Các cách đọc khác nhau ở Việt Nam thế kỉ XIX

25 May

Các cách đọc khác nhau ở Việt Nam thế kỉ XIX

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một trong nhiều cuốn thiện thư được xuất bản ở Việt Nam vào thế kỉ XIX là cuốn Quan Thánh Đế Quân Đào Viên minh thánh kinh 關聖帝君桃園明聖經. Nó là một văn bản được “giáng bút” bởi vị thần tên là Quan Vũ, vốn là một vị tướng nổi tiếng ở thời Tam Quốc.

Có một đoạn văn trong văn bản đó, nơi Quan Thánh nói về những điều tốt đẹp có thể xuất hiện nếu người ta “đọc” kinh của ông. Tôi dùng chữ “đọc” trong ngoặc kép vì từ đoạn văn này có thể suy ra một điều rõ ràng là văn bản đó được dự tính việc đọc bằng nhiều cách khác nhau bởi nhiều người khác nhau.

Đây là một bản dịch thô đoạn văn đó:

書生看此經,不久步青雲。

Khi hạng học trò đọc thầm kinh này, chẳng bao lâu nữa họ sẽ thỏa mãn con đường thăng tiến.

婦人誦此經,二女五男成。

Khi hạng phụ nữ tụng kinh này, họ sẽ có thể [có?] nhiều con cái thành đạt.

若為亡化念,亡化早超生。

Nếu như được đọc thuộc để [cầu] cho những linh hồn người chết, thì điều đó sẽ thúc đẩy sự chuyển hóa sang một kiếp sống mới cho họ.

若為父母念,父母享遐齡.

Nếu như được đọc thuộc để [cầu] cho cha mẹ của ai đó, thì cha mẹ người ấy sẽ hưởng tuổi thọ cao.

Có ba động từ trong đoạn văn này chỉ ba kiểu đọc khác nhau (khán 看, tụng 誦, và niệm 念, hay tôi dịch là “đọc thầm”, “tụng” và “đọc thuộc”).

Trước đây, tôi đã biết qua những động từ này, nhưng không có chỗ nào có cả 3 động từ cùng xuất hiện trong một đoạn văn như thế, vì vậy đoạn văn này khiến tôi dừng lại và cố gắng chỉ ra sự khác biệt giữa chúng. Thật là may mắn, tôi tìm thấy một luận văn trên internet được hoàn thành một thập kỉ trước bởi một người có tên là Li Yu, luận văn có tên là A History of Reading in Late Imperial China, 1000-1800 [Lịch sử đọc ở Đế quốc Trung Hoa hậu kì, 1000 – 1800].

Li Yu có một đoạn văn ở phần đầu luận văn của mình bàn về các khái niệm đọc khác nhau trong chữ Hán cổ. Khái niệm phổ biến nhất là “độc” 讀. Khái niệm này có nghĩa là “đọc to”, nhưng nó chỉ được dùng cho những kiểu văn bản nhất định. Người ta có thể “độc” các kinh điển Khổng giáo, nhưng không “độc” kinh Phật. Thay vào đó, động từ được dùng cho trường hợp đọc kinh Phật là “tụng” (tụng).

Như Li Yu giải thích, có một cảm giác đối với việc “tụng” là sự ghi nhớ và thuộc lòng. Nói khác đi, bạn sẽ thường “tụng” cái gì đó mà bạn đã ghi nhớ.

Xa hơn, và lại theo Li Yu, “khán” có vẻ có nghĩa là đọc thầm và ít hay nhiều là “quét” qua văn bản hơn là đọc to mọi từ như nghĩa của từ “độc”. Vì vậy, cô nói rằng người ta sẽ “độc” (đọc to) những sách kinh điển, nhưng “khán” (đọc thầm/quét qua) các sách sử.

Cuối cùng, “niệm” cũng có nghĩa là “đọc to”, nhưng có một cảm giác về sự lặp lại.

Những định nghĩa này đều là cái nhìn về những kiểu đọc khác nhau được nhìn từ giác độ Nho giáo chính thống. Có một hệ thống thứ bậc dành cho các khái niệm này, và ở đỉnh của hệ thống thứ bậc đó là “độc”, một động từ dùng để chỉ việc “đọc” những thứ như các sách kinh điển.

Các thiện thư hợp với vị trí nào trong hệ thống thứ bậc này? Thiện thư là những văn bản được các học giả Nho giáo sử dụng cho các mục đích khác nhau. Mặt khác, họ dùng những sách này như một cách để lôi kéo những người không học hành đi theo ý tưởng của họ về các hành vi đúng đắn.

Họ làm thế nào? Vâng, những cuốn sách này được cho là được “giáng bút” từ các vị thần, nhưng những vị thần này lại khuyến khích người ta giương cao luân lí Nho/Khổng giáo. Vì vậy, ý tưởng ở đây là: rằng những người không học hành sẽ nghe các vị thần dạy bảo và làm theo, bởi vì họ sợ các vị thần.

Vậy là trong đoạn văn trên, người phụ nữ được khuyến khích “tụng” kinh này. Giả thiết ở đây là người phụ nữ thực sự không biết chữ, nhưng họ có thể được dạy theo cách truyền miệng để ghi nhớ (ít nhất là một phần của) một văn bản mà sau đó họ có thể “tụng” nó.

Đồng thời, bản thân các học giả Nho/Khổng giáo cũng tin vào các vị thần ở một mức độ nào đó, nhưng họ phải giữ khoảng cách nhất định với các vị thần. Vì vậy hạng học trò có thể “khán” (đọc thầm) những văn bản này, và các học giả Nho/Khổng giáo trưởng thành có thể “niệm” (đọc thuộc) những văn bản đó để nhận được phần thưởng cho tổ tiên đã quá cố và cha mẹ của mình.

Tuy nhiên, không ai có thể “độc” (đọc to) những văn bản này, vì chúng không chính thống. “Độc” là một hành động đọc “quan trọng”.

Tôi cũng thấy Li Yu đề cập trong luận văn của mình rằng lịch sử của việc đọc làm một chủ đề chưa được nghiên cứu toàn diện nhiều lắm. Nhiều người đã cố nghiên cứu về sự biết đọc, biết viết rồi lịch sử của ngành in và thư tịch, nhưng lịch sử về việc đọc là chuyện khác, và vâng, nó gắn chặt các chủ đề khác lại với nhau. Nó hoàn toàn là một chủ đề đáng được nghiên cứu.

Cuối cùng, tôi tìm thấy trên YouTube một đoạn video về ai đó “đang đọc” (tôi đoán đây có lẽ là “niệm”?) Quan Thánh Đế Quan Đào Viên minh thánh kinh.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/24/multiple-ways-of-reading-in-nineteenth-century-vietnam/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: