Archive | May, 2013

Hán hóa, bản địa hóa và “Đại đồng tiểu dị”

31 May

Hán hóa, bản địa hóa và “Đại đồng tiểu dị”

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Như đã biết, trong thời kì thực dân, nhiều học giả châu Âu khác nhau đã đi đến sự mường tượng ra một quá trình trong quá khứ nơi vùng Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng bởi những thế lực bên ngoài. Nói khác đi, các học giả cho rằng về mặt lịch sử những người như người Việt đã bị Hán hóa còn những người như người Cambodia thì bị Ấn hóa.

Rồi với sự thiết lập các trung tâm Đông Nam Á học ở các trường đại học Bắc Mỹ, Liên hiệp Anh và Úc sau thời kì chiến tranh thế giới thứ 2, con lắc chao sang cực khác, và các học giả lại nói về sự “bản địa hóa”. Ý tưởng ở đây là: không phải các xã hội Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, mà người dân ở Đông Nam Á đã “chọn lọc” những nhân tố từ các truyền thống văn hóa ngoại lai và rồi “bản địa hóa”, hay vận dụng chúng vào những hoàn cảnh bản địa.

Một trong những người đề xướng vĩ đại nhất ý tưởng về sự bản địa hóa đó là O.W.Wolters. Chẳng hạn, Wolters cho rằng khi các học giả Việt Nam trong quá khứ trích dẫn các kinh điển “Trung Hoa”, họ đã “xả hết” ý nghĩa gốc của những văn bản đó, và sử dụng các văn bản đó cho các mục đích bản địa.

Tôi vẫn luôn tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi Wolters có thể quay ngược trở lại thời điểm 200 năm trước đây và giải thích cho một học giả như Lê Quý Đôn rằng trong những văn bản như Quần thư khảo biện hay Thánh mô hiền phạm lục của mình, nơi ông Lê trích dẫn rất nhiều từ các văn bản “Trung Hoa”, những gì ông đang làm là “xả hết” ý nghĩa gốc của các văn bản đó và dùng chúng cho những mục đích bản địa,…

Tôi hình dung rằng Lê Quý Đôn hẳn ẽ cảm thấy bị sỉ nhục đến nỗi ông muốn Wolters bị trừng phạt vì những ý tưởng “phi chính thống” như thế.

Ở một số phương diện nào đó, khả năng các sử gia diễn giải quá khứ bằng những phương thức mà những người sống trong quá khứ không thể làm là một điều tốt. Chẳng hạn, con người ngày nay có thể viết về cái gì đó như việc chiếm hữu nô lệ bằng những phương cách có lẽ có tính phê phán và sâu sắc hơn những người vốn không thể làm điều đó ở thời điểm mà việc chiếm hữu nô lệ còn hợp pháp.

Tuy nhiên, ở những phương diện khác, việc nhìn quá khứ từ hiện tại có thể có vấn đề, cũng như khi chúng ta xác định một cách sai lầm những gì là quan trọng đối với con người trong quá khứ bằng cách phóng chiếu những điều chúng ta ưu tiên và đánh giá cao lên [suy nghĩa của] họ. Đây là điều mà tôi nghĩ đã xảy ra với khái niệm bản địa hóa.

Ý tưởng về sự “Hán hóa” – rằng có làn sóng ảnh hưởng đã đi theo và thay đổi các cách thức [sống] của con người trên con đường [lan truyền] của nó – hiển nhiên là giản đơn. Tuy nhiên, ý tưởng về sự “bản địa hóa” cũng có vấn đề không kém.

Mặt khác, khá có vấn đề khi khẳng định rằng có một kiểu “truyền thống” rành rẽ nào đó (tức là, “truyền thống Ấn Độ” hay “truyền thống Trung Hoa”) ở ngoài đó, mang tính thuần nhất và trọn vẹn, và rằng cũng có những người nằm bên ngoài truyền thống đó và họ có sức mạnh và khả năng “chọn lọc” những gì họ muốn từ truyền thống đó, và “bản địa hóa” những nhân tố mà họ đã chọn.

Tuy nhiên, sự thực không nằm gần sự giản đơn và dứt khoát này.

Mặt khác, khái niệm “bản địa hóa” cũng xuyên tạc những ý niệm của người bản địa. Trong nhiều trường hợp, người bản địa trùng khớp với những hình ảnh/ý niệm/thực tiễn văn hóa không phải vì họ muốn mang tính bản địa, mà rõ ràng họ muốn trở nên giống với những gì họ thấy trong các hình ảnh, ý niệm, thực tiễn đó.

Image

Trong khi không tham gia vào cuộc  tranh cãi về khái niệm bản địa hóa, trong công trình Ngàn năm áo mũ của mình, Trần Quang Đức, tuy vậy, đã cung cấp một ví dụ rất lớn thách thức vị thế quan trọng của ý tưởng về sự bản địa hóa mà các học giả như O.W.Wolters đã đề xuất.

Nói một cách đơn giản, điều Trần Quang Đức chỉ ra là những vua chúa ở các triều đại đầu tiên của Việt Nam đã mặc những loại áo mũ nhất định vốn được cho là cũng được dùng vào thời cổ ở Trung Hoa. Tuy nhiên, sau đó, ở thế kỉ XIX, khi học giả Phan Huy Chú khảo xét quá khứ, ông khẳng định rằng không tìm thấy chứng cứ cho thấy việc sử dụng những kiểu áo mũ nhất định trong quá khứ. Và rồi sau đó, Hoàng đế Minh Mạng đã đặt ra quy định về việc sử dụng những loại áo mũ nhất định mà ông khẳng định rằng nó không được sử dụng trong lịch sử Việt Nam trước đó, mà Trần Quang Đức lại chỉ ra rằng nó đã được sử dụng từ trước.

Trần Quang Đức sử dụng thông tin này để lập luận rằng khi những triều đại mới giành được quyền lực (không chỉ ở Việt Nam mà còn ở những nơi như Triều Tiên và Nhật Bản), họ có nhu cầu thiết lập những đặc điểm cho áo mũ họ mặc. Tuy nhiên, thường là những ghi chép trước đó bị hủy hoại. Vì vậy họ phải tìm kiếm thông tin về các kiểu quần áo thích hợp cho nhà vua  và các quan chức của ông ta, và để làm như vậy, họ luôn tìm tới những thông tin từ cùng nguồn – thời cổ của “Trung Hoa”.

Image

Liệu cái cách mà người Việt Nam và Triều Tiên quyết định mặc gì có luôn luôn giống hệt với cách thức mà những vua chúa và bề tôi được cho là đã mặc trong thời cổ đại tại Trung Hoa? Không, nhưng điều đó không phải vì người Việt Nam và Triều Tiên không nỗ lực, và không phải vì họ muốn trông mình khác biệt.

Họ cố gắng để trông giống với người thời cổ hơn là cố gắng bản địa hóa. Nhưng tất nhiên là không có gì từng được tái tạo một cách hoàn hảo, nhiều sự khác biệt đã xuất hiện.

Vì vậy, Trần Quang Đức cho rằng rốt cuộc điều đã xảy ra là bạn có “nhiều điều giống và ít điều khác” (đại đồng tiểu dị) về cách thức phục trang của vua quan ở các triều đình Đông Á trong lịch sử.

Cụm từ mà Trần Quang Đức sử dụng, đại đồng tiểu dị 大同小異, có nghĩa đen là “giống nhiều khác ít” và có nguồn gốc từ tiếng Hán cổ. Tôi nghĩ nó có tác dụng giúp hình dung rõ vấn đề mà việc sử dụng khái niệm bản địa hóa đã gặp phải.

Những người như O.W.Wolters đã cổ vũ và tán dương các dấu hiệu của sự khác biệt, bởi với ông điều này thể hiện vai trò trung gian của người Đông Nam Á, điều mà các học giả thời kì thực dân đã bác bỏ.

Image

Tuy nhiên, những gì mà ví dụ về việc ăn mặc này đã chứng minh là: trong khi giới tinh hoa cầm quyền người Việt trên thực tế đã có vai trò trung gian, họ hành động không phải hướng đến sự khác biệt, mà hướng đến sự tương đồng. Họ muốn “giống” chứ không muốn “khác” và bởi những nỗ lực của họ (hay vai trò trung gian của họ) mà cái “giống” dừng lại ở lượng “lớn” chứ không phải lượng “nhỏ”.

Vì vậy, bằng cách nhận diện “sự khác biệt nhỏ” và ca ngợi chúng như là những dấu hiệu của “sự bản địa hóa”, chúng ta đã xuyên tạc những gì những người thời quá khứ đánh giá cao và nỗ lực thực hiện.

Image

46

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/30/sinicization-localization-and-big-same-small-different/

Advertisements

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [VIII]

30 May

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam

thời trung đại [VIII]

By: Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

“Bước ngoặt địa phương”

Khao khát muốn đồng nhất [mình] với các tập đoàn chính trị địa phương và dùng các văn bản để kiến tạo một cảm quan về tầm quan trọng cho khu vực này ở một bộ phận của giới tinh hoa người Việt thời trung đại cũng được phản chiếu trong nhiều khu vực của đế chế Trung Hoa ở hầu như cùng thời điểm. Các học giả của thời nhà Tống đã cho rằng sự biến đổi chủ yếu xảy ra trong giai đoạn này là giới tinh hoa chuyển sự tập trung từ địa hạt quốc gia sang phạm vi địa phương riêng của họ. Đặc biệt hơn nữa, khi quyền kiểm soát chính trị của đế chế bắt đầu phân rã trong thời Đường mạt, và các phần phía Bắc của đế chế bị mất ở thời Tống, giới trí thức tập trung nhiều hơn vào việc củng cố địa vị của mình trong các vũ đài địa phương họ hơn là tập trung tìm kiếm quyền lực ở kinh đô. Trải qua thời gian, “bước ngoặt địa phương” này, như nó thường được mệnh danh, sau đó tự bộc lộ bằng những cách thức khác nhau, từ các chiến lược hôn nhân đến một hứng thú học thuật tăng cao đối với các khu vực địa phương(87). Nói khác đi, những sự đổi thay về xã hội của giai đoạn này cung cấp một nền tảng hoàn hảo cho sự xây dựng những truyền thống được kiến tạo.

Trong khi Đồng bằng sông Hồng có sự khác biệt vào giai đoạn này ở chỗ nó đã trở nên tự chủ thoát khỏi sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa, người ta có thể cho rằng đây là một “bước ngoặt địa phương” đáng so sánh với những thay đổi tương tự trong sự quan tâm của giới tinh hoa ở các khu vực khác của đề chế Trung Hoa lúc bấy giờ. Chẳng hạn, ở thế kỉ X, tiếp sau sự sụp đổ của nhà Đường, một học giả có tên là Đỗ Quang Đình soạn một tuyển tập các truyện chí quái về vùng Tứ Xuyên. Công trình này thực hiện một chức năng rất giống với Liệt truyện ở chỗ nó “thuần hóa” các câu chuyện chí quái từ khu vực này và ở quá trình đưa ra một cảm quan về sự gắn kết với khu vực(88). Hơn nữa, giống như (những) soạn giả của Liệt truyện, Đỗ Quang Đình dựa nhiều vào các nguồn tư liệu hiện còn [lúc bấy giờ] để soạn văn bản của ông. Vì vậy, không những Liệt truyện không phải là một ghi chép các câu chuyện truyền miệng lưu truyền qua các thế kỉ, mà nó cũng không thuần nhất ở chỗ có các vẳn bản Hán cổ khác được soạn trong hầu như cùng thời gian và được sáng tác theo cùng kiểu và vì cùng mục đích.

Thêm nữa, đã xuất hiện những người nhóm người khác cũng hướng đến cùng một luồng thông tin giống như các học giả Việt Nam để kiến tạo cảm quan của riêng họ về một bản sắc địa phương. Những người mà ngày nay chúng ta nhắc đến như là những người Quảng Đông chẳng hạn cũng đã tham dự vào nhiều động thái văn chương tương tự như người Việt Nam và ở hầu như cùng thời điểm. Giống như người Việt, người Quảng Đông cũng tự gọi họ là Việt/Yue. Ngày nay, một chữ khác được dùng để thể hiện người Việt/Yue Quảng Đông, [đó là [粵]]. Tuy nhiên, trong quá khứ, chữ này được dùng thông nhau với chữ đồng âm mà ngày nay dùng đặc chỉ người Viêt [tức là 越]. Cũng giống như người Việt, có những học giả Quảng Đông đã trông vào các nguồn tư liệu Trung Hoa sớm hơn để tìm kiếm thông tin lịch sử về tộc Việt/Yue, trong đó nó được viết với chữ “粵” hoặc “越”.

Một ví dụ về hiện tượng này là cuốn Bách Việt tiên hiền chí của Âu Đại Nhâm. Một người bản xứ tại Quảng Đông là Âu Đại Nhậm đã sưu tầm các thông tin lịch sử về nhiều thành viên khác nhau của Bách Việt, những người mà ông cho là “đáng kính trọng” [hiền]. Phần lớn những người có mặt trong cuốn sách này đều sống ở khu vực Quảng Đông ngày nay, nhưng cũng có những người không sống ở đó. Trong số đó có Sĩ Nhiếp, một Thái thú người Trung Hoa đã cai trị Bắc Việt Nam vào thế kỉ III sau CN và là người mà Ngô Sĩ Liên tôn xưng là “vương” trong Toàn thư vì những đóng góp của ông cho khu vực này, đặc biệt là những nỗ lực được ghi nhận của ông trong việc dạy chữ Hán cổ [cho người Việt](89).

Một ví dụ khác về một văn bản xuất xứ từ Quảng Đông có dùng một số chất liệu cùng nguồn như người Việt từng dùng là cuốn Quảng Đông tân ngữ của Khuất Đại Quân (1630 – 1696). Công trình này là một cuốn “loại thư” bao hàm nhiều chủ đề được viết từ lâu bởi hoặc người Trung Hoa từ thiên niên kỉ đầu trước CN cho đến ít nhất là thời Tống, hoặc bởi một người Quảng Đông sau đó. Một chủ đề có liên quan đến những phụ nữ Việt/Yue. Ở đây, Quảng Đông tân ngữ thừa nhận rằng chị em bà Trưng là những người phụ nữ Việt đầu tiên nổi tiếng, nhưng cho rằng điều đó phụ thuộc vào sự mới mẻ của việc họ đã “tiếm” vương hiệu cho riêng mình, một việc mà những người phụ nữ khác chưa từng làm trước đó. Rồi nó tiếp tục đề cập đến Bà Triệu, một chiến binh nữ của thế kỉ III, sống ở một nơi nào đó trong khu vực ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam và là người đã cưỡi voi ra trận với hai vú dài vắt qua vai. Tuy nhiên, Quảng Đông tân ngữ bàn luận sơ sài về bà khi đơn thuần [coi bà] chỉ như một “tên cướp dũng cảm”(90).

Thừa nhận nhưng lại hạ thấp vai trò quan trọng của những người phụ nữ đó, những người là trung tâm của lịch sử Việt Nam ngày nay, sau đó Quảng Đông tân ngữ tiếp tục cho rằng có những người phụ nữ Việt/Yue ở khu vực này trong quá khứ còn nổi tiếng hơn họ, ví như hai người con gái của tộc Tiễn ở Quảng Đông. Một trong hai người này xuất hiện trước hai bà Trưng và đã bảo vệ vùng đất này trước các “tù trưởng dân man” [man tù] trong thời đại hỗn loạn sau sự sụp đổ của nhà Tần vào năm 206 trước CN(91). Tộc Tiễn này là một gia tộc mà Phùng Áng có quan hệ hôn nhân. Nếu chúng ta nhắc lại, thì ông là người được đề cập ở trên, người ở cuối triều Tuỳ được những tòng thuộc của mình ủng hộ việc thiết lập một vương quốc và tôn xưng ông là “Nam Việt vương”. Nếu Phùng Áng làm như vậy, và vương quốc của ông duy trì được sự tự trị đủ dài khỏi sự cai trị của Trung Hoa, thì có lẽ ngày nay đã có 2 nước Việt/Yue độc lập, vì ở thời trung đại các đồng bằng như Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Li là khá tương đồng. Ở cả hai khu vực đều có một giới tinh hoa Hán hoá nhỏ bé đang nỗ lực tạo ra một cảm quan về bản sắc địa phương, tức là, một cảm quan về việc mình “là người Việt/Yue”. Và cả hai đã làm như vậy bằng cùng một cách, sử dụng các thông tin từ các nguồn tư liệu Trung Hoa hiện tồn [lúc bấy giờ] để tạo ra các câu chuyện về chính mình.

Chú thích

87. Hai trong số những tác phẩm kinh điển về sự biến đổi này là: Robert Hartwell, “Demographic, Political, and Social Transformation of China, 750 – 1550” [Sự biến đổi nhân khẩu, chính trị và xã hội của Trung Hoa, 750 – 1550], Harvard Journal of Asiatic Studies 42, no.2 (December 1982): 365 – 442 và Robert P Hymes, Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung [Các chính khách và Quý ông: Giới tinh hoa của Phúc Châu, Giang Tây ở thời Bắc và Nam Tống] (Cambridge: Cambridge University Press, 1986).

88. Xem Franciscus Verellen, “Shu As a Hallowed Land: Du Quangting’s Record of Marvels” [Thục như là vùng đất thiêng: Ghi chép về những kì tích khác thường của Đỗ Quang Đình 杜光庭], Cahiers d’Extrême-Asie [Journal of Far Asia] 10, no. 10 (1998): 213 – 254.

89. Âu Đại Nhâm, Bách Việt tiên hiền chí [Treatise on the Previous Worthies of the Hundred Yue], (thế kỉ XVI), 4/16b – 17b; và ĐVSKTT, 3/42a – 42b.

90 . Khuất Đại Quân, Quảng Đông tân ngữ [New Anecdotes of Guangdong] (Taipei: Xuesheng Shuju, [facsimile of 1700 edition], 1968), 8/1a.

91. Như trên., 8/1b.

[Còn nữa]

 

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [VII]

29 May

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam

thời trung đại [VII]

By: Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

“Việt/Yue” như là một khái niệm tự xưng

Sự ảnh hưởng của lịch sử và văn học Trung Hoa đối với Hồng Bàng thị truyện là cực kì có ý nghĩa, ở chỗ nó hoàn toàn ủng hộ lập luận rằng câu chuyện này là một kiến tạo thời trung đại. Với sự thật đó, chúng ta cần phải xét lại toàn bộ hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam để điều chỉnh cho đúng với thực tế này. Bằng những gì tiếp theo, tôi sẽ cố gắng phác thảo đại lược một đề cương của một sự diễn giải thay thế về lịch sử Việt Nam thời trung đại và sớm hơn, cái có thể giúp lí giải về người viết Hồng Bàng thị truyện và lí do viết. Vì giới hạn khuôn khổ bài viết, sự thảo luận này sẽ rất ấn tượng chủ nghĩa và sẽ thuần tuý nhấn mạnh một cặp xu hướng mà tôi cho là chúng ta nên xem xét khi khảo sát giai đoạn này. Thứ nhất, đối lập với niềm tin rằng “nhân dân” của Đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu trước CN đã sở hữu bản sắc nào đó mà họ duy trì suốt cả nghìn năm Trung Hoa cai trị, tôi cho rằng chúng ta có thể nhận thấy xu hướng từ từ trong một phần của giới tinh hoa Hán hoá, những người sống ở một khu vực trải dài từ vùng Bắc Việt Nam ngày nay đến tận Quảng Đông là sử dụng khái niệm “Việt” (Yue) để tự xưng, đặc biệt vì những mục đích chính trị. Thứ hai, sự phát triển xa hơn của một cảm quan địa phương về sự nhận dạng [hay “bản sắc” – HQV], cái chúng ta nhận thấy được tái hiện trong một công trình như Liệt truyện, là một phần của sự biến chuyển rộng lớn hơn ở khu vực này. Đặc biệt ở những khu vực được cai trị bởi những thành viên của giới tinh hoa Hán hoá, người dân dựa nhiều vào những mẫu hình địa phương chủ nghĩa về sự nhận dạng [“căn cước” hay “bản sắc”]. Trong quá trình này, các thành viên của giới tinh hoa đã quét qua các văn bản sớm hơn để kiếm tìm những thông tin mà họ có thể dùng để trang hoàng cho cái bản sắc địa phương và cảm quan về vị trí [của họ].

Hơn một thập kỉ trước, sử gia Charles Holcombe đã viết một bài cực kì sắc sảo về lịch sử cổ xưa của cái mà ông gọi là “vùng viễn Nam của Trung Hoa”. Trong đó, ông cho rằng chẳng có “Việt Nam” nào ở thiên niên kỉ đầu trước CN hay ở bất cứ giai đoạn nào suốt thời kì Trung Hoa cai trị cả. Thay vào đó, ông chứng minh rằng đây là một thế giới mà, cùng với khu vực của cái mà ngày nay chúng ta gọi là Nam Trung Hoa, đang biến đổi chậm chạp khi các đồng bằng sông Hồng và sông Li giang dần dần trở thành các hòn đảo Hán hoá giữa một biển đa sắc tộc của những cư dân phi-Hán hoá(76). Xây dựng dựa trên quan sát này, tôi sẽ lập luận rằng thay vì có thực tế là giới tinh hoa Hán hoá này rốt cuộc ghi chép những thông tin về các nền văn hoá bản địa, chính là giới tinh hoa Hán hoá ở các khu vực này thực tế đã bắt đầu kiến tạo ra cảm quan về bản sắc địa phương cho chính họ. Họ làm như vậy không phải bằng cách quay về với nhân dân địa phương, mà là hướng vào các văn bản Trung Hoa hiện còn.

Đó chính là: người Trung Hoa vốn chỉ những nhóm dân khác nhau về phía Nam bằng khái niệm Việt, hay gọi chung là Bách Việt. Ngoại trừ một vương quốc cổ được gọi là Việt quốc, Việt/Yue là một cái tên mà người Trung Hoa dùng để gọi nhiều nhóm dân khác nhau, những người xa tới mức chúng ta biết, đã không dùng khái niệm này để chỉ bản thân mình(77). Tuy nhiên, rốt cuộc, có một số cá nhân đã kế thừa một cách có ý thức khái niệm “Việt/Yue” vì mục đích của họ, đặc biệt trong những quốc hiệu. Khá thú vị là, những người đầu tiên làm như vậy toàn là hoặc người Hán hoặc là hậu duệ có pha chút Hán. Triệu Đà, một viên quan Trung Hoa đã thiết lập một vương quốc ở thế kỉ III trước CN bao trùm một khu vực kéo dài từ tỉnh Quảng Đông đến Bắc Việt Nam ngày nay, có lẽ là người sớm nhất dùng khái niệm “Việt/Yue” cho mục đích “tự xưng” này. Ông gọi lãnh thổ của nước mình là Nam Việt(78). Tuy nhiên, trong những thế kỉ tiếp theo, những người khác cũng sẽ làm tương tự.

Chẳng hạn, có một nước Nam Việt được tuyên bố bởi một ông Lý Bí nào đó vào thế kỉ VI ở khu vực mà ngày nay thuộc Việt Nam. Lý Bí được cho là hậu duệ đời thứ 7 của người Trung Hoa đã chạy trốn xuống phía Nam cuối thời Hán đến khu vực thuộc Việt Nam ngày nay. Trong suốt cả giai đoạn đó, dường như gia đình này có quan hệ hôn nhân qua lại với người dân địa phương và thiết lập những mối ràng buộc mạnh mẽ với khu vực này. Năm 544, Lý Bí nắm lấy cơ hội có sự rối loạn chính trị trong vùng để thiết lập một vương quốc của riêng mình và tự tuyên bố mình là Hoàng đế của nước Nam Việt(79).

Bởi Toàn thư đề cập đến cả Triệu Đà và Lý Bí, nên các học giả hiện đại cho rằng đây là một dấu hiệu cho thấy một ý thức Việt Nam đã được khẳng định dưới sự ách cai trị của Trung Hoa. Người Việt mong muốn độc lập và không bao giờ quên giai đoạn Triệu Đà thiết lập một vương quốc ở khu vực này. Theo các học giả đó, những thông tin về vương quốc của Triệu Đà đã được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác, và rồi ở thế kỉ VI, Lý Bí đã nhập vào kí ức bản địa này. Tuy nhiên, xảy ra một vấn đề với ý tưởng này là có những người không thuộc khu vực Việt Nam ngày nay cũng sử dụng khái niệm “Nam Việt/Yue” trong cùng giai đoạn, bằng cách đó nó chất vấn ý tưởng rằng có những kí ức được chia sẻ chỉ hạn chế trong phạm vi “nhân dân” ở Đồng bằng sông Hồng.

Chẳng hạn, ở thế kỉ VII, một người có tên là Lâm Sĩ Hồng nổi lên qua những vị trí của một nhóm người nổi loạn ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Giang Tây ở Trung Hoa, và cuối cùng lãnh đạo nhóm này đánh bại một đội quân được nhà Tuỳ gửi đến để dẹp loạn. Sau đó Lâm Sĩ Hồng đã tự xưng là Vua của nước Nam Việt. Không lâu sau đó, ông tự xưng là Hoàng đế và đặt tên nước là Chu (Sở)(80). Theo đó, Lâm Sĩ Hồng dường như đã thử nghiệm những khả năng chính trị khác nhau. Ông vui thú với ý tưởng là vua của Nam Việt trước khi chuyển sang một biểu tượng khác của phương Nam, là nước Sở cổ xưa, và nâng ông lên vị trí Hoàng đế.

Một nhân vật khác cũng trong giai đoạn này đã cân nhắc tiếp nối con đường của Lâm Sĩ Hồng nhưng đã không thành. Phùng Áng (? – 646) đến từ khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông. Tuy nhiên, tổ tiên pha tạp của ông đã đến từ miền bắc Trung Hoa. Ở một thời điểm nào đó sau khi phần phía Bắc của Trung Hoa nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Bắc Nguỵ năm 386 sau CN, một thành viên của gia đình Phùng Áng chạy đến Koryo, hay là Triều Tiên ngày nay. Từ đó ông này gửi một người con trai, Phùng Ức, cùng với ba trăm người khác tiến về phía Nam Trung Hoa, rồi nằm dưới sự kiểm soát của Nhà Tấn. Phùng Ức định cư ở Panyu, ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông. Cháu nội của ông lấy một Phu nhân Tiễn nào đó từ một cự tộc địa phương, được gọi là một gia tộc “Việt/Yue” trong các nguồn tư liệu Trung Hoa. Các thành viên của gia tộc họ Phùng tiếp nhau là người lãnh đạo địa phương, và từ cái gia đình có nhiều dấu ấn ảnh hưởng phương Nam này mà Phùng Áng được sinh ra.

Khi trưởng thành, Phùng Áng trở thành một vị tướng của nhà Tuỳ. Khi nhà Tuỳ đổ, ông quay trở về khu vực Quảng Đông và cuối cùng, sau nhiều trận chiến, ông đã kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn ở khu vực ngày nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và thậm chí là Hải Nam. Những bộ hạ nói với Phùng Áng rằng với quyền lực của mình, ông nên tự xưng là vua của Nam Việt/Yue. Tuy nhiên, Phùng Áng đã từ chối. Ông thừa nhận rằng ông là vị thủ lĩnh duy nhất ở khu vực này và rằng ông là người thành công hơn bất kì ai khác, nhưng ông do dự khi tự coi mình là một ông vua và cho rằng việc tự xưng một cái tên tự phóng đại như vậy sẽ sỉ nhục thành tựu của tổ tiên ông(81).

Điều mà các ví dụ này gợi ý là ở thiên niên kỉ đầu sau CN, không có một bản sắc “Việt/Yue” rõ ràng được giới hạn cho một nhóm người nào đó ở Đồng bằng sông Hồng hay được hiểu bởi những đám đông không biết chữ. Thay vào đó, những ví dụ này chỉ ra rằng ở một khu vực bao trùm tỉnh Quảng Đông và Bắc Việt Nam hiện nay – hai khu vực mà Charles Holcombe đã chứng minh là bị Hán hóa nhiều nhất trong khu vực – đã từng tồn tại những thành viên khác nhau của giới tinh hoa Hán hóa những người biết rằng “Việt/Yue” là một khái niệm đã được sử dụng từ lâu trong các văn bản thành văn để chỉ người dân ở khu vực này. Kết quả là, ở một vài thời điểm khi một số trong các nhân vật này cố gắng kiến tạo không gian chính trị của riêng mình, họ sử dụng khái niệm này để chỉ rõ vị trí của họ trong một thế giới rộng lớn hơn. Tuy nhiên, không có chứng cứ cho thấy những người dân bản địa phi-Hán hóa thực sự sử dụng khái niệm “Việt/Yue”, hay cho thấy rằng việc sử dụng thuật ngữ này của giới tinh hoa Hán hóa có nghĩa là nó lôi cuốn những người dân làm như vậy.

Từ những khởi đầu này ở thiên niên kỉ đầu sau CN, khái niệm “Việt/Yue” – với tư cách một khái niệm được sử dụng trong các quốc hiệu được tạo ra bởi người Trung Hoa thời Hán hay những người ít nhất có một phần dòng máu Hán Trung Hoa ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông và Bắc Việt – rồi sẽ được đẩy lên bởi giới tinh hoa Hán hóa ở Đồng bằng sông Hồng vào những thế kỉ đầu của thiên niên kỉ thứ hai sau CN nhằm đặc chỉ khu vực dưới quyền kiểm soát của họ. Ở đây một lần nữa, chứng cớ văn bản đã gợi ý rằng khái niệm này vẫn được sử dụng trong một cảm quan chính trị chủ đạo để cho thấy sự nghiệp của [các] triều đại. Thực vậy, bài tựa Liệt truyện cho chúng ta một cảm giác như vậy. Tôi đã trích dẫn một số trong những thông tin này ở trên. Tiếp theo là toàn bộ đoạn văn mở đầu của bài tựa đó:

“Mặc dù Quế Hải nằm ở [khu vực] Lĩnh Nam, nhưng kì công của những núi non và sông suối, sự linh thiêng của đất, sự anh hùng của con người nơi đây, và những việc kì lạ thiêng liêng đều có thể tìm thấy ở đây(82). Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa thời thái cổ, phong tục phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để ghi chép các sự kiện. Vì vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều may mắn tiếp tục còn tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của nhân dân. Rồi trong thời Lưỡng Hán, thời Tam Quốc và vào thời Đông Tấn, Tây Tấn, Nam Bắc Triều, rồi đến thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, rốt cuộc mới có các sách sử ghi chép các việc, như sách Lĩnh Nam chí, Giao Quảng chí, An Nam chí lược, Giao Chỉ chí lược,… tất cả mới có thể tham khảo được(83). Tuy nhiên, đất Việt ta là vùng đất hoang dã từ xưa. Vì vậy, những ghi chép về nó còn sơ lược. Tuy nhiên, vương quốc ở đây bắt đầu với các vua Hùng. Dòng suối văn minh dần dần truyền qua các triều Triệu [tức là Triệu Đà], Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần và đến nay đã ra đến biển. Vì vậy, những ghi chép lịch sử của vương quốc đã trở nên đặc biệt chi tiết. Nhưng với sự sáng tác tập truyện này, liệu những thông tin trong đó có phải là sử? Không có ghi chép về thời điểm ra đời của chúng hay người nào đã hoàn thành chúng. Có lẽ một bản thảo đã được tạo ra bởi những học giả xuất sắc ở thời Lí và Trần, và rồi chúng được nhuận sắc thời gần đây bởi những bậc đáng kính vốn am hiểu và hiếu cổ”(84)

Trong đoạn văn này, khái niệm “Việt” xuất hiện trong cụm từ “ngã Việt”. Đây là một khái niệm khó nắm bắt. Về mặt lí thuyết, nó cũng có thể được dịch là “Chúng ta người Việt”, nhưng trong ngữ cảnh của bài tựa này, và trong việc sử dụng nó ở những chỗ khác, rõ ràng nó không chỉ một nhóm người mà chỉ một tập đoàn mang tính triều đại, và rộng ra, một vương quốc. Thực vậy, đây chính là cách chúng ta thấy khái niệm “Việt” được sử dụng trong các ghi chép lịch sử về thời trung đại. Chẳng hạn, Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập triều Đinh, đã đặt tên nước mình là Đại Cồ Việt năm 968 và một năm sau phong cho con trai mình tước hiệu “Nam Việt vương”(85). “Đại” và “Cồ đều có nghĩa là “vĩ đại”, chữ đầu là khái niệm Trung Hoa, chữ sau là khái niệm Việt Nam. Có thể Đinh Bộ Lĩnh đã chọn khái niệm này để phân biệt nước ông với một nước “Đại Việt/Yue” đã được thiết lập năm 917 ở khu vực mà ngày nay thuộc Quảng Đông(86). Bằng cung cách này, người Việt thời trung đại có vẻ như đã tiếp tục cách làm của giới tinh hoa chính trị Hán hóa từ khu vực rộng hơn trong việc tự xem các vương quốc của mình là “Việt/Yue”. Tuy nhiên, điều nhất quán ở đây là phạm vi mà giới tinh hoa ở Đồng bằng sông Hồng sau đó đã cố gắng gia cố cho khái niệm này, và những tập đoàn chính trị của họ, với sự chứng thực xa hơn dựa vào những văn bản Trung Hoa hiện còn. Đây là một hiện tượng hiển nhiên có sức thuyết phục trong đoạn văn trích từ bài tựa viết cho Liệt truyện [đã dẫn] ở trên.

Toàn bộ thông tin trong đoạn văn này được đưa ra nhằm giải thích cho vị trí và sự tồn tại của “Ngã Việt”. Điều đáng chú ý là toàn bộ thông tin này được tạo nghĩa thông qua việc chỉ dẫn tới những khái niệm đã tồn tại từ lâu trong các văn bản Trung Hoa, và điều đó cũng khá mang tính “Hán tâm”. Liệt truyện khẳng định nó đang cung cấp thông tin về vùng “Quế Hải”, một khái niệm Trung Hoa để chỉ các vùng ven biển ở khu vực ngày nay thuộc miền Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam, tức là vùng “Lĩnh Nam” men theo những đường biên phía Nam của khu vực ngày nay thuộc các tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Nó là một khu vực vốn là một phần của “những vùng hoang dại xa xôi” [yêu hoang], một khái niệm địa lí mang tính Hán-tâm có từ thiên niên kỉ đầu trước CN và được dùng để chỉ những vùng đất rất xa xôi so với kinh đô của đế chế. Và rồi khi khu vực này trải qua các triều đại Trung Hoa (từ Hán đến Minh), nó được hợp thức thông qua sản phẩm của các văn bản viết về khu vực này được thực hiện bởi các tác giả Trung Hoa. Quá trình này sau đó được làm sâu sắc thêm dưới triều Lý và Trần như là một sự truyền bá của “văn minh” [văn minh], bằng điều được ngụ ý là toàn bộ danh mục các văn bản và những lời giáo huấn được liên kết với truyền thống học thuật Trung Hoa, được duy trì một cách đầy đủ.

Do đó, từ đoạn văn này, chúng ta có thể có nhận thấy rằng người Việt Nam có học ở thời trung đại hẳn phải kiểm tra những văn bản Trung Hoa hiện có [lúc bấy giờ] và nhận thấy rằng thông tin về khu vực của họ trong tương quan với thế giới đã phát triển dần dần qua nhiều thời đại. Họ dùng các thông tin này để cung cấp những chứng cớ trên văn bản về khu vực họ sống đặt trong một thế giới rộng lớn hơn. Tự hào về triều đại hiện tồn của Ngã Việt, họ liền phóng chiếu sự tồn tại của nó vào quá khứ bằng cách kiến tạo ra một “quốc thống” cho sự kế tục về chính trị từ các vua Hùng qua Triệu Đà đến các triều đại ngắn ngủi khác nhau của thế kỉ thứ X, và cuối cùng là đến triều Lý và Trần. Điều này rõ ràng là một hành động kiến tạo, vì sự phân tích văn bản đối với Hồng Bàng thị truyện ở trên đã chỉ ra, không có các vua Hùng trong thực tế. Hơn nữa, có những vương quốc Nam Việt khác trong khu vực bên cạnh [nước Nam Việt] của Triệu Đà. Việc lựa chọn nước Nam Việt của Triệu Đà, thay vì Lý Bí hay Lâm Sĩ Hồng, là một quyết định tùy tiện trong quá trình kiến tạo này.

Chú thích

76. Charles Holcombe, “Early Imperial China’s Deep South: The Viet Regions through Tang Times” [Phương Nam xa xôi của Đế chế Trung hoa cổ xưa: Các khu vực Việt trong thời Đường], Tang Studies 10 – 11 (1997 –[19]98): 125 – 26.

77. Cần biết nhiều hơn về khái niệm “Việt/Yue”, xem Erica Brindley, “Barbarians or Not? Ethnicity and Changing Conceptions of the Ancient Yue (Viet) Peoples (~400 – 50 B. C.)” [Người dã man hay không dã man? Sắc tộc và sự thay đổi các khái niệm về người Việt cổ (~400 – 50 trước CN)], Asia Major, no.1 (2003): 1 – 32.

78. Taylor, The Birth of Vietnam, 23-27.

79. Như trên., 135 – 143.

80. Âu Dương Tu và những người khác, bs., Tân Đường thư [New History of the Tang], (1060), Chương: 87, “Liệt truyện [Biography] số. 12”.

81. Như trên., 110, “Liezhuan” 35.

82. Quế Hải [Guihai] là một cách gọi những vùng ven biển xuôi về phía Nam của Ngũ Lĩnh vốn chạy dọc biên giới phía Bắc của khu vực ngày nay là tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây và chia cắt khu vực Lĩnh Nam [Lingnan] với các khu vực của Trung Hoa về phía Bắc.

83. Những tiêu đề này rất có vấn đề. Đã có một Lĩnh Nam chí [Lingnan zhi], nhưng tôi không thấy chỉ dẫn nào đến cái tên Giao Chỉ chí lược [Jiaozhi zhilue]. Hơn nữa, trong văn bản này hai chữ cuối cùng của tiêu đề này [chí lược] xuất hiện trong trật tự đảo ngược [lược chí], vốn là một sự nhẫm lẫn. Còn như cái tên Giao Châu quảng kí, cái này có vẻ như là một sự kết hợp vụng về của những tiêu đề của 2 công trình khác nhau, Giao Châu kí Quảng Châu kí. Khi tiêu đề này được viết là Quảng Châu kí, chữ “Quảng” lẽ ra phải đóng vai trò một từ tu sức cho “kí” và vì vậy tôi dịch nó thành “mở rộng”, tức là cái nghĩa đen của chữ này. Khi tham khảo các dị bản khác của LNCQLT, tôi phát hiện ra rằng chúng có sự mâu thuẫn trong khi cung cấp những cái tiêu đề.

84. LNCQLT, 1/7a – 8a.

85. ĐVSKTT, BảnKỷ [Basic Annals], 1/2b và 1/3b.

86. Phát âm “Dayue” trong tiếng Trung, tên của nước này được biến đổi theo năm thành “Hán” và cho đến nay được gọi là Nam Hán. Xem Âu Dương Tu, Tân Ngũ đại sử [New History of the Five Dynasties], (1072), Chương 65, “Nam Hán thế gia” [Great Families of the Southern Han], 5.

[Còn nữa]

Đại sĩ trong núi và sự vô thường (không cần thiết) của học thuật trong thời đại số

28 May

Đại sĩ trong núi và sự vô thường (không cần thiết) của học  thuật trong thời đại số

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một tác phẩm tôi đã định đọc từ vài tháng qua là cuốn Bóng hình để lại: Số chuyên đề Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ của Nguyễn Nam.

Image

Chuyên khảo này nói về một bức tranh được vẽ năm 1363 về một sự kiện xảy ra năm 1304. Năm 1304, Trần Nhân Tông, một vị Hoàng đế nhà Trần đã từ bỏ ngai vàng ở cuối thế kỉ XIII và lui về vùng núi để tham Thiền, ra khỏi vùng núi để trao những lời răn dạy của bậc Đại sĩ cho con trai của mình, vị đương kim Hoàng đế Trần Anh Tông.

Làm thế nào người ta có thể vẽ một cảnh về một sự kiện đã xảy ra khoảng 60 năm trước đó? Đó là một vấn đề. Hơn nữa, có nhiều trí thức triều Minh sau đó đã làm thơ và viết những lời phẩm đề về bức tranh này (cuối cùng chúng được viết lên bức tranh). Lại nữa, làm thể nào chúng ta hiểu được những quan điểm của họ, khi biết rằng chúng được viết rất lâu sau sự kiện thực tế và được tạo ra bởi nhiều tác giả khác nhau?

Những câu hỏi này là những vấn đề mà Nguyễn Nam xem xét. Hiển nhiên, bức tranh này và những đoạn văn đi kèm nó là những sự tái hiện “hiện thực”. Vậy tất cả những điều này tái hiện cái gì, và làm thế nào chúng ta hiểu nó?

Rốt cuộc Nguyễn Nam cho rằng hình tượng trong bức tranh được cách điệu hoá ở mức độ nhất định (khả giải, trong khi biết rằng nó được vẽ rất muộn sau sự kiện nó miêu tả), và ông xem những thông tin văn chương là sự biểu hiện [điển hình cho] một kiểu văn bản “đồng tác giả”.

Image

Vượt lên trên điều này, có nhiều chi tiết trên thế giới mà Nguyễn Nam bàn luận trong công trình của ông đã chỉ rõ nền tảng văn hoá và xã hội phong phú của thời đại. Trong khi Trần Nhân Tông là một “Phật tử”, thì những ý tưởng và hình ảnh của “nhà Nho” và “Đạo sĩ” xuất hiện đầy rẫy trong các ghi chép đến từ giai đoạn này. Chúng ta cũng thấy rằng giới tinh hoa trong giai đoạn này mang tính quốc tế cực cao. Các Đạo sư từ Phúc Kiến đến Đại Việt và nhận thấy sự chào đón như ở nhà, cũng như những người lính nhà Tống chiến đấu bên cạnh các đội quân Đại Việt chống lại quân Mông Nguyên.

Cuối cùng, hiểu thấu giai đoạn này là rất khó khăn vì người ta phải thông thạo không chỉ Hán cổ, mà còn thạo cả những tác phẩm Phật giáo viết bằng Hán cổ. Nguyễn Nam là một người dũng cảm chấp nhận thách thức như thế. Tôi hoàn toàn là một “lính mới” khi bước vào lĩnh vực thứ hai này [tức tác phẩm văn học Phật giáo viết bằng Hán cổ – HQV], vì vậy đó là một lĩnh vực của cuốn sách mà tôi nghĩ tôi đơn thuần không thể đánh giá được.

Phải nói là, tôi không nghĩ rằng có nhiều người bên ngoài kia có thể [đánh giá được công trình], và điều này đưa tôi đến quan điểm rằng tôi thực sự muốn chuyển cuốn sách này cho người khác [đánh giá], và một điều nữa là nó (giống như nhiều công trình học thuật khác) nên được nhiều người đọc hơn sẽ được đọc dưới hình thức hiện tại của cuốn sách.

Thế giới học thuật ở Việt Nam bị gắn với những cuốn sách. Vì sao? Tôi nghĩ vì những lí do xã hội hơn là những lí do học thuật.

Có một truyền thống xã hội rất phong phú ở Việt Nam xung quanh những cuốn sách. Các học giả thích tặng sách của họ cho người khác, và các học giả cũng thích nhận sách tặng từ các học giả khác. Khi người ta tặng một cuốn sách cho ai đó, họ viết một dòng lưu bút hay lên trang đầu tiên, và sự trao đổi này thực hiện một chức năng xã hội rất quan trọng.

Trong khi điều này là hoàn toàn tuyệt vời trên một cấp độ xã hội, thì nó lại là một vấn đề lớn cho sự tiến bộ của tri thức. Bởi khi khá nhiều cuốn sách được công bố với số lượng nhỏ, nếu một ai đó không có mặt ở đó khi cuốn sách ra lò hay khi một học giả đang phân phát những bản sao mà ông/bà ta có, thì… bạn có lẽ chẳng bao giờ có thể đọc những gì người đó viết.

Tôi cảm thấy tình hình như thế đặc biệt với cuốn Bóng hình để lại, khi nó được công bố trong một tạp chí, Suối nguồn, cuốn tạp chí mà trong phạm vi tôi có thể nói, không sẵn ở bất cứ nơi nào bên ngoài Việt Nam (đây cũng là tình hình của một số tạp chí như Nghiên cứu phát triển, nhưng một số số của tạp chí này ít nhất cũng có sẵn trên mạng).

Trong khi điều này từ lâu đã là một vấn đề, thì bây giờ vấn đề càng trở nên gay gắt là ở những phần khác của thế giới [có tình trạng] 1) các thư viện không có tiền để mua sách; và 2) người ta đang chuyển sang công bố các dạng phi-sách.

Chẳng hạn, bạn có những nền tảng như Scalar, nó đang xuất hiện và được phát triển để cho phép người ta công bố các công trình học thuật trên mạng bằng các cách  thức mới. Khi tôi đọc Bóng hình để tại, điều thôi thúc tôi là đây là một tác phẩm sẽ cực kì có ích nếu được công bố dưới hình thức phi-sách.

Văn bản này kèm theo rất nhiều hình ảnh, nguyên bản Hán văn và những phụ lục. Dưới hình thức tuyến tính của cuốn sách, thật khó để cố gắng chuyển về và chuyển đến giữa phần văn bản tiếng Việt và nguyên bản Hán văn ở cuối tác phẩm.

Tuy nhiên, những nền tảng như Scalar cho phép người ta có thể tạo ra những văn bản “phi tuyến tính”. Và chúng cho phép người đọc lựa chọn – họ có thể đọc tiếp, hoặc họ có thể kích chuột để xem nguyên bản Hán văn, và rồi lại kích chuột để quay trở về văn bản chính yếu, hoặc họ có thể kích chuột để chuyển đến chỗ khác theo một hướng nào đó,v.v… tuỳ thuộc vào cách tác giả thiết kế “cuốn sách”.

Một nền tảng như Scalar cũng tạo điều kiện cho độc giả để lại những lời bình luận. Trong một lĩnh vực như lịch sử Việt Nam tiền hiện đại, nơi có khá ít người có thể đọc được chữ Hán cổ, và thậm chí ít người hơn hiểu được các tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ Hán cổ, việc tạo ra một cuốn sách “công khai” và “sống động” khiến độc giả có thể bình luận trên đó, và một tác giả có thể “sửa lại” nó bất kì lúc nào, sẽ là điều tuyệt vời cho học giới.

Rõ ràng nó sẽ đòi hỏi sự can đảm một phần ở một tác giả khi họ phải “công khai” một văn bản để cho người khác bình luận (tôi đoán tôi nên thực hành những gì tôi giảng giải và thử nó đầu tiên). Và một vấn đề khác có liên quan đến cách thức những văn bản trực tuyến như thế có thể được đánh giá – nhiều người cần phải xuất bản thật dưới một định dạng “chính thức” có thể xác định được [bản quyền] nhằm phục vụ cho công việc của họ (nhưng đây là điều sẽ luôn luôn thay đổi khi văn hoá xuất bản thay đổi).

Rốt cuộc, việc tiếp tục với dạng thức kiến tạo tri thức hiện hành không có vẻ mang lại nhiều ý nghĩa. Tại sao lại nỗ lực tạo ra cái gì đó mà chỉ một số ít người mới có thể đọc được nó? Và khi người ta làm việc trong những lĩnh vực hẹp, tại sao lại tạo ra công trình [khoa học] bằng những cách thức không thể giúp nó được đính chính/ thay đổi/ hoàn thiện/ mở rộng một cách nhanh chóng?

Trần Nhân Tông có lẽ đã dành nhiều năm để suy ngẫm về sự vô thường của cuộc đời, nhưng chúng ta sẽ lãng phí những cuộc đời vô thường của mình nếu chúng ta dành thời gian của mình để tạo ra công trình học thuật mà ít người tiếp cận được và bình luận.

Đã đến lúc giải phóng chúng ta khỏi những cuốn sách và tư duy tuyến tính. Đã đến lúc chạy Scalar (hay những công cụ khả sánh nào đó giúp cho việc tạo ra những “cuốn sách” trong thời đại số).

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/28/the-mahasattva-in-the-mountains-and-the-unnecessary-impermanence-of-scholarship-in-the-digital-age/

Việc giữ cánh cửa tri thức lịch sử trong thời đại số

27 May

Việc giữ cánh cửa tri thức lịch sử trong thời đại số

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Viết blog này là một trải nghiệm thú vị. Một số người thích những gì tôi viết, và một số khác thì không. Tuy nhiên, điều tôi dần nhận ra là: những người chống đối  mạnh nhất những gì tôi viết ở đây có thiên hướng là những người mà tôi gọi là “người giữ cửa”.

Trong cảm quan học thuật, “người giữ cửa” là những người kiểm soát việc truy cập tri thức. Họ cũng có thể là những người kiểm soát sự tiếp cận cơ hội thăng tiến trong thế giới học thuật.

Chẳng hạn, trong nửa sau của thế kỉ XX ở (Bắc) Việt, có 4 vị học giả đóng vai trò hàng đầu liên quan đến tri thức về lịch sử Việt Nam:  Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng(*).

Nếu bạn muốn biết về quá khứ của Việt Nam, bạn phải thông qua một trong các cửa mà mỗi người trong số 4 người đó gác. Họ diễn dịch quá khứ cho (hầu như) mọi người khác, và nếu bạn muốn hiểu quá khứ, bạn buộc phải tiếp cận thông qua những sự diễn dịch/những cánh cửa của từng người.

Những điều luật nhất định cũng đóng góp cho “việc giữ cửa”. Trong trường hợp Thái Lan chẳng hạn, luật Bảo vệ Hoàng gia thi hành từ lâu giúp cho việc giữ một cánh cửa liên quan đến hiểu biết về Hoàng gia. Và ở Indonesia, sự hạn chế tự do ngôn luận trong suốt thời kì Trật Tự Mới (1965 – 1998) cũng giữ cánh cửa dẫn tới tri thức về quá khứ.

Vậy là trong khi nỗ lực kiểm soát sự tiếp cận tri thức này trong lịch sử đã rất mạnh, thì Internet đã làm cho nó khó giữ vững những cánh cửa đó. Giờ đây người ta có thể truy cập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ từ những người giữ cửa.

Thêm vào đó, sự phát triển nhanh chóng những năm gần đây về số lượng những người du học nước ngoài cũng chống lại những nỗ lực của những người giữ cửa, bởi khi các sinh viên ra nước ngoài, họ có thể nhận thấy rằng các học giả ở đó không đồng ý (hoặc thậm chí không biết tí gì hoặc không quan tâm) với những người gác cửa ở những nước là quê hương của các sinh viên.

Vậy thì làm cách nào bạn duy trì được một cánh cửa trong một thế giới như thế này? Và có đáng phải làm như vậy không?

Hài hước là, cùng lúc đó, càng ngày càng khó hơn cho những người giữ cửa ở mong muốn duy trì sự thống trị cá nhân của họ, Wikipedia đang phổ cập những ý tưởng của họ.

Những nghiên cứu được hoàn thành ở Hoa Kỳ cho thấy loại người hay viết một trang Wikipedia nhất là một người đàn ông da trắng ở cuối độ tuổi vị thành niên hoặc đầu lứa tuổi 20s (loại người đính xác sẽ theo những ý tưởng bảo thủ của một “người gác cửa”). Vì vậy cơ bản là toàn bộ những tri thức của nhân loại (trên Wikipedia) bằng tiếng Anh ở thời điểm này đang được tạo ra bởi những anh chàng da trắng trẻ ủng hộ các ý tưởng của những người giữa cửa.

Nhận ra điều này, giờ đây có những người ở Hoa Kì đang khởi động một nỗ lực nhằm “viết lại” những mục của wikipedia bằng cách nhận những người có những nhãn quan khác nhau để cùng đóng góp.

Sẽ rất là thú vị khi xem kết cục của toàn bộ chuyện này.

Tuy nhiên, điều tôi nghĩ về tất cả chuyện này cho thấy ý tưởng cho rằng tri thức học thuật là cái gì đó mà một nhóm nhỏ đặc quyền đặc lợi kiểm soát thông qua những cánh cửa mà họ gác là điều đang ngày càng trở nên khó duy trì hơn trong những năm sắp tới.

Vì vậy nếu bạn là một người gác cửa tri thức, bạn sẽ làm gì? Bạn có nên bỏ cánh cửa và tồn tại trong một thế giới mà ở đó sự sản sinh tri thức đang được dân chủ hoá? Bạn có nên tiếp tục gác cánh cửa của bạn trong một thế giới mà ở đó những cánh cửa đang ngày càng bị công phá và bị đẩy dần ra ngoài lề?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/27/gatekeeping-historical-knowledge-in-the-digital-age/

Chú thích:

(*) Còn gọi là “tứ trụ” (Lâm, Lê, Tấn, Vượng).

Việc giữ cánh cổng tri thức lịch sử trong kỉ nguyên số hoá

27 May

VIỆC GIỮ CÁNH CỔNG TRI THỨC LỊCH SỬ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ HÓA
By Le Minh Khai
Viết blog này là một trải nghiệm thú vị. Nhiều người thích những gì tôi viết trong khi số khác không. Điều mà tôi nhận ra đó là những dẫn đầu trong nhóm phản đối những gì tôi viết là những người mà tôi gọi là “người giữ cửa”.
Trong khung cảnh học thuật, “người giữ cửa” là những người kiểm soát việc tiếp cận tri thức. Họ có thể là người can dự vào việc kiểm soát tuyển dụng nghề nghiệp trong học giới.
Ví dụ, trong nửa sau của thế kỷ XX ở miền bắc Việt Nam, có bốn học giả những người đóng vai trò hàng đầu liên quan đến tri thức lịch sử Việt Nam: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, và Trần Quốc Vượng.
Nếu bạn muốn biết về Việt Nam trong quá khứ, bạn phải đi qua một trong các cửa mà những người này gác. Họ diễn giải quá khứ gần như là cho tất cả mọi người và nếu bạn muốn hiểu về quá khứ, bạn phải tiếp cận nó thông qua khung cảnh/ cửa của những người này.
Các đạo luật cũng có thể giúp sức cho “việc gác cửa” này. Trong trường hợp Thailand, ví dụ Luật bảo vệ Hoàng gia (lese-majesty law) tham gia vào việc kiểm soát tri thức liên quan đến hoàng gia. Và ở Indonesia, hạn chế tự do báo chí trong thời kỳ Trật Tự Mới (1965-1998) cũng kiểm soát cánh cửa dẫn đến tri thức về quá khứ.
Trong khi nỗ lực để gác cánh cửa dẫn đến tri thức trong quá khứ là rất chặt chẽ, internet đã là cho việc giữ những cánh cửa này ngày càng khó khăn. Bây giờ người ta có thể tiếp cận thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ từ những “người gác cửa”.
Thêm nữa, sự gia tăng nhanh chóng những người học ở nước ngoài trong những năm gần đây cũng tham gia chống lại nỗ lực của những “người gác cửa” vì khi học sinh tới quốc gia khác, họ có thể nhận ra rằng học giả ở đó không đồng tình (hoặc thậm chí không biết bất cứ điều gì hoặc không quan tâm) với những người gác cửa ở quốc gia mà học sinh đó đã ra đi.
Vậy làm thế nào để bạn có thể duy trì một cánh cửa trong một thế giới như vậy? Và làm như vậy có đáng hay không?
Mỉa mai là, trong lúc đó những người gác cửa ngày càng khó khăn trong việc duy trì ảnh hưởng/ sự thống trị cá nhân của mình, Wikipedia đang đại chúng hóa ý tưởng của họ.
Nghiên cứu được thực hiện ở Mỹ chỉ ra rằng thông thường một trang Wikipedia được viết bởi một người đàn ông da trắng vào cuối tuổi teens hoặc đầu tuổi 20 (loại người thường theo các quan điểm bảo thủ của những người gác cửa). Vì thế, về cơ bản tất cả tri thức của nhân loại (ở trang Wikipedia) bằng tiếng Anh hiện tại được tạo ra bởi những người da trắng trẻ tuổi ủng hộ ý tưởng của những người gác đền…
Nhận ra điều này, hiện tại đã có những người ở Mỹ bắt đầu nỗ lực viết lại Wikipedia bằng cách tập hợp những người có quan điểm khác nhau cùng đóng góp.
Sẽ rất thú vị để xem cuộc vận động này sẽ dẫn đến cái gì.
Theo tôi, tất cả những điều này chỉ ra ý tưởng rằng tri thức học thuật là cái gì đó được kiểm soát bởi một thiểu số đặc quyền thông qua các cánh cửa mà họ canh gác sẽ ngày càng khó khăn để duy trì trong những năm sắp tới.
Vậy nếu bạn là một người gác cửa của tri thức, bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có nên từ bỏ cánh cửa và cố gắng tồn tại trong một thế giới mà việc sáng tạo ra tri thức đang được dân chủ hóa? Liệu bạn có nên tiếp tục gác cánh cửa trong một thế giới mà ở đó các cánh cửa đang ngày càng bị công phá và trở thành thứ yếu/ ít quan trọng?
Hoặc có thể sẽ có các lựa chọn khác?
(Vũ Đức Liêm dịch)
Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/27/gatekeeping-historical-knowledge-in-the-digital-age/

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/nguyen15581885/posts/523265691060529

Khi vịt bậy ra vàng ở Giao Chỉ

27 May

Khi vịt bậy ra vàng ở Giao Chỉ

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi còn nhớ, khi tôi còn nhỏ, một ngày nọ, bố tôi mang về nhà một cuốn sách mang tên Họ châm những điếu xì gà bằng đồng 5 đô la. Đó là nói về những nông dân nuôi cừu ở Vermontt thế kỉ XIX.

Trong vài thập kỉ ở thế kỉ XIX, Vermont là một trung tâm sản xuất len của thế giới. Cừu Merino được nhập khẩu từ Tây Ban Nha, và bởi nhiều sự kiện khác nhau trong nền kinh tế quốc tế, len Vermont trở nên thống trị thị trường thế giới.

Các nông dân nuôi cừu ở Vermont trở nên giàu có đến nỗi họ “châm những điếu xì gà bằng đồng 5 đô la” (thời đó, 5 đô la là rất nhiều tiền).

Rồi tất cả đều tan vỡ. Người ta bắt đầu nuôi cừu ở Australia, và rất là kinh tế khi làm như vậy bởi có thể nuôi hàng đàn cừu lớn ở những vùng đất rộng lớn.

Người dân ở Vermont chuyển sang sản xuất bơ sữa, nhưng việc đó hóa ra chẳng bao giờ còn là chỗ sinh lợi gần bằng việc nuôi cừu trước kia.

Những cuốn sách như thế cho tôi thấy, lịch sử có thể thú vị đến thế nào, bởi thật ngạc nhiên khi đọc thấy sự giàu có và nghèo khổ đã từng [cùng] tồn tại [một nơi] ở thế kỉ XIX, rồi ngoảnh đi ngoảnh lại và về cơ bản thấy chẳng có bằng chứng gì về nó nữa, ngoại trừ có lẽ những dấu tích của các bức tường đá từng dạy men theo rìa của những bãi chăn cừu.

Khi tôi đọc tiếp cuốn Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức, tôi lướt qua cái thông tin về một giai đoạn có những chính thể tự trị đầu tiên tồn tại ở Đồng bằng sông Hồng (thế kỉ X-XII sau CN) khiến tôi nhớ về cuốn sách trên kia.

Trần Quang Đức sử dụng nhiều nguồn tư liệu thời Tống, và tìm thấy ở đó một ít thông tin về việc có nhiều vàng như thế nào ở khu vực do các triều đại Việt đầu tiên kiểm soát, hay chính là khu vực được đề cập đến trong các nguồn tư liệu thời Tống với tên Giao Chỉ hoặc An Nam.

Chẳng hạn, khi các vua chúa Việt gửi tấu bẩm đến Hoàng đế nhà Tống,  văn bản trong các tấu bẩm này được viết bằng vàng. Người Giao Chỉ/An Nam mua nô lệ từ các khu vực phía Nam đế chế Tống (có lẽ một phần để  đưa vào làm việc trong các mỏ vàng). Và tất nhiên, trên trang phục của giới tinh hoa cầm quyền (chủ đề trong sách của Trần Quang Đức) có nhiều vàng.

Điều tôi thấy thú vị ở đây là: tôi nghĩa mình đã có một hình dung trong đầu về những triều đại Việt đầu tiên là nhỏ và đang đấu tranh để thiết lập quyền kiểm soát của họ ở khu vực này. Trong khi điều đó có vẻ vẫn là sự thật, thì một điều tôi chưa bao giờ nhận ra là… họ rất giàu (hay ít nhất một ai đó ở đó rất giàu).

Không có gì giúp tôi mường tượng về điều đó tốt hơn là một đoạn văn trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi mà Trần Quang Đức trích dẫn. Trong sách này, Chu Khứ Phi viết về những vùng đất phía Nam của đế chế Tống vào thế kỉ XII.

Trong một đoạn văn, ông kể rằng biên giới giữa đế chế Tống và Đại Việt được đánh dấu ở một vùng bằng một con sông, và ông nói rằng những con vịt và ngỗng có thể bơi thoải mái qua bên phía Giao Chỉ để kiếm ăn sau đó bơi về.

Sau khi quay về, chúng sẽ làm cái việc mà những con vịt và ngỗng thường làm – đó là ị. Và trong phân/cứt của chúng, theo Chu Khứ Phi, có thể tìm thấy nhiều vàng. Rõ ràng có khá nhiều vàng (có lẽ là vàng cám) trôi trong nước,v.v… đến nỗi những con ngỗng và vịt đã ăn vào rồi sau đó “thải ra”  khi chúng quay về nhà.

[. . .vịt ngan bơi đến bến nước Giao Chỉ tìm ăn rồi quay về, trong phân có lẫn vàng, ở bến nước trong địa phận nước ta thì không có.

. . . 鵝鴨之屬至交趾水濱遊食而歸者,遺糞類得金,在吾境水濱則無矣。]

Image

Thật ngạc nhiên!

Tôi thực sự thích hình ảnh “những con vịt ị vàng”, bởi vì ý niệm đó giúp tôi tưởng tượng về một thời điểm có một lượng vàng rất lớn xung quanh đó. Cũng giống như những nông dân nuôi cừu ở Vermont thế kỉ XIX đã có nhiều tiền đến nỗi họ có thể châm điếu xì gà bằng đồng 5 đô la, người dân Giao Chỉ ở thế kỉ XII rõ ràng cũng có nhiều vàng quanh mình đến nỗi họ không quan tâm đến việc những chú vịt của mình, hay vịt của người khác bởi qua đường biên giới, ăn rồi ị ra vàng.

Cuối cùng, dĩ nhiên có một mặt dưới hay mặt ẩn, đối với những thời điểm như thế, khi mà sự giàu có nhiều như thế có thể đạt được [bởi ai đó]. Nếu ai đó có thể trở nên giàu có dễ sợ như vậy, thì thường có một dịp tốt để ai đó khác đang bị bóc lột. Hẳn có một mặt tối đối với ngành công nghiệp [lông] cừu ở Vermont, và trong trường hợp Giao Chỉ, những người nô lệ  đang được mua kia có lẽ cũng là chỉ dấu cho thấy sự bóc lột ở đó.

Sự siêu giàu giành được từ các sản phẩm như len hoặc vàng cũng có thể biến mất nhanh khi mà các mạng lưới thương mại thay đổi hay khi các nguồn [hàng] cạn kiệt, và điều đó có thể có một tác động gây chấn thương tâm lí trong đời sống con người.

Ngày nay tôi không nghĩ rằng những con vịt ở Việt Nam còn ị ra vàng chút nào. Vì vậy có cái gì đó đã thay đổi ở một thời điểm nào đó. Tôi tò mò về thời điểm xảy ra, cách thức xảy ra, và tác động của nó lên con người ở khu vực này.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/27/when-ducks-shit-gold-in-giao-chi/

%d bloggers like this: