“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [V]

26 May

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam

thời trung đại [V]

By: Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Lạc Long Quân, Âu Cơ và Liễu Nghị truyện

Trở lại với Hồng Bàng thị truyện, câu chuyện tiếp tục kể rằng mặc dù Lạc Long Quân thay thế cha ông, Kinh Dương Vương, trong vai trò lãnh đạo nước Xích Quỷ, ông dành nhiều thời gian ở dưới thuỷ phủ và chỉ xuất hiện khi người dân cần ông giúp đỡ. Gợi lại cái cách một trong những vị tổ của ông, Đế Minh, đã có chuyến du chơi phương Nam, Đế Lai cũng làm tương tự. Ở đó ông để vợ ông, Âu Cơ, ở một lâu đài trong khi ông đi thăm thú để thưởng thức sự giàu có của vùng đất [lạ], quên cả việc trở về phương bắc. Người dân phải chịu đựng sự “phiền nhiễu” này và gọi Lạc Long Quân trợ giúp. Lạc Long Quân quay trở lại và thấy Âu Cơ một mình. Ông biến mình thành một chàng trai trẻ đẹp và hai người yêu nhau. Rồi Lạc Long Quân đem Âu Cơ đi, và khi Đế Lai sai tuỳ tùng của mình đi tìm Âu Cơ, Lạc Long Quân đã biến hoá bằng vô số cách để doạ đuổi họ đi. Đế Lai đành phải quay về phương Bắc(51).

Rồi Liệt truyện kể rằng Âu Cơ đẻ ra một kiểu bọc trứng. Nghĩ rằng đây là điềm không lành, bà bỏ cái bọc ở ngoài đồng hoang, nhưng sau đó nó cho ra 100 quả trứng, mỗi quả nở ra thành một người con trai(52). Lạc Long Quân trở về thuỷ phủ và Âu Cơ bị bỏ lại, phải một mình nuôi dưỡng các con. Không thể chịu được cảnh này, Âu Cơ gọi Lạc Long quân lên và cố gắng bỏ con lại cho ông để có thể trở về phương Bắc(53). Lạc Long Quân liền nói:

“Ta thuộc giống rồng, và là thủ lĩnh của loài dưới nước, nàng là thuộc giống tiên, sống ở trên cạn. Tuy khí âm dương kết hợp lại mà sinh ra con cái, nhưng mà thủy hỏa tương khắc. Chúng ta không cùng nòi giống. Sẽ rất khó sống với nhau lâu được. Chúng ta nên chia tay nhau. Ta sẽ đem năm mươi con về Thủy Phủ, nơi chúng sẽ được các xứ mà cai trị. Năm mươi người con sẽ theo nàng sống trên cạn, và sẽ chia nước ra mà cai trị”

Năm mươi người con trai theo Âu Cơ sau đó tôn người có khả năng nhất trong số họ lên làm thủ lĩnh, gọi là Hùng Vương, và xưng nước của họ là nước Văn Lang(54).

Đoạn văn này cực kì nổi tiếng khi nhiều học giả thời hiện đại đã viết về đoeeì mà họ xem là có ý nghĩa sâu sắc chỉ mối tương tác giữa những người ở vùng nước và những người ở vùng cạn. Đặc biệt, các học giả đã xem điều này là sự biểu tượng hoá mối tương tác giữa một nền văn hoá biển và một nên văn hoá lục địa ở một thời điểm xa xôi nào đó trong quá khứ, một mối tương tác mà các học giả này nói rằng đã xác định một cách sâu sắc đặc trưng của dân Việt(55). Chẳng hạn, Keith Taylor đã cho rằng:

“Những truyền thống huyền thoại xung quanh Lạc Long Quân và nguồn gốc của các vua Hùng đã phi lộ một nền văn hoá mang thiên hướng biển đang tiến tới sự liên hệ với môi trường đất liền. Nền văn minh đến với một người anh hùng văn hoá từ biển, người đã vượt lên trên sức mạnh của lục địa bằng cách chiếm vợ của kẻ thù và biến cô ta thành mẹ của những đứa con thừa tự của mình. Chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa này đang trung hoà một mối đe đoạ của phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính chính đáng của nó, báo hiệu một mối quan hệ lịch sử giữa người Việt và người Trung Hoa. Nguồn gốc huyền thoại của các vua Hùng phản ánh một cơ sở văn hoá biển với những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa. Ý tưởng này sau đó được giới trí thức Việt Nam đưa vào phả hệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, cái đã gom tuyến đường nước phương Nam với tuyến lục địa phương Bắc vào một gia đình hoàng gia đơn nhất, trong cái gia đình đó người sáng lập được lựa chọn lùi lên tận vị hoàng đế Trung Hoa trong huyền thoại đầu tiên”(56).

Quan điểm của Taylor ở đây là, người Việt Nam đã sở hữu một “chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa đang trung hoà một sự đe đoạ của phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính chính đáng của nó” trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Tuy nhiên, không rõ người mà “mối đe doạ phương Bắc” bị làm nền bởi “một người anh hùng văn hoá trừ vùng biển” này là ai. Khẳng định của ông rằng “Nguồn gốc huyền thoại của các vua Hùng phản ánh một cơ sở văn hoá biển với những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” cũng ngụ ý rằng các thủ lĩnh Việt Nam đã kế thừa “những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Nhưng một lần nữa, không rõ “sự tác động từ lục địa” hay “những sự trưởng thành chính trị” này là gì. Tuy nhiên theo Taylor, những chủ đề này, như được thể hiện trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ, đã hiện diện trong thời điểm tiếp xúc với Trung Hoa. Rồi ở một thời điểm nào đó tiếp sau, giới trí thức Việt Nam đã trau chuốt câu chuyện này bằng cách thêm những thông tin phả hệ sớm hơn, [tức là] dẫn ngược lên đến tận Thần Nông.

Việc một văn bản dường như được viết sau cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông ở thế kỉ XIII chứa đựng “chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa đang trung hoà một mối đe đoạ của phương Bắc” nên dẫn chúng ta tới sự hoài nghi tính cổ xưa của của một chủ đề như thế. Tương tự, việc những vị thủ lĩnh chính trị trong một câu chuyện được viết bằng Hán văn cổ bởi một thành viên hay một số thành viên của giới tinh hoa Việt Nam Hán hoá được mô tả là đã kế thừa “những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” cũng nên dẫn chúng ta đến sự băn khoăn liệu “những huyền thoại cổ” này phản chiếu những cách nhìn trung đại ở mức độ nào. Nói cho công bằng, có thể có một câu chuyện nào đó được kể bởi “dân gian” không biết chữ ở một nơi nào đó ở Đồng bằng sông Hồng về một Lạc Long Quân và Âu Cơ nào đó mà những học giả trung đại đã ghi chép lại và trau chuốt nó. Tuy nhiên, ngay cả nếu một câu chuyện như thế tồn tại, vẫn thật nguy hiểm khi phú cho nó tính cổ xưa và ý nghĩa văn hoá sâu sắc mà các học giả sở hữu, đặc biệt khi có khả năng có nhiều chứng cứ tầm thường hơn minh chứng cho nguồn tư liệu [để sản sinh] một câu chuyện như thế. Chẳng hạn, một văn bản Trung Hoa thế kỉ XVII dựa trên những tài liệu được thu thập trong giai đoạn đô hộ [Đại Việt] đầu thế kỉ XV của nhà Minh bao gồm một câu chuyện địa phương về một con cá sấu trong đó phần kết câu chuyện cung cấp những thông tin dưới đây:

“Cá sấu mỗi lần đẻ mấy chục quả trứng. Trứng nở, một số bò xuống nước thành cá sấu, một số bò lên bờ, thành loài rắn lạ. Cá sấu mẹ có khi nuốt chúng để cho chúng không nảy nở nhiều”(57).

Do đó, có phải câu chuyện về năm mươi người con trai theo Lạc Long Quân xuống biển và năm mươi người con trai theo Âu Cơ lên non thực sự là sự phản ánh kí ức văn hoá sâu sắc nào đó của cuộc tiếp xúc giữa những phương thức sống dưới biển và trên lục địa? Hay có phải nó đơn thuần là một truyện kể trung đại được đan dệt bởi một học giả bản địa người được gợi hứng bởi một truyện kể hư cấu về những con cá sấu ở địa phương? Chúng ta không thể chắc chắn được, nhưng rõ ràng rất đáng khảo sát bối cảnh trung đại để tìm ra một nguồn tư liệu tiềm năng cho những thông tin trong những truyện này. Và trong khi toàn bộ hiểu biết và truyền thuyết địa phương có thể là một nguồn cảm hứng cho câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, thì chúng ta cũng không nên loại trừ khả năng câu chuyện này được gợi hứng từ những nguồn tài liệu viết.

Tất nhiên, có vô số câu chuyện về rồng và tiên trong văn học Trung Hoa liên quan đến những khu vực phía Nam sông Dương Tử. Theo đó, để xác định xem liệu có bất kì cái gì thống nhất trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ hay không, sẽ là khôn ngoan khi trước hết nên đào xới danh mục các câu chuyện Trung Hoa viết về rồng và tiên. Chỗ tốt nhất để bắt đầu có lẽ là Liễu Nghị truyện, và như đã biết, có những mối liên hệ rõ ràng giữa câu chuyện đó với câu chuyện về Kinh Dương Vương và Thần Long. Và hoá ra, cũng có những sự tương đồng giữa Liễu Nghị truyện và đoạn văn trong Liệt truyện  đã dẫn ở trên. Những mối liên hệ ở đây không trực tiếp như những mối quan hệ liên quan đến Kinh Dương Vương và Thần Long, nhưng chúng gợi ý một cách mạnh mẽ rằng câu chuyện này ít nhất gợi một số ý tưởng cho câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Trong Liễu Nghị truyện, Liễu Nghị chuyển một bức thư cho Long quân hồ Động Đình sống dưới long cung vì lợi ích của con gái ông. Khi Liễu Nghị đến cung điện, văn bản ghi chép những thông tin sau đây:

[Liễu] Nghị hỏi [một người chỉ đường cho ông đến long cung]: 

– Động Đình quân đang ở đâu?

– Chủ nhân của chúng tôi đang ở gác Huyền Châu. Ông đang bàn bạc về Hoả kinh với Thái Dương đạo sĩ. Họ có lẽ sắp kết thúc rồi.

– Hoả kinh nói về cái gì?

– Chủ nhân của chúng tôi là rồng. Sức mạnh thần thánh của rồng liên quan đến nước; với một giọt nước ông có thể chụp lên cả các ngọn núi và thung lũng. Trong khi đó, Đạo sĩ là người. Sức mạnh thần thành cua người liên quan đến lửa; với một ngọn đèn, ông ấy có thể đốt cháy cung A Phòng [một cung điện được xây dựng bởi Tần Thuỷ hoàng đế]. Vì hai loại trí tuệ thần thánh là khác nhau về chức năng, nên sự biến hoá huyền diệu cũng rất khác nhau”(58).

Khi khẳng định của Lạc Long Quân với Âu Cơ có thêm một ý nghĩa mới sau khi đọc đoạn văn này, thì tất nhiên không có cách nào khác phải thừa nhận chắc chắn rằng tác giả Hồng Bàng thị truyện đã lấy ý tưởng từ Liễu Nghị truyện để giải thích rằng sự khác biệt giữa nòi rồng, Lạc Long Quân, và dòng tiên/trên cạn, Âu Cơ, là do sự khác biệt giữa lửa và nước. Tuy nhiên, khi ai đó xem xét cái cách thông tin trong hai văn bản bao quanh các loại rồng, tiên, người, lửa, nước, khí, âm và dương, thì rõ ràng là chúng ta đang quan tâm nhiều đến những ý tưởng từ toàn bộ lĩnh vực hiểu biết và truyền thuyết của Đạo giáo hơn là những ý tưởng thuộc về một ý thức mang tính lịch sử sâu sắc về sự chạm trán xa xưa giữa hai nền văn hoá khác nhau.

Chú thích

51. LNCQLT, 1/13a – 14a.

52. Các phiên bản khác, như trong Toàn thư, đơn thuần khẳng định rằng bà đã đẻ ra 100 đứa con trai hay 100 quả trứng. Xem ĐVSKTT, “Ngoại kỷ,” 1/2a.

53. LNCQLT, 1/14a – 15a.

54. Như trên., 1/15a – 15b.

55. Chẳng hạn, xem Phạm Đức Dương, Biển với người Việt cổ [The Sea and the Ancient Việt] (Hà Nội: Văn Hóa Thông Tin, 1996), 7 – 8.

56. Taylor, The Birth of Vietnam, 1 và 3.

57. Léonard Aurousseau, bt., Ngan-nan tche yuan[An Nam chí nguyên] (Hà Nội: École Française d’Extrême-Orient, 1923), 216. Tiêu đề này không thể dịch và có vẻ như là có nhầm lẫn. Dường như nó vốn được gọi là An Nam chí. Émile Gaspardone đã bàn luận những vấn đề về tiêu đề này. Xem Émile Gaspardone, “Le Ngan-Nan Tche Yuan et Son Auteur” [An Nam chí nguyên và tác giả của nó], trong Idem, 11.

58. Lý Phưởng và những người khác, Thái Bình quảng kí, 419/3b. Ngoại trừ một ít thay đổi nhỏ của tôi, bản dịch này là của Russell E. McLeod và có thể tìm thấy trong Ma và Lau, Traditional Chinese Stories, 347 – 348.

[Còn nữa]

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: