Các diễn ngôn, trí thức Việt Nam và sự thay đổi lịch sử quan hệ Trung – Việt

1 May

Các diễn ngôn, trí thức Việt Nam và sự thay đổi lịch sử quan hệ Trung – Việt

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Để hiểu lịch sử, bạn phải hiểu các diễn ngôn. Một diễn ngôn có thể được định nghĩa là toàn bộ tri thức và thông tin về một chủ điểm nhất định. Chẳng hạn, có một diễn ngôn ngày nay về cách sống một cuộc sống khoẻ mạnh. Có các báo cáo y khoa, các chương trình truyền hình, các bài báo và các nguồn thông tin khác không thể kể xiết đều nói về vấn đề này, và cùng thông tin này tạo nên diễn ngôn về chủ điểm này. Hơn nữa, từ khi một diễn ngôn cấu thành tất cả tri thức và toàn bộ cái đó được dùng để nói về một một chủ điểm nhất định, nó cũng quyết định cách chúng ta nghĩ và nói về chủ điểm đó.

Đối với các sử gia, việc họ cần phải hiểu về các diễn ngôn là rất quan trọng bởi các diễn ngôn thay đổi theo thời gian. Vì vậy, để hiểu một vấn đề trong một giai đoạn lịch sử nhất định, cũng như những giới hạn cho phép người ta nghĩ về vấn đề đó trong giai đoạn đó, bạn cũng phải hiểu diễn ngôn về vấn đề đó lúc bấy giờ. Ngày nay phụ nữ không hút thuốc khi họ mang thai bởi vì diễn ngôn về việc mang thai đã tạo ra một hiểu biết chung rằng hút thuốc là có hại cho một thai phụ. Tuy nhiên, vào thập kỉ 1950s và 1960s, phụ nữ mang thai (ở châu Âu và Hoa Kỳ) đã hút thuốc, khi chẳng có gì chống lại điều này trong các diễn ngôn về việc mang thai lúc bấy giờ.

Vì vậy, nếu một sử gia muốn nghiên cứu về sự mang thai và tình mẹ ở Mỹ thập kỉ 1950s, ông/bà ta không thể chỉ dùng những ý niệm của ngày hôm nay để khảo sát chủ điểm ấy, bởi vì nếu làm như vậy ông/bà ta sẽ kết luận rằng những người phụ nữ đã “ngu ngốc” vì đã hút thuốc trong khi họ đang mang thai. Thay vào đó, sử gia cần hiểu diễn ngôn về những vấn đề này lúc bấy giờ là gì, thì sau đó, ông/bà ta mới có thể hiểu việc những người phụ nữ có thai đó hút thuốc bởi nhận thức cho rằng hút thuốc khi mang thai là không tốt không hề tồn tại và vì vậy không phải là một phần của diễn ngôn về sự mang thai, cái diễn ngôn đã đặt ra những giới hạn cho những gì mà người phụ nữ có thể nghĩ về chủ điểm này.

Phần lớn người Việt nam ngày nay không nhận ra điều này, mà mối quan hệ Trung-Việt là một chủ điểm và vì nó đã từng tồn tại nhiều hơn một diễn ngôn trong suốt tiến trình lịch sử. Diễn ngôn hiện hành – rằng người Trung Quốc luôn luôn muốn “xâm chiếm” Việt Nam và rằng người Việt Nam đã luôn “chống lại sự xâm lược của Trung Quốc” trong nhiều thế kỉ – chỉ được khơi dậy từ đầu thế kỉ XX. Nó xuất hiện sau khi mối quan hệ triều cống bị đứt gãy trong cuộc chiến Trung-Pháp năm 1884-1885, và sau khi các trí thức Việt Nam được tiếp cận với các khái niệm của phương Tây về chủ nghĩa dân tộc và thuyết tiến hóa xã hội ở cuối thế kỉ XIX.

Trước thời điểm này, đã từng có một diễn ngôn rất khác về những mối quan hệ Trung-Việt. Người Việt Nam ngày nay hầu như không biết gì về diễn ngôn cũ hơn này. Những gì họ biết, họ đơn thuần chỉ bàn luận qua loa và xem như những ý niệm lầm lạc của giới tinh hoa theo Khổng giáo xưa. Tuy nhiên, làm như vậy là hoàn toàn hiểu sai mức độ thay đổi triệt để các ý niệm trong đầu của những người Việt Nam ở đầu thế kỉ XX.

Phải nói rằng, sự thay đổi triệt để này cần có một quãng thời gian dài để phát triển đầy đủ. Người ta có thể cho rằng trong khi nền tảng của diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa hiện đại về những quan hệ Trung-Việt được thiết lập trong suốt thời kì thuộc địa, thì thực chất diễn ngôn này phát triển đầy đủ ở thập kỉ 1960s (trong chiến tranh với Mỹ) và ở đầu thập kỉ 1980s (sau chiến tranh biên giới với Trung Quốc).

Điều mà hiện tượng này cho thấy là các diễn ngôn thay đổi chậm hơn là những vấn đề mà nó dường như chiếm hữu tri thức có liên quan. Quan hệ triều cống với Trung Quốc đi tới chung cục vào năm 1885, nhưng phải mất nhiều thời gian để một diễn ngôn mới xuất hiện. Nếu bạn nhìn vào các văn bản ở đầu thế kỉ 20 chẳng hạn, bạn sẽ thấy rằng trí thức Việt Nam tiếp tục xem lãnh thổ của họ là “Nam Quốc”, Vương quốc phương Nam, một khái niệm chỉ có ý nghĩa trong một thế giới mà ở đó vùng đất quan trọng nhất bền ngoài “Việt Nam” là Vương quốc phương Bắc (Bắc Quốc), hay “Trung Quốc”. Sau 1885, thực tế này không còn, nhưng phải mất một thời gian để trí thức Việt Nam nhận ra điều này, và bắt đầu nói về “Việt Nam”.

Ngày nay, trong khi đọc các bài báo trên không gian mạng, tôi có cùng một cảm giác rằng đây là giai đoạn mà thế giới đang thay đổi nhanh hơn các diễn ngôn mà người ta viện đến để nói về thế giới. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, chẳng hạn, vẫn được bàn luận bằng những khái niệm của diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa thế kỉ XX. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hoá ở thế kỉ XXI, và diễn ngôn đó không phù hợp với thực tế hiện nay tí nào.

Hết lần này đến lần khác, tôi thấy người Việt Nam bàn luận về “chủ quyền” của Việt Nam và sợ rằng nó sẽ bị mất vào tay Trung Quốc, nước “luôn có tham vọng bác bỏ chủ quyền của người Việt Nam”. Đó là những ý niệm dân tộc chủ nghĩa thế kỉ XX. Bản thân khái niệm “chủ quyền” chỉ được sử dụng ở châu Á vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX. Người Việt Nam (rồi người Trung Quốc, người Nhật Bản và người Triều Tiên) học khái niệm này từ phương Tây. Khái niệm này không hề tồn tại ở khu vực này trước thời điểm đó.

“Chủ quyền” cũng là một khái niệm đang thay đổi. Khi các ngân hàng ở Hoa Kì gần đây đưa ra nhiều gói tín dụng xấu cho những người mua nhà, nó đã tác động đến nền kinh tế ở Hoa Kỳ, nhưng toàn bộ nền kinh tế Iceland bị suy sụp và đất nước này đã phải nhận tiền cứu trợ từ Liên minh châu Âu. Có phải điều đó có nghĩa Iceland đã “mất chủ quyền”?

Trong cái mạch đó, ngay bây giờ Hoa Kỳ muốn trừng phạt BP vì đã để dầu loang ở Vịnh Mexico, nhưng nó phải khá thận trọng không đi quá xa, bởi nhiều người khác trên toàn thế giới đã đầu tư vào BP và tin tưởng vào lợi nhuận thu được từ nó, rằng, nếu sự trừng phạt đó tới sự sụp đổ ngân hàng, nó sẽ có hậu quả khủng khiếp trên toàn thế giới, và một số trong đó có thể tác động tiêu cực trở lại Hoa Kì.

Có phải điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ đã “mất chủ quyền”? Bạn có thể dễ dàng lập luận rằng thảm hoạ này đã xâm phạm (về mặt kinh tế và môi trường) đến sự “toàn vẹn lãnh thổ” của Mỹ, và rồi Hoa Kì không thể phản ứng đầy đủ. Điều đó chắc chắn giống như một sự đánh mất chủ quyền, nhưng chỉ có thể là như vậy nếu bạn nghĩ về “chủ quyền”, bằng các khái niệm dân tộc chủ nghĩa của thế kỉ XX, của một đất được vốn được coi là hoàn toàn độc lập trước các nước khác. Ngày nay, thế giới đã khác.

Nếu bạn đọc các tác phẩm của các trí thức Việt Nam đầu thế kỉ XX, bạn có thể thấy rõ một cảm giác về sự dằn vặt trong các trước tác của họ. Họ đang sống trong một thế giới đang đổi thay, và họ cần phải tạo ra những phương cách mới để tư duy và nói về thế giới. Họ không biết lúc bấy giờ các cách mới đó là gì, mà họ cố gắng cao nhất để tìm kiếm nó. Điều này là một nhiệm vụ rất khó khăn, nhưng qua thời gian họ đã thành công. Trên thực tế, tôi phải nói rằng họ đã thành công “xuất sắc”, bởi vì ngày nay các hậu duệ của họ đang ở trong cùng một hoàn cảnh một lần nữa. Thế giới đang thay đổi, và rồi trí thức Việt Nam vẫn tiếp tục tin vào những diễn ngôn tương tự. Diễn ngôn mang tính dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại về quan hệ Trung-Việt, chẳng hạn, có một sức mạnh níu giữ trí thức Việt Nam ngày nay, trong một thế giới toàn cầu hoá mới, ngang với sức mạnh níu giữ của diễn ngôn về quan hệ triều cống đối với giới tinh hoa có học trong suốt hơn một thế kỉ trước, khi mà một thế giới của các quốc gia-dân tộc đang đến gần.

Theo đó, giống như hơn một thế kỉ trước, ngày nay người ta vẫn có trong đầu một khung khổ tinh thần được tạo ra bởi các diễn ngôn mà rồi họ dùng để nghĩ và nói về một thế giới không còn gắn bó với khung khổ tinh thần ấy hay những diễn ngôn ấy. Hơn nữa, họ càng nói về những vấn đề bằng việc sử dụng các khái niệm của các diễn ngôn hiện tồn, họ càng tiếp sức cho những diễn ngôn lạc hậu tương tự như thế. Để phá bỏ vòng luẩn quẩn này, người ta phải bắt đầu nghĩ và nói bằng những cách thức mới nhằm tạo ra những diễn ngôn mới bám sát hơn với hiện thực.

Một trăm năm trước đây, trí thức Việt Nam đã làm điều đó mà không nhận ra họ đang làm gì.  Tôi nghĩ đây là lí do vì sao bạn có thể cảm thấy nhiều sự đau đớn đến thế trong các trước tác của họ, bởi vì họ không có đường hướng mà theo. Tuy nhiên, ngày nay về lí thuyết mà nói, [chúng ta] có một dạng bản đồ, bởi vì tất cả vấn đề có liên quan (như chủ điểm của các diễn ngôn và cách chúng tác động đến cách nghĩ của con người, vai trò của chủ nghĩa dân tộc,…) đã được nghiên cứu bởi nhiều người ở ngoài Việt Nam. Vì vậy, trong khi tất cả điều đó trở nên bình thường với các học giả từ Tokyo đến Frankfurt, thì nó vẫn còn là terra incognita (mảnh đất hoang) đối với nhiều đồng nghiệp của họ ở Việt Nam.

Đối với tôi rõ ràng trí thức Việt Nam nên nghiên cứu về cách các diễn ngôn hiện hành xuất hiện. Nếu họ hiểu sự khác biệt đến thế nào giữa tư tưởng của tổ tiên với những gì họ nghĩ hôm nay, và sự sâu sắc đến thế nào khi các trí thức đối xử với quá khứ và biến đổi những ý niệm của thế kỉ XX nhằm phù hợp hơn với hiện thực của một thế giới đang thay đổi, thì họ sẽ nhận ra nhu cầu khám phá một lần nữa những cách thức mới để nghĩ và nói cho thời đại mới mà chúng ta đang sống.

Tuy nhiên, có một vấn đề lớn là: một trong những nhân tố then chốt của chủ nghĩa dân tộc là nó tin vào một lịch sử được chế tác nhằm ủng hộ cho những tuyên bố của nó. Vì vậy, rất khó để ai đó sống trong một thế giới bị chi phối bởi một diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa có thể hiểu được thực chất cuộc sống thế nào trước khi bị diễn ngôn đó chi phối, bởi vì bản thân diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa đó lập luận rằng những ý niệm của nó đã được duy trì từ thời cổ, Tuy nhiên, nếu người ta khảo sát quá khứ bằng những khái niệm của bản thân quá khứ (mà không nhìn vào nó thông qua những lăng kính của chủ nghĩa dân tộc hiện đại), rồi khảo sát những cách thức mà các ý niệm đã biến đổi ở thế kỉ XX (một lần nữa, không nhìn vào thời kì này thông qua những lăng kính của chủ nghĩa dân tộc hiện đại), thì mức độ phát triển trong cách thức con người hiện suy nghĩ ở thế kỉ XX [so với trước] trở nên khá rõ ràng.

Một lần nữa, đó là một chủ điểm mà các học giả Việt Nam phải thực sự bắt tay vào nghiên cứu. Theo nghĩa hẹp, tôi ngờ rằng chúng ta đang bước vào một giai đoạn khá giống với giai đoạn một thế kỉ trước. Thế giới đang thay đổi, và trí thức Việt Nam đang bám vào những diễn ngôn từ thời đại trước. Người ta chỉ có thể tự hỏi sẽ phải mất bao lâu để thay đổi ở lần này, và một diễn ngôn mới về mối quan hệ Trung-Việt thực sự sẽ có diện mạo như thế nào [trong tương lai].

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2010/06/18/discourses-and-the-sino-vietnamese-relationship/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: