At that time, below Mount Tản Viên savages made houses of wood frames and grass. There was a spirit which was numinous and the savages worshipped it. The spirit had long taught the savages to cultivate and weave. It made white robes and clothed them. They were therefore called the “White-Robed Savages.”

The nine-tailed fox transformed into a white-robed person and went amongst the savages. Together with them it sang songs and seduced savage men and women, and then hid them in its small stone cavern. The savages suffered from this. Dragon Lord then dispatched a group from the Six Boards of the Water Palace to draw water upward to attack and smash the small stone cavern. The nine-tailed fox fled. [The group from the Six] Boards of the Water Palace pursued it, destroyed the cavern, and captured and ate the fox. The destroyed area became a deep reservoir. Now it is called “Fox Corpse Pool” (this is the current West Lake). They then erected a shrine (current Kim Ngưu Temple) to suppress the monstrousness [of the nine-tailed fox]. On the western shore of the lake is an open flat area. People have fields which they cultivate. Now this is called Fox Grotto. Where the land is high and pleasing, people have houses where they live. This is now called Fox Village. As for the fox’s cavern, it is now called Lỗ Khước Village.

Thành Thăng Long [nghĩa đen: Rồng bay lên] xưa gọi là đất Long Biên, thời thượng cổ không có người sống ở đó. [Vua] Thái Tổ triều Lí ngồi thuyền đến bến Nhị Hà, có hai con rồng dẫn thuyền, nên đặt tên đó, mà đóng đô đất này, tức kinh thành ngày nay vậy.

Thuở đầu, phía tây thành có một núi đá nhỏ, đông gối đầu sông Tô Lịch, cái hang dưới núi có cáo trắng chín đuôi (白狐九尾 bạch hồ cửu vĩ), sống lâu hơn nghìn tuổi, biết hóa thành yêu quái, biến hóa trăm đường, lúc làm người lúc làm quỉ, lưu chuyển khắp trong dân gian. Bấy giờ dưới núi Tản Viên, người man dựng cây kết cỏ làm nhà. Núi có thần linh dị, người man phụng thờ thần này. [Thần] từng dạy người man cày cấy dệt vải. [Thần] làm áo trắng mặc cho [người man], nhân đó gọi là người man áo trắng.

Cáo chín đuôi hóa làm người áo trắng, đi vào trong dân man, cùng họ ca hát, dụ bắt con trai con gái người man, giấu ở cái hang trong núi đá nhỏ. Người man khổ vì chuyện đó. Vua Rồng (Long quân) bèn sai quân Sáu bộ Thủy phủ dẫn nước mà dâng lên, đánh phá hang trong núi đá nhỏ. Cáo chín đuôi chạy trốn quân Thủy phủ, quân Thủy phủ đuổi theo cáo chín đuôi, phá hang đá, bắt cáo nhắm thịt. Nơi bị phá thành vực sâu, nay gọi là đầm Hồ Thi [đầm Xác Cáo; 狐屍潭 Hồ Thi Đầm] (tức Tây Hồ [西湖] ngày nay). [Dân] bèn lập đền quán (nay là chùa Kim Ngưu/Trâu vàng) để trấn áp yêu khí của nó. Bờ tây của hồ, [chỗ] đất phẳng bằng, dân làm ruộng mà cày, nay gọi là động Hồ [Hồ Động 狐洞]; [chỗ] đất cao thoáng, dân làm nhà mà ở, nay gọi là thôn Hồ [Hồ Thôn 狐村]. Cái hang cáo [hồ huyệt 狐穴] nay gọi là thôn Lỗ Khước [Lỗ Khước Thôn 魯卻村].

Thảo luận:
Câu chuyện này về một tinh cáo hay “a fox essence” [狐精 hồ tinh], một thuật ngữ mà có lúc được dịch là “fox spirit.” Con cáo kiểu này có thể được thấy trong những truyện kể ở khắp nơi trên thế giới, nhưng câu chuyện ở đây rõ ràng được lấy cảm hứng từ hàng núi chuyện về cáo trong truyền thống văn học Trung Quốc. Đề cập đến cáo chín đuôi sống thọ nghìn tuổi là một chứng dẫn rõ ràng rằng tác giả của mẩu chuyện này đã chịu ảnh hưởng bởi những câu chuyện về cáo của Trung Quốc. Vì thế, rõ ràng câu chuyện này không phải là chuyện do “nhân dân/dân chúng,” mà do một người có học hành về chữ Hán [tạo ra].

Phần kết của câu chuyện càng làm rõ điểm này hơn. Cơ bản, các địa danh ở cuối câu chuyện đều can hệ với chữ Hán để chỉ “cáo” (hồ/ hu 狐), một từ mà một trí thức Việt Nam thời đó hẳn đã biết được nhờ đọc các văn bản chữ Hán và đã đọc từ đó là “hồ.” Tôi đã dịch nghĩa vài trong số những thuật ngữ của văn bản trên, nhưng nếu chúng ta nhìn vào cách các chữ gốc được phát âm như thế nào, chúng ta có thể nhìn cách chơi chữ ở truyện kể này [but if we look at how the original characters are pronounced, we can see the play on words which is at work in this story].

Fox Corpse Pool = Hồ Thây Đầm 狐屍潭 (đầm xác cáo)

West Lake = Hồ Tây trong tiếng Việt, nhưng khi ở tiếng Hán thì viết đảo ngược lại, tức Tây Hồ 西湖.

Fox Grotto = Hồ Động 狐洞 (động cáo)

Fox Village = Hồ Thôn 狐村 (thôn cáo)

Tôi đoán là “Động Cáo” và “Thôn Cáo” vốn gốc chỉ cái như là “Động Hồ” và “Thôn Hồ,” và người ta đã không biết nghĩa “hồ” là gì. Một vài người có học hành vốn quen thuộc với những địa danh này sau đó đã tạo ra câu chuyện kể này, một câu chuyện gắn chữ “hồ” trong hai địa danh này với chữ Hán để chỉ “cái hồ nước” (hồ) trong từ “Hồ Tây” và sau đó đã tạo ra một câu chuyện về cáo để gắn tất cả những tên này với nhau bởi vì 1) chữ Hán để chỉ con cáo (hồ) có âm đọc giống hệt chữ Hán để chỉ cái hồ nước (hồ) và các tên của cái hang và cái thôn trong câu chuyện (cả hai đều là “hồ”), và 2) tác giả của câu chuyện hẳn đã đọc rất nhiều chuyện về cáo của Trung Quốc. Cuối cùng, câu chuyện này đã dẫn đến một “hồ thây” (xác cáo), một thuật ngữ về âm đọc rất gần với từ “Hồ Tây.) [Xin được lưu ý rằng: chỉ có một tên riêng trong câu chuyện mà không có nghĩa là Thôn Lỗ Khước, nhưng trong những bản khác nó là “Hồ Lỗ” 狐魯 hoặc Lỗ Hồ魯狐, và với cái này thì chúng mang nghĩ chỉ cái gì đó như là “lỗ cáo,” vì “lỗ” nghĩa là một cái hố trong tiếng Việt và “hồ” trong tiếng Hán nghĩa là “cáo.”

Nói cách khác, chỉ một vài người có học hành có thể hiểu được câu chuyện, nên nó không phải là một câu chuyện của “nhân dân.” Nội dung của nó cũng chỉ ra những sự chia biệt giữa các cư dân trên đồng bằng châu thổ sông Hồng khi đó. Nói đến “những người man” (savages) xung quanh núi Tản Việt là một ví dụ như vậy. Nói đến một cái “hang/động” ở gần Hồ Tây là một ví dụ khác. Từ “động” trong là một từ mà người Hán đã tạo ra để chỉ những đơn vị hành chính ở các vùng biên giới – nơi quản lĩnh bởi những người “không phải người Hán.” Việc đã có một cái động gần Hồ tây có thể là do thực tế rằng cái tên đã được đặt ra trong suốt thời kì người Trung Quốc cai trị và tiếp tục được sử dụng sau đó, hoặc nó có thể vì những người có học Việt Nam lúc đó đã đặt ra nó vì những người sống ở khu vực này được nhìn theo cách nào đó như là những người lạ.

Còn nhiều điều hơn để nói về câu chuyện này, nhưng điểm mà tôi muốn đặt ra ở đây chỉ đơn giản là xin được ghi chú rằng: 1) đây là một câu chuyện của những người có học (người bác học), và 2) nó chỉ ra những sự chia biệt giữa những dân cư trên đồng bằng sông Hồng. Nói cách khác, nó không phải là một câu chuyện được truyền lại từ xa xưa bởi “nhân dân/dân chúng,” bởi vì không có cái gọi là “người dân” (the people) [của một quốc gia] đã từng tồn tại [vào thời điểm đó].

Nguồn: http://lichsuhoc.wordpress.com

Bản dịch 2:

Xác cáo, Hồ Tây, và cư dân không thuần nhất của Việt Nam thời trung đại

By Le Minh Khai

Tập Lĩnh Nam chích quái liệt truyện là một tuyển tập các câu chuyện ngắn được soạn vào thế kỉ XV (mặc dù một số nội dung của nó có thể được phác thảo lần đầu sớm hơn thế). Các học giả Việt Nam ngày nay cho rằng nó chứa đựng những câu chuyện mà “nhân dân” đã truyền nhau qua nhiều thế kỉ. Vì vậy họ xem sách này là bằng chứng về thời cổ xưa của “đất nước Việt Nam”. Tuy nhiên, khi người ta đọc Chích quái, rõ ràng đây không phải là sự thật.

Chúng ta hãy kiểm tra vấn đề này bằng cách xem xét một trong các câu truyện của tập sách này, “Truyện tinh cáo” (狐精傳).

昇龍之城,昔號龍編地,上古無人居焉。李朝太祖泛舟珥河津,有雙龍引舟,因名焉,而都之,即今之京華城也。初,城之西有小石山,東枕蘇瀝江,山下之穴,有白狐九尾,壽千餘年,能化為妖怪,變化萬端。或為人為鬼,遍行民間。時傘圓山下,蠻人架木結草為屋。山有神靈異,蠻人奉事之。常教蠻人耕織,作白衣衣之,因名曰白衣蠻。九尾狐化為白衣人,入蠻眾中,與同歌唱,誘取蠻人男女,藏於小石岩穴。蠻人苦之。龍君遂遣水府六部眾引水而上,攻破小石岩穴。九尾狐走之,水府部逐之,破穴,獲狐啗之。其破處成深淵,今呼為狐屍潭(即今之西湖也)。遂立祠觀(今金牛寺),以鎮壓其妖。湖之西岸,原野平地,民田而耕,今呼為狐洞。土地高爽,民屋而居,今呼為狐村。其狐穴,今呼為魯卻村。

[Dịch]

“Thành Thăng Long xưa hiệu là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lý chèo thuyền ở bến sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long [có nghĩa là rồng bay lên] rồi đóng đô ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy. Xưa ở phía tây thành có hòn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (mán áo trắng). Con cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám dân Mán cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là “đầm xác cáo” (tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu Tự) để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ Động (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở nay gọi là Hồ Thôn (thôn Cáo). Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn” [bản dịch: http://vi.wikisource.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i/Truy%E1%BB%87n_H%E1%BB%93_tinh – HQV]

Thảo luận

Truyện này kể về một con cáo thành tinh (狐精), một khái niệm đôi khi được dịch là “thần cáo”. Ta có thể thấy con cáo xuất hiện trong các truyện ngụ ngôn trên toàn thế giới, nhưng truyện này rõ ràng được gợi ý từ một lượng lớn các truyện về cáo trong truyền thống văn chương Trung Hoa. Sự đề câp đến một con cáo chín đuôi, hơn một nghìn tuổi đều là những chỉ dấu rõ ràng cho thấy tác giả đoạn này chịu ảnh hưởng bởi các truyện Trung Hoa. Vì vậy, rõ ràng câu chuyện này không phải là truyện của “nhân dân” mà từ một cá nhân có học ở Trung Hoa.

Kết thúc câu chuyện khiến luận điểm này còn rõ ràng hơn. Về bản chất, những địa danh ở cuối truyện đều liên hệ với một từ Hán là “cáo” (hu 狐), một từ mà một người Việt Nam biết chữ lúc bấy giờ hẳn biết khi đọc các văn bản Trung Hoa và hẳn phát âm là “hồ”. Tôi đã dịch nghĩa của một số khái niệm như thế trong văn bản trên, nhưng nếu chúng ta xem xét cách phát âm các từ trong nguyên bản, chúng ta có thể thấy trò chơi ngôn từ thể hiện rõ trong truyện này.

Hồ Xác Cáo = Hồ Thây Đầm [狐屍潭 – cách đọc Hán Việt: Hồ Thi đàm – HQV]

Hồ Tây = Hồ Tây trong tiếng Việt, nhưng viết bằng chữ Hán thì có trật tự ngược lại [Tây Hồ 西湖].

Động Cáo = Hồ Động 狐洞

Làng Cáo = Hồ Thôn 狐村

Tôi đoán rằng “Động Cáo” và “Làng Cáo” vốn để chỉ “Động Hồ” và “Làng Hồ”, và rằng người ta không hiểu nghĩa của chữ “Hồ”. Một học giả nào đó quen thuộc với những địa danh này đã sáng tạo ra câu chuyện trong đó kết nối “hồ” trong hai địa danh đó với khái niệm Hán là “hồ” chỉ “hồ nước” mà chúng ta thấy trong khái niệm “Hồ Tây” và rồi sáng tạo ra một câu chuyện về cáo để kết nối toàn bộ các tên với nhau, bời vì: 1) từ Hán chỉ “cáo” (hồ) đồng âm với từ Hán khác chỉ “hồ nước” (hồ) cũng như các tên chỉ động và làng (đều là hồ), và 2) ông ta đã đọc nhiều câu chuyện cáo của Trung Hoa. Cuối cùng, câu chuyện của ông ta dẫn đến một “xác cáo” (Hồ Thây), một khái niệm nghe gần y hệt như là Hồ Tây). [Lưu ý: một cái tên trong câu chuyện này không tạo ấn tượng gì là Làng Lỗ Khước, nhưng trong một dị bản khác nó là Hồ Lỗ 狐魯 hoặc Lỗ Hồ 魯狐, có thể gợi ra cái nghĩa nào đó tương tự như là “hố cáo” khi “lỗ” có nghĩa là “hố” hoặc “hốc” trong tiếng Việt và “hồ” là từ Hán để chỉ “cáo”].

Nói khác đi, chỉ ai đó biết chữ mới có thể hiểu được câu chuyện này, vì vậy nó không phải là một câu chuyện của “nhân dân”. Nội dung của nó cũng chỉ ra những sự chia cắt giữa các cư dân của đồng bằng sông Hồng lúc bấy giờ. Sự đề cập đến “Man nhân” xung quanh núi Tản Viên là một ví dụ về điều này. Sự đề cập đến một “động” gần Hồ Tây là một ví dụ khác. Khái niệm “động” là một khái niệm mà người Hán sáng tạo ra để chỉ những đơn vị hành chính nằm ở những khu vực biên giới được cai trị bởi những người phi Hán. Việc có một động ở gần Hồ Tây có thể tương ứng với một sự thực là cái tên được thiết lập trong thời kì người Hán cai trị và vẫn tiếp tục được sử dụng sau đó, hoặc có thể bởi vì giới tinh hoa người Việt lúc bấy giờ đã thiết lập ra nó bởi những người sống ở khu vực đó được xem như là một cái gì đó xa lạ.

Còn nhiều thứ hơn nữa cần được bàn bạc qua truyện này, nhưng luận điểm mà tôi muốn đưa ra ở đây sẽ đơn giản là lưu ý rằng: 1) nó là một câu chuyện của giới tinh hoa, và 2) nó chỉ ra sự chia cách giữa các nhóm cư dân ở đồng bằng sông Hồng. Nói khác đi, nó không phải là một câu chuyện được lưu truyền bởi “nhân dân”, bởi vì “nhân dân” (theo số ít) không hề tồn tại.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2010/08/13/a-fox-corpse-west-lake-and-the-divided-population-of-medieval-vietnam/

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: