“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [II]

19 May

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam

thời trung đại [II]

By: Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Liệt truyện, sự truyền miệng và các dị bản

Trong khi ngày nay Liệt truyện được xem là một nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử cổ xưa của Việt Nam, thì ở đây lại có một hiện tượng bất thường xảy ra. Tình trạng hiện tại của những bản sao hiện tồn của tác phẩm phơi bày ra điều này. Liệt truyện rõ ràng chưa từng được xuất bản. Ngày nay, có khoảng 14 bản chép tay của văn bản ở Việt Nam, với nhiều dị biệt giữa chúng(6). Trong khi chúng ta không biết phần lớn các bản chép tay được làm ra khi nào, thì nhiều bản có chứa một bài tựa có nội dung dừng lại ở năm 1492. Bài tựa này được cho là của một ông Vũ Quỳnh nào đó, người từng lưu ý trong bài tựa ấy rằng những câu chuyện hiện có trong Liệt truyện được viết bởi nhiều người khác nhau. “Không có ghi chép nào về thời điểm chúng được khởi thảo hay người đã hoàn thành chúng” Vũ Quỳnh nói về các truyện đó. “Có lẽ một bản thảo đã được tạo ra bởi những học giả xuất sắc ở thời Lí và Trần, và rồi chúng được nhuận sắc thời gần đây bởi những bậc đáng kính vốn am hiểu và hiếu cổ”(7). Một năm sau khi Vũ Quỳnh viết những dòng này, một người được biết tên là Kiều Phú đã viết một bài hậu tự, bài này xuất hiện trong một dị bản của Liệt truyện. Cuối cùng, ở thế kỉ XVIII, học giả-quan chức Lê Quý Đôn đã chép rằng “theo truyền thống” [tương truyền], Liệt truyện là công trình của một học giả có tên là Trần Thế Pháp, nhưng Lê Quý Đôn không biết ông này là ai(8). Tuy nhiên, các học giả hiện đại lại cho rằng Trần Thế Pháp là một học giả sống ở thế kỉ XIV(9).

Theo đó, vẫn còn nhiều điều chưa biết về Liệt truyện. Nó có thể được khởi thảo ở một thời điểm nào đó trong thời Lý Trần (1009 – 1400 sau CN), và rồi sau đó được nhuận sắc trước khi Vũ Quỳnh và Kiều Phú, từng người, có lẽ tạo đã ra cho mình một bản thảo riêng của văn bản vào cuối thế kỉ XV. Văn bản này có xu hướng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, Vũ Quỳnh lưu ý trong bài tựa của ông rằng khi ông đọc Liệt truyện lần đầu tiên, văn bản “là một mớ tuyệt nhiên hỗn độn của những chữ sai lạc. Không quan tâm đến sự thô bỉ của nó (chỗ này có lẽ Liam C Kelley nhầm, lẽ ra phải là “không ngại mình thô lậu” – HQV), tôi kiểm xét và đính chính nó”(10). Không rõ là sự đính chính đó chỉ dừng lại ở những chữ sai lầm hay còn mở rộng sang địa hạt nội dung. Kiều Phú, trái lại, có vẻ đã có những thay đổi đáng kể văn bản. Ông chép trong bài hậu tự của mình rằng dựa trên sự tham khảo các công trình khác của ông, và theo sự suy xét thận trọng của bản thân, ông đã đính chính và xoá bỏ những thông tin xa lạ(11).

Trong khi có nhiều nhân tố về văn bản này khiến cho nó có vấn đề, một số học giả trong những thập kỉ gần đây đã nhất quyết đặt sang một bên những sự bất ổn xung quanh nó và ôm ấp một niềm tin vào giá trị hiển nhiên của tác phẩm như một nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam cổ đại. Cụ thể là, khi các học giả DRV cố gắng kiến tạo một lịch sử mới cho vùng đất của họ trong những năm giao thời hậu thuộc địa từ thập kỉ 1950s đến thập kỉ 1970s, nhiều người đã tiến tới xem Liệt truyện như một nguồn tư liệu cực kì giá trị. Tức là, họ xem nó như là một kho truyền thuyết đã được lưu truyền qua nhiều thế kỉ trong “nhân dân” hoặc “dân gian”, và nó có thể được sử dụng hợp thức như những tài liệu lịch sử(12). Bằng việc thiết lập cái nhìn này, các học giả hiện đại hẳn phải điều hoà hai tuyên bố đối lập về Liệt truyện từ thời tiền hiện đại. Trong bài tựa năm 1492 của mình, Vũ Quỳnh lưu ý rằng:

Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa thời thái cổ, phong tục phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để ghi chép các sự kiện. Vì vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều may mắn tiếp tục còn tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của nhân dân/dân gian”(13)

Rồi ở thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn viết về Liệt truyện rằng: “Cuốn sách này vay mượn và phát triển nhiều [thông tin từ các văn bản khác] nhiều đến nỗi không thể kể xiết”. Rồi ông cung cấp một ví dụ về hiện tượng này này bằng việc trích dẫn các văn bản Trung Hoa đã gợi hứng cho một câu chuyện trong Liệt truyện(14). Trong khi Vũ Quỳnh quy nguồn gốc của ít nhất một số chất liệu trong Liệt truyện cho sự truyền khẩu của “nhân dân/dân gian” thời cổ, thì Lê Quý Đôn cho rằng nhiều nội dung trong công trình này được lấy từ những nguồn bên ngoài.

Như khi các học giả DRV đã cố tạo ra một lịch sử cho đất nước mới độc lập của họ, họ quay sang Liệt truyện để tìm thông tin về thời kì ở thiên niên kỉ đầu  trước CN khi các vua Hùng được cho là đã nắm quyền ở đây, và họ phải giải quyết việc đánh giá tính mâu thuẫn về nguồn gốc của những chất liệu này(15). Rốt cuộc, những gì các học giả bắt tay vào làm sau đó, và những gì họ tiếp tục làm bây giờ, là khăng khăng cho rằng trong khi những câu chuyện này có thể chịu ảnh hưởng ở mức độ nhất định bởi ghi chép của giới tinh hoa trong những thế kỉ sau khi chúng được tạo ra, thì song le, chúng vẫn là những câu chuyện được truyền miệng từ thời cổ(16). Tuy nhiên, khi đưa ra khẳng định như vậy, không học giả nào theo hiểu biết của tôi đã từng kiểm tra một công trình như Liệt truyện kĩ lưỡng và cho thấy chính xác thông tin gì được thêm vào sau này và chúng đến từ đâu, thông tin gì đền từ các câu chuyện truyền miệng, và làm thế nào chúng ta xác định được tất cả điều đó. Thay vào đó, các học giả chỉ đưa ra những tuyên bố chung chung thừa nhận ảnh hưởng của giới tinh hoa trong khi bảo lưu vị trí đứng đấu của nhân tố truyền miệng(17).

Kết nối với niềm tin này, rằng nằm ở cốt lõi của một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện là những thông tin đã được truyền miệng qua nhiều thế kỉ, là một sự chứng minh rằng có một “nhân dân/dân gian” xuyên qua thời kì trước khi Liệt truyện được sáng tác, dân gian đó đã gìn giữ và lưu truyền những thông tin đó. Tuy nhiên, điều này là một khẳng định có vấn đề. Ai đích xác là “nhân dân/dân gian” đối với một thành viên của giới tinh hoa có học ở thế kỉ XV, như Vũ Quỳnh? Giới học thuật về lịch sử Trung Hoa đã chứng minh rằng điều đó chỉ xảy ra ở thế kỉ XX khi người Trung Hoa có học bắt đầu có hứng thú nghiêm túc với, và bắt đầu nhận dạng, “người bình dân” hay “dân gian”(18). Việt Nam có xu hướng giống như thế, và khi các sử gia ở DRV lần đầu tiên khai thác Liệt truyện vào những năm 1950-170, họ cũng làm thế trong một thời đoạn mà lĩnh vực văn học dân gian Việt Nam mới bắt đầu phát triển và bắt đầu chú tâm vào người bình dân(19). [Vấn đề là ở chỗ], công việc này chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dân tộc lãng mạn tương tự như những gì đã ảnh hưởng đến các xu hướng văn hoá dân gian ở các nước khác trên thế giới ở mức độ nào, và các sử gia chịu ảnh hưởng bởi những ý niệm đang nảy nở lúc bấy giờ ở mức độ nào là một chủ điểm cho đến nay chưa được chú ý [giải quyết](20). Hệ quả là, các học giả Việt Nam không chất vấn sự tạo dựng [khái niệm] “nhân dân/dân gian” của họ và xem xét mức độ khác biệt của khái niệm “nhân dân/dân gian” với quan niệm của Vũ Quỳnh ở thế kỉ XV. Khi ông ta nói về “nhân dân/dân gian”, có phải Vũ Quỳnh nói đến những người nông dân không biết chữ? Hay ông ta có ý nói những người có học như bản thân ông? Đó là những câu hỏi cơ bản cần được đặt ra nhưng chưa được chú ý [giải quyết].

Một vấn đề khác là các học giả chưa hướng sự quan tâm đến quá trình truyền miệng. Các học giả Việt Nam mường tượng sự lưu truyền các truyện truyền miệng xảy ra thông qua một quá trình, mà theo Stuart Blackburn, chúng ta có thể gọi là quá trình “kế thừa trực hệ” – những câu chuyện truyền nhau bởi những thành viên của một nhóm có cùng ngôn ngữ từ thế hệ này sang thế hệ kia(21). Trong khi các học giả này chấp nhận sự tiếp xúc giữa người Việt Nam và các nhóm sắc tộc khác và thừa nhận rằng một số thông tin trong một cuốn sách như Liệt truyện có thể được kế thừa từ các nhóm người như Mường hay bắt nguồn từ một nguồn tư liệu chung, thì họ lại cho người Việt là trung tâm của sự lưu truyền này(22).

Có vô số những vấn đề với một niềm tin như thế. Người ta quan tâm đến chứng cứ mà họ trích dẫn nhằm chứng minh rằng người dân sống ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu trước CN về cơ bản là giống với người dân sống ở đó thời trung đại. Các học giả Việt Nam cho rằng những phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng từ thế kỉ đầu trước CN, như các trống đồng Đông Sơn, và những bằng chứng về các cuộc khởi nghĩa trong xấp xỉ một ngàn năm Trung Hoa cai trị, như cuộc khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ đầu sau CN, đều chỉ ra sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định ở khu vực này trong suốt thời kì dài(23). Tuy nhiên, kiểu chứng cứ này không nhất thiết ủng hộ cho một tuyên bố như thế.

Thứ nhất, việc kết hợp các di vật khảo cổ với nhóm người đã tạo ra những câu chuyện trong Liệt truyện đòi hỏi một điều là người ta đã phóng chiếu sự tồn tại của một nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử (“người Việt”) được nhận dạng từ các văn bản trung đại lên những di vật khảo cổ tiền sử. Như Siân Jones đã nói, các học giả những người đã can dự vào một sự thực hành như vậy luôn luôn nhận diện một cách thiếu phê phán một nhóm sắc tộc đặc thù từ các nguồn tư liệu lịch sử rồi sau đó tìm kiếm “những hồ sơ sắc tộc” trong các ghi chép khảo cổ học liên quan với nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử. Khi làm như vậy, họ đã bỏ qua bản chất chủ quan của cả các nguồn tư liệu lịch sử lẫn những dấu hiện nhận dạng sắc tộc, và bỏ qua cả thực tế là văn hoá vật chất không nhất thiết tương ứng với sắc tộc(24). Thứ hai, sự tồn tại của các cuộc nổi dậy khác nhau trong suốt quá trình một ngàn năm không nhất thiết phản ánh sự tồn tại của một nhóm văn hoá ổn định, cái nhóm có thể duy trì và lưu truyền các câu chuyện truyền miệng. Trên thực tế, khi Keith Taylor, không giống như các học giả Việt Nam, thực sự nỗ lực chứng minh sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định xuyên suốt một thiên niên kỉ Trung Hoa cai trị, ông đã phải viện dẫn các thuật ngữ lai ghép, như “Hán Việt” và “Đường Việt”, để giải thích các giai đoạn tiếp xúc tăng dần [giữa người Việt] với người Trung Hoa(25). Và điều này đặt ra những câu hỏi về khả năng giống nhau thế nào giữa “Đường Việt” của thế kỉ IX sau CN với “Lạc Việt” ở thiên niên kỉ đầu trước CN, và làm thế nào các câu chuyện có thể được lưu truyền trong một xã hội đầy biến động như thế.

Và một vấn đề có can hệ nhiều hơn là: Liệt truyện được ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó. Hơn nữa, nếu những cư dân đó sở hữu một kiểu cổ xưa của cái rốt cuộc sẽ trở thành ngôn ngữ tiếng Việt [sau này], như một số học giả ở Việt Nam tin tưởng, thì phải nhận thức rằng thứ ngôn ngữ nói đó đã thay đổi khá đột ngột qua các thế kỉ, đặc biệt là khi khối từ vựng Trung Hoa xâm nhập vào, trước hết là ở một mức độ hạn chế bắt đầu trong thời nhà Hán (206B trước CN – 220 sau CN), và rồi rộng mở hơn trong suốt thời kì trung đại(26). Vì vậy, nếu những thông tin cốt lõi trong một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện bắt nguồn trong các câu truyện dân gian được lưu truyền từ thời viễn cổ, thì các học giả cần phải giải thích làm thế nào có thể xảy ra điều đó, và những sự lưu truyền nào đã chuyển tải các thông tin khi ngôn ngữ tiếng Việt phát triển qua các thế kỉ và khi những thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ. Một nỗ lực tiến được hành để quyết định xem cái gì nằm trong phạm vi truyền miệng trước khi thông tin được chuyển thành bản viết, và làm thế nào chúng ta nhận ra các dấu hiệu của ngôn ngữ truyền miệng trong các nguồn tư liệu viết như thế, đã trở thành [vấn đề] trung tâm trong lĩnh vực văn học truyền miệng ở phương Tây nhiều thập kỉ qua. Tuy nhiên, các học giả phải điều tra một cách có phê phán những chủ điểm này trong trường hợp Việt Nam(27).

Vì vậy, có nhiều vấn đề cẩn phải khảo xét sâu rộng hơn nhằm chứng minh rằng những thông tin lịch sử cốt lõi về thời viễn cổ của Việt Nam có thể được lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế kỉ. Nghĩa là, các học giả ở phương Tây từ lâu đã nhận ra rằng sự kiếm tìm sự thật lịch sử trong các câu chuyện truyền miệng thế này là cực kì có vấn đề, và trong trường hợp xấu nhất đó là một “sự truy cầu điều hão huyền”(28). Một sự tiếp cận hiệu quả hơn cho các nhà sử học là kiểm xét quá trình lưu truyền truyền thống truyền miệng, vì điều đó có tính lịch sử. Do đó, không quan tâm đến việc có hay không có một sự thật lịch sử trong một câu chuyện truyền miệng, [thay vào đó] dạng thức tồn tại của nó có thể nói cho chúng ta nhiều điều về một thời điểm cụ thể trong quá khứ(29). Thay vì tìm hiểu thông tin đã không “được khảm nạm bằng những sự sắp đặt bắt nguồn từ những luồng văn hoá của các thế kỉ sau”,  theo giả thiết của Taylor, chúng ta có thể tìm tòi để xác định từ những thứ “đồ khảm nạm” này thời điểm và lí do một câu chuyện được trình bày bằng một cách thức nào đó(30). Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cũng cần tâm niệm về khả năng những bản thảo viết về những thứ ngày ngay chúng ta tin là có thể bắt nguồn từ các câu chuyện truyền miệng thực ra có thể bắt nguồn từ dạng thức viết. Chẳng hạn, trong hoàn cảnh châu Âu, Ruth Bottingheimer đã cho rằng không phải một dân gian mù chữ đã sáng tạo ra các truyện thần kì đầu tiên sau đó phổ biến chúng thông qua hình thức kể chuyện bằng miệng cho đến khi những câu chuyện đó rốt cuộc được chép lại. Thay vào đó, những câu chuyện thần kì đầu tiên được viết bởi những thành viên của giới tinh hoa có học và lần đầu tiên được phổ biến ra thông qua các bản in(31).

Cần có thái độ phê phán khi giữ cái nhìn như thế trong đầu khi khảo sát Liệt truyện. Trong khi phần lớn các học giả đã dám chắc rằng chất liệu cốt lõi trong công trình này bắt nguồn từ các truyện dân gian, thì một niềm tin như thế không thích ứng với những gì mà chúng ta biết về thể loại của văn bản này, tức là thể “chí quái”. Những ghi chép về việc kì lạ là một dạng văn bản và giới trí thức Trung Hoa bắt đầu viết trong thời Lục Triều đầy hỗn loạn về chính trị (220-589 sau CN). Chúng bao gồm những mẩu truyện tương đối ngắn về con người và sự kiện được xem là “kì lạ” hoặc “kì quái”. Để viết những ghi chép như vậy, các học giả cụ thể nào đó phải dựa vào các thông tin truyền miệng, nhưng họ cũng đào xới vào các văn bản hiện còn để tìm kiếm thông tin. Ở thời Tống (960 – 1276 sau CN), có một hứng thú được khôi phục lại đối với thể loại này và nhiều tập truyện chí quái được tạo ra. Liệt truyện có vẻ như được viết ở một thời điểm nào đó sau giai đoạn này(32).

Bởi giới trí thức thường sáng tác những truyện chí quái bằng cách lựa chọn và nhuận sắc một cách sáng tạo những thông tin từ các văn bản hiện tồn, nên một số học giả đã xem những tác phẩm này là tiền thân của thể loại tiểu thuyết. Kenneth DeWoskin chẳng hạn, đã nhấn mạnh những nhân tố bịa đặt hay tưởng tượng của những văn bản này và cho rằng sự xuất hiện của những truyện chí quái đánh dấu sự sinh thành của tiểu thuyết ở Trung Hoa. Tiếp theo là sự phát triển của các truyện ngắn [truyền kì] ở thời nhà Đường (619-907 sau CN) và sau đó là các tiểu thuyết bạch thoại ở thời Minh Thanh (1368 – 1911 sau CN)(33). Trong khi đó, Robert Campany đã phản bác lại quan điểm này. Campany tin rằng truyện chí quái đã thoát ra khỏi một truyền thống mang tính vũ trụ học trong đó trung tâm sưu tầm những đồ vật và báo cáo dị thường từ vùng ngoại biên như một phương tiện để đem lại trật tự cho thế giới. Ông cho rằng những truyện chí quái đã thực hiện một chức năng tương tự, trong đó chúng bàn luận về sự dị thường bằng thứ ngôn ngữ rõ ràng của trước tác lịch sử, bằng cách đó chúng “cho nhập tịch” cái kì lạ(34). Campany cũng lưu ý rằng những người thuộc các thị hiếu tri thức khác nhau – chúng ta có thể mệnh danh vì mục tiêu giản dị ở đây là: Đạo sĩ, Nhà sư và học giả Khổng giáo – đã sử dụng các truyện chí quái để trình bày những quan điểm hỗ trợ cho niềm tin của họ về thế giới.

Trong bài tựa của mình, Vũ Quỳnh dứt khoát đặt Liệt truyện vào thể loại chí quái. Ông ví tác phẩm với cuốn Sưu thần kí ở thế kỉ IV của Can Bảo, một trong những tác phẩm khá sớm của thể chí quái(35). Ông cũng đặt tác phẩm trong một bối cảnh Nho học phổ biến khi cho rằng tất cả các truyện về cơ bản “đề cao cái tốt và trừng phạt cái xấu” (khuyến thiện trừng ác), mệnh đề đóng vai trò cơ bản đối với một thể loại các văn bản chữ Hán là “sách đạo đức” [thiện thư](36). Thể văn này xuất hiện ở thời Tống và sử dụng khái niệm “nghiệp báo” của Phật giáo để nói về tầm quan trọng của việc thực hành đức hạnh Khổng giáo. Nhiều tác phẩm như thế đã khẳng định rằng nội dung của chúng được phi lộ bởi các vị thần, một thực hành nghi lễ gắn với các Đạo sĩ(37).

Do đó, Liệt truyện rõ ràng là một bộ phận của những khuynh hướng văn chương rộng hơn lúc bấy giờ. Trong phạm vi vấn đề người ta nên xem nó là sự thật hay hư cấu, tôi cho rằng Liệt truyện là cả hai. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, có nhiều phần trong Hồng Bàng thị truyện rõ ràng là hư cấu. Tuy nhiên, cũng hiển nhiên là mục đích của bài tiểu luận này là viết về sự tồn tại của một chính thể ở Đồng bằng sông Hồng thời trung đại đặt trong một bối cảnh địa lí và lịch sử rộng lớn hơn. Theo đó, ngược với bản chất hư cấu trong phần nhiều câu chuyện, bản thân nỗ lực tạo ra câu chuyện như thế đã là một sự thật lịch sử mà chúng ta có thể đặt trong một thời đại lịch sử đặc tương đối đặc thù. Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang [bàn về] Hồng Bàng thị truyện và khảo sát những nhân tố hư cấu và có thực của nó một cách kĩ lưỡng hơn.

Chú thích:

6. Về thông tin cơ bản về Liệt truyện, xem Trần Nghĩa, bs., Tổng tập tiểu

thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 1 (Hà Nội: Thế Giới, 1997), 145 – 152; Taylor, The Birth of Vietnam, 344 – 357; and Émile Gaspardone, “Bibliographie Annamite” [Thư mục Việt Nam],Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient 34(1934): 128 – 130.

7. Lĩnh Namchích quái liệt truyện, Chép tay: A.1200 (từ đây gọi tắt là LNCQLT), Chương /trang: 1/8a.

8. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, (1977). Chương /trang: 4/3b.

9. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2 (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1992), 192.

10. LNCQLT, 1/9b.

10. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, 190

11. Chẳng hạn xem Hoàng Hưng, “Giá trị của tư liệu về Hùng vương trong

‘Việt điện u linh’ và ‘Lĩnh Nam chích quái’” trong Hùng vương dựng nước, tập 2, bs Song Mai (HàNội: Khoa Học Xã Hội, 1972), 103 – 110.

12. LNCQLT, 1/7b.

13. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, 4/3b–4a. Trích dẫn là từ 4/3b

14. Quá trình kiến tạo một lịch sử cho đấy nước này của Việt Nam dân chủ cộng hoà được che đậy cbởi Patricia Pelley trong cuốn sách của bà Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past (Durham: Duke University Press, 2002).

15. Về ví dụ của quan điểm này, xem Trần Quốc Vượng, “Từ tư duy thần

thoại đến tư duy lịch sử” trong Hùng vương dựng nước, tập 3, bs Song Mai (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1973), 402 – 405.

18. Chẳng hạn, xem Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian. Tập 1

(Hà Nội: Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1972). Keith

Taylor cũng lưu ý rằng “những truyền thống huyền thoại [của người Việt]ư được chuyển thì mối tiếp xúc gần gũi với Trung Hoa”, nhưng ông không kiểm tra những chi tiết về sự lưu truyền này. Xem See Tay lor, The Birth of Vietnam, xvii.

18. Về Trung Hoa, xem Chang-tai Hung, Going to the People: Chinese Intellectuals and Folk Literature, 1918 – 1937 (Đến với nhân dân: Trí thức Trung Hoa và văn học dân gian, 1918 – 1937) (Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University, 1985).

19. Đinh Gia Khánh and Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian, 9 – 10.

20. Về một sự thảo luận về ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc lãng mạn đối với văn hoá dân gian, xem Roger D. Abrahams, “Phantoms of Romantic Nationalism in Folkloristics,” (Những bóng ma của chủ nghĩa dân tộc lãng mạn trong khoa nghiên cứu văn hoá dân gian) Journal of American Folklore 106, no.419 (Winter 1993): 3 – 37.

21. Stuart Blackburn, “Oral Stories and Culture Areas: From Northeast India to Southwest China” (Các câu chuyện truyền miệng và các khu vực văn hoá: từ Đông Bắc Ấn Độ đến Tây Nam Trung Hoa), South Asia: Journal of South Asian Studies 30, no 3 (December 2007): 432.

22. Về một công trình tiêu biểu, xem Phan Ngọc và Phan Đăng Nhật, “Thử xây dựng lại hệ thống huyền thoại Việt Mường” [An Effort at Reconstructing the Việt Mường Mythic System], Văn hóa dân gian [Folk Culture] số 33 (1991): 5 – 15 và số 34 (1991): 21 – 31.

23. Con số các nghiên cứu đưa ra tuyên bố như thế quá nhiều để trích dẫn ở đây. Công trình The Birth of Vietnam của Keith Taylor chịu ảnh hưởng bởi nhãn quan tương tự và đưa ra nhiều lập luận tương tự. Người đọc được cổ vũ tham vấn văn bản đó và nhiều công trình của người Việt Nam mà sách trích dẫn đưa đến cảm quan về cách tiếp cận quá khứ này.

24. SiânJones, “Historical Categories and the Praxis of Identity: The Interpretation of Ethnicity in Historical Archaeology,” (Các bảng phân loại lịch sử và tập quán của Bản sắc: sự diễn giải tính sắc tộc trong khảo cổ học lịch sử) trong  Historical Archaeology: Back From the Edge, Pedro P. A. Funari, Martin Hall và Siân Jones biên soạn (London: Routledge, 1999), 219 – 220.

25. Taylor, The Birth of Vietnam.

26. Mark Alves, “Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language,” (Nghiên cứu ngôn ngữ học về cội nguồn của ngôn ngữ Việt Nam) Journal of Vietnamese Studies 1, nos.1 – 2 (February/August 2006): 111,  122 – 133.

27. Nghiên cứu kinh điển là: Albert B. Lord, The Singer of Tales (Ca sĩ của những câu chuyện) (Cambridge: Harvard University Press, 1960).

28. David P. Henige, The Chronology of Oral Tradition: Quest for a Chimera (Khoa nghiên cứu niên đại của truyền thống truyền khẩu: Điều tra cho một Chimera) (Oxford: Clarendon Press, 1974). Henige cho rằng, ở giữa các vấn đề khác, những vấn đề của sự thiết lập niên đại về các truyền thống qua các triều đại  discusses từ các câu chuyện truyền miệng. Trong lịch sử châu Phi, có một cuộc tranh cãi quyết liệt bắt đầu ở thập kỉ 1970 giữa các nhà lịch sử nhân chủng học, những người nghĩ rằng thông tin lịch sử có thể được thu được từ các câu chuyện dân gian, và các nhà nhân chủng học cấu trúc, những người cho rằng các câu chuyệ dân gian là những sự tái hiện những thế giới quan bằng cách đội lốt lịch sử. Về một cái nhìn tổng quan về cuộc tranh cãi này và ngữ cảnh chuyên nghiệp rộng hơn của nó từ một trong những người tham gia chính, xem Jan Vansina, Living With Africa (Sống với châu Phi) (Madison: University of Wisconsin Press, 1994), 197 – 221.

29. James Fentress và Chris Wickham, Social Memory [Kí ức xã hội] (Oxford: Blackwell Publishers, 1992), 82 và 85.

30. Taylor, The Birth of Vietnam, 23.

31. Xem Ruth B. Bottigheimer, Fairy Tales: A New History [Truyện cổ tích thần kì: Một lịch sử mới] (Albany: State University of New York Press, 2009).

32. William H. Nienhauser, Jr., bt, The Indiana Companion to Traditional Chinese Literature [Sổ tay của người Indiana về Văn học Trung Hoa truyền thống] (Bloomington: Indiana University Press, 1986), 280 – 283.

33. Kenneth DeWoskin, “The Six Dynasties Chih-kuai and the Birth of Fiction,” [Truyện chí quái thời Lục Triều và Sự hình thành tiểu thuyết] trong Chinese Narrative: Critical and Theoretical Essays, Andrew H. Plaks bt (Princeton: Princeton University Press, 1977), 21 – 52.

34. Robert Ford Campany, Strange Writing: Anomaly Accounts in Early Medieval China [Tác phẩm lạ: Các truyện chí quái ở Trung Hoa sơ kì trung đại] (Albany: State University of New York Press, 1996), 201.

35. LNCQLT, 1/ 9b. Về một bản tóm lược sách này, xem Campany, Strange Writing. 52 – 62. Về bản dịch, xem Can Bảo, In Search of the Supernatural: The Written Record (Sưu thần kí), Kenneth DeWoskin và J. I. Crump, Jr. dịch (Stanford: Stanford University Press, 1996).

36. LNCQLT, 1/9a.

37. Về nhiều cuốn sách đạo đức hơn nữa, xem Cynthia J. Brokaw, Ledgers of Merit and Demerit: Social Change and Moral Order in Late Imperial China [Ghi chép sự thưởng phạt: sự thay đổi xã hội và trật tự luân lí ở đế chế Trung Hoa cuối] (Princeton: Princeton University Press, 1991).

[Còn nữa]

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: