Những tự sự kiểu “nạn nhân” đậm tính dân tộc chủ nghĩa ở Trung Hoa và Việt Nam

6 May

Những tự sự kiểu “nạn nhân” đậm tính dân tộc chủ nghĩa ở Trung Hoa và Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Gần đây có những biểu hiện chống Nhật ở Trung Hoa, và những biểu hiện chống Tàu ở Việt Nam. Những biểu hiện này trong cả hai trường hợp đều liên quan đến những vấn đề về các hòn đảo không người ở nào đó (“những đảo đá ngoài biển” là khái niệm tôi thích dùng để gọi chúng hơn những khái niệm khác), nhưng cũng còn cái gì đó khác mà chúng cùng chia sẻ. Chúng đều được định hình bởi “tự sự kiểu ‘nạn nhân’ đậm tính dân tộc chủ nghĩa”.

Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người Trung Hoa nói về “nỗi nhục của đất nước” (quốc sỉ) mà họ phải đối mặt khi những người phương Tây xâm phạm đất đai của họ, bắt đầu với cuộc chiến tranh Nha phiến.

Khi những người Cộng sản nắm quyền từ năm 1949, họ tuyên bố rằng họ đã kết thúc “nỗi nhục của đất nước trong một trăm năm” (bách niên quốc sỉ). Tuy nhiên, tự sự này đã được khôi phục vào thập kỉ 1990s, và điều đó rõ ràng nằm trong những sự phản kháng gần đây.

Vào giữa thế kỉ XX, người Việt bắt đầu nói nhiều về “xung đột” và “kháng cự” và điều này cuối cùng dẫn đến ý niệm về một “lịch sử chống ngoại xâm”. Tự sự này đã tiếp tục đóng một vai trò quan trọng cho đến nay.

“Bách niên quốc sỉ” và “lịch sử chống ngoại xâm” đều là những “tự sự kiểu ‘nạn nhân”. Chúng đều khuấy động những cảm xúc bằng cách phản kháng lại cái cảm giác được tiếp nhận của người dân về việc bị đối xử sai bởi những kẻ khác, nhưng chúng cũng đang xoa dịu [người dân], bằng cách chúng ngụ ý, rằng những sự sai trái như thế đã được khắc phục trong quá khứ, và rằng toàn bộ những sự sai trái trong tương lai cũng sẽ được khắc phục như thế “nếu” người dân tiếp tục hành động cũng như họ đã được cho hành động như vậy trong quá khứ.

Trong cuốn Chủ nghĩa dân tộc mới của Trung Hoa: Niềm tự hào, nền chính trị và ngoại giao (Berkeley: University of California Press, 2005), Peter Hays Gries đã có một lời giải thích khá hay về cách thức hoạt động của những tự sự như thế trong đời sống con người. Ông nói như sau:

“Các tự sự là những câu chuyện về quá khứ của chúng ta. Những câu chuyện này, các nhà tâm lí học cho rằng, đã bao bọc lấy những đặc điểm nhận dạng của chúng ta bằng tính đơn nhất, ý nghĩa và mục đích. Vì vậy, chúng ta không thể thay đổi triệt để chúng bằng ý chí. Từ việc là những công cụ đơn giản trong phát kiến của chúng ta, những câu chuyện chúng ta kể về quá khứ vừa câu thúc vừa bị câu thúc bởi những gì chúng ta làm trong hiện tại.

Nói một cách đơn giản, ”Đặc điểm cuộc sống xã hội được kể cung cấp cho đặc điểm nhận dạng của chúng ta các nghĩa. “Đặc điểm nhận dạng”, Stuart Hall lưu ý, ‘là những cái tên chúng ta đặt cho những con đường mà chúng đã được đặt vào, và vị trí mà bản thân chúng ta đứng, bởi các tự sự về quá khứ” (trang 46).

Vì vậy, trong trường hợp Trung Hoa, “nỗi nhục của đất nước trong trăm năm” không phải là “sự thực” (bởi vì có nhiều cách khác để người ta có thể lí giải cùng giai đoạn này, đặc biệt là bằng việc xoáy vào “những thất bại” của Trung Hoa), nhưng nó cũng không phải là “chế tác” hoàn toàn (bởi những sự kiện như Chiến tranh Nha phiến thực sự đã xảy ra).

Những gì mà Peter Hays Gries đang chỉ ra, tuy vậy, là cái cách để tự sự về “nỗi nhục của đất nước trong trăm năm” trở thành một phần trong những đặc điểm nhận dạng của người dân thông qua việc nó được kể đi kể lại. Và rồi một khi đã xảy ra, nó định hình cách nghĩ và làm của họ.

Vì vậy ngày nay người Trung Hoa quyết định “rửa sạch” “nỗi nhục của đất nước” khi Nhật Bản tuyên bố chủ quyền đối với một số đảo đá ngoài biển [Hoa Đông] và người Việt quyết định “chống ngoại xâm” khi họ thấy Trung Hoa tuyên bố chủ quyền đối với các đảo đá khác ngoài biển [Đông].

Trong cả hai ví dụ này, lần lượt là người Trung Hoa rồi người Việt Nam đều nhận thấy một cảm giác về sự chính đáng mạnh mẽ của họ khi họ “hiểu” rằng họ đã bị “nạn nhân hóa” như thế bởi lần lượt là người Nhật rồi người Trung Hoa trước kia. Đồng thời, sự “hiểu biết” của họ rằng họ đã chiến thắng những sai trái đó trong quá khứ đã đưa lại cho họ sự tin tưởng trong hiện tại rằng họ sẽ chiến thắng một lần nữa.

Một điểm tôi thấy thú vị là các giá trị mà những tự sự đó tuyên xưng rõ ràng là những giá trị có thể nhận thấy là thiếu vắng trong khi những tự sự đó được tạo ra.

Paul Cohen đã chỉ ra rằng trong những năm cuối thời Thanh đầu thời Dân quốc ở Trung Hoa, có nhiều nhà văn đã chán nản khi thấy nhiều người Trung Hoa có vẻ như không hề cảm thấy nhục nhã bởi “những nỗi nhục của đất nước” đang xảy ra [Paul A. Cohen, “Remembering and Forgetting National Humiliation in Twentieth-Century China,” Twentieth-Century China 27.2 (2002): trang 1-39.]

Vì vậy, một phần nguyên nhân khiến một số trí thức nào đó viết về “nỗi nhục của đất nước” là: họ cảm thấy quá nhiều người không hề cảm thấy nhục nhã và rằng sự thay đổi tích cực sẽ không bao giờ xảy ra nếu như người dân vẫn thụ động và bàng quan.

Điều tương tự có thể áp dụng cho Việt Nam. Tự sự “chống giặc ngoại xâm” bắt đầu định hình vào nửa sau của thập kỉ 1940 khi có một nhu cầu tức thời cho việc đánh đuổi người Pháp, và rồi nó định hình lần cuối vào thập kỉ 1960 khi quốc gia bị chia cắt và khi có nhiều người không coi mình là đang “chống giặc ngoại xâm”.

Peter Hays Gries nói rằng chúng ta không thể “thay đổi triệt để [các tự sự] bằng lí trí. Điều đó có thể đúng, nhưng ít nhất cũng đáng để thay đổi chúng.

Không khó để xác định bao giờ một tự sự nào đó xuất hiện và tại sao. Khi chúng ta khám phá ra thông tin đó, thì “sự thực dễ xúc động” của tự sự ấy sẽ suy yếu đi.

Nếu có những lí giải phức tạp hơn cho những gì đã xảy ra ở Trung Hoa từ cuộc chiến tranh Nha phiến đến năm 1949 (hơn là một sự lí giải quá giản đơn – cái gợi lên những xúc cảm), thì cũng nên có những lí giải phức tạp về những gì đang xảy ra hôm nay.

Nếu lịch sử Việt Nam đã từng phức tạp hơn câu chuyện xúc động mà giản đơn về việc người dân đoàn kết chống ngoại xâm, thì những vấn đề mà Việt Nam đối mặt ngày hôm nay cũng nên được nhìn nhận phức tạp hơn.

Những vấn đề sẽ dễ được giải quyết hơn khi có ít xúc cảm hơn can dự vào và khi có nhiều dạng thức phức tạp hơn của tư duy được sử dụng. Tuy nhiên, những tự sự kiểu ‘nạn nhân’ dựa trên cực đối lập rõ ràng. Không có một liều nặng cảm xúc và một cảm quan giản đơn về thế giới, một tự sự kiểu ‘nạn nhân’ không thể sống sót.

Chừng nào những tự sự kiểu nạn nhân còn chi phối, các vấn đề sẽ còn kéo dài. Đời sống nhân loại có lẽ không thể tồn tại nếu thiếu những tự sự về bản thân con người, nhưng người ta có lẽ có thể tạo ra những tự sự cho phép sự hoạt động phức tạp hơn sự hoạt động của các tự sự kiểu nạn nhân.

Thu được một sự hiểu biết rõ ràng về thời điểm và nguyên nhân xuất hiện của các tự sự hiện hành là bước đi đầu tiên rõ ràng để đạt được điều đó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/08/25/nationalist-victim-narratives-in-china-and-vietnam/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: