Hán hóa, bản địa hóa và “Đại đồng tiểu dị”

31 May

Hán hóa, bản địa hóa và “Đại đồng tiểu dị”

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Như đã biết, trong thời kì thực dân, nhiều học giả châu Âu khác nhau đã đi đến sự mường tượng ra một quá trình trong quá khứ nơi vùng Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng bởi những thế lực bên ngoài. Nói khác đi, các học giả cho rằng về mặt lịch sử những người như người Việt đã bị Hán hóa còn những người như người Cambodia thì bị Ấn hóa.

Rồi với sự thiết lập các trung tâm Đông Nam Á học ở các trường đại học Bắc Mỹ, Liên hiệp Anh và Úc sau thời kì chiến tranh thế giới thứ 2, con lắc chao sang cực khác, và các học giả lại nói về sự “bản địa hóa”. Ý tưởng ở đây là: không phải các xã hội Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, mà người dân ở Đông Nam Á đã “chọn lọc” những nhân tố từ các truyền thống văn hóa ngoại lai và rồi “bản địa hóa”, hay vận dụng chúng vào những hoàn cảnh bản địa.

Một trong những người đề xướng vĩ đại nhất ý tưởng về sự bản địa hóa đó là O.W.Wolters. Chẳng hạn, Wolters cho rằng khi các học giả Việt Nam trong quá khứ trích dẫn các kinh điển “Trung Hoa”, họ đã “xả hết” ý nghĩa gốc của những văn bản đó, và sử dụng các văn bản đó cho các mục đích bản địa.

Tôi vẫn luôn tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi Wolters có thể quay ngược trở lại thời điểm 200 năm trước đây và giải thích cho một học giả như Lê Quý Đôn rằng trong những văn bản như Quần thư khảo biện hay Thánh mô hiền phạm lục của mình, nơi ông Lê trích dẫn rất nhiều từ các văn bản “Trung Hoa”, những gì ông đang làm là “xả hết” ý nghĩa gốc của các văn bản đó và dùng chúng cho những mục đích bản địa,…

Tôi hình dung rằng Lê Quý Đôn hẳn ẽ cảm thấy bị sỉ nhục đến nỗi ông muốn Wolters bị trừng phạt vì những ý tưởng “phi chính thống” như thế.

Ở một số phương diện nào đó, khả năng các sử gia diễn giải quá khứ bằng những phương thức mà những người sống trong quá khứ không thể làm là một điều tốt. Chẳng hạn, con người ngày nay có thể viết về cái gì đó như việc chiếm hữu nô lệ bằng những phương cách có lẽ có tính phê phán và sâu sắc hơn những người vốn không thể làm điều đó ở thời điểm mà việc chiếm hữu nô lệ còn hợp pháp.

Tuy nhiên, ở những phương diện khác, việc nhìn quá khứ từ hiện tại có thể có vấn đề, cũng như khi chúng ta xác định một cách sai lầm những gì là quan trọng đối với con người trong quá khứ bằng cách phóng chiếu những điều chúng ta ưu tiên và đánh giá cao lên [suy nghĩa của] họ. Đây là điều mà tôi nghĩ đã xảy ra với khái niệm bản địa hóa.

Ý tưởng về sự “Hán hóa” – rằng có làn sóng ảnh hưởng đã đi theo và thay đổi các cách thức [sống] của con người trên con đường [lan truyền] của nó – hiển nhiên là giản đơn. Tuy nhiên, ý tưởng về sự “bản địa hóa” cũng có vấn đề không kém.

Mặt khác, khá có vấn đề khi khẳng định rằng có một kiểu “truyền thống” rành rẽ nào đó (tức là, “truyền thống Ấn Độ” hay “truyền thống Trung Hoa”) ở ngoài đó, mang tính thuần nhất và trọn vẹn, và rằng cũng có những người nằm bên ngoài truyền thống đó và họ có sức mạnh và khả năng “chọn lọc” những gì họ muốn từ truyền thống đó, và “bản địa hóa” những nhân tố mà họ đã chọn.

Tuy nhiên, sự thực không nằm gần sự giản đơn và dứt khoát này.

Mặt khác, khái niệm “bản địa hóa” cũng xuyên tạc những ý niệm của người bản địa. Trong nhiều trường hợp, người bản địa trùng khớp với những hình ảnh/ý niệm/thực tiễn văn hóa không phải vì họ muốn mang tính bản địa, mà rõ ràng họ muốn trở nên giống với những gì họ thấy trong các hình ảnh, ý niệm, thực tiễn đó.

Image

Trong khi không tham gia vào cuộc  tranh cãi về khái niệm bản địa hóa, trong công trình Ngàn năm áo mũ của mình, Trần Quang Đức, tuy vậy, đã cung cấp một ví dụ rất lớn thách thức vị thế quan trọng của ý tưởng về sự bản địa hóa mà các học giả như O.W.Wolters đã đề xuất.

Nói một cách đơn giản, điều Trần Quang Đức chỉ ra là những vua chúa ở các triều đại đầu tiên của Việt Nam đã mặc những loại áo mũ nhất định vốn được cho là cũng được dùng vào thời cổ ở Trung Hoa. Tuy nhiên, sau đó, ở thế kỉ XIX, khi học giả Phan Huy Chú khảo xét quá khứ, ông khẳng định rằng không tìm thấy chứng cứ cho thấy việc sử dụng những kiểu áo mũ nhất định trong quá khứ. Và rồi sau đó, Hoàng đế Minh Mạng đã đặt ra quy định về việc sử dụng những loại áo mũ nhất định mà ông khẳng định rằng nó không được sử dụng trong lịch sử Việt Nam trước đó, mà Trần Quang Đức lại chỉ ra rằng nó đã được sử dụng từ trước.

Trần Quang Đức sử dụng thông tin này để lập luận rằng khi những triều đại mới giành được quyền lực (không chỉ ở Việt Nam mà còn ở những nơi như Triều Tiên và Nhật Bản), họ có nhu cầu thiết lập những đặc điểm cho áo mũ họ mặc. Tuy nhiên, thường là những ghi chép trước đó bị hủy hoại. Vì vậy họ phải tìm kiếm thông tin về các kiểu quần áo thích hợp cho nhà vua  và các quan chức của ông ta, và để làm như vậy, họ luôn tìm tới những thông tin từ cùng nguồn – thời cổ của “Trung Hoa”.

Image

Liệu cái cách mà người Việt Nam và Triều Tiên quyết định mặc gì có luôn luôn giống hệt với cách thức mà những vua chúa và bề tôi được cho là đã mặc trong thời cổ đại tại Trung Hoa? Không, nhưng điều đó không phải vì người Việt Nam và Triều Tiên không nỗ lực, và không phải vì họ muốn trông mình khác biệt.

Họ cố gắng để trông giống với người thời cổ hơn là cố gắng bản địa hóa. Nhưng tất nhiên là không có gì từng được tái tạo một cách hoàn hảo, nhiều sự khác biệt đã xuất hiện.

Vì vậy, Trần Quang Đức cho rằng rốt cuộc điều đã xảy ra là bạn có “nhiều điều giống và ít điều khác” (đại đồng tiểu dị) về cách thức phục trang của vua quan ở các triều đình Đông Á trong lịch sử.

Cụm từ mà Trần Quang Đức sử dụng, đại đồng tiểu dị 大同小異, có nghĩa đen là “giống nhiều khác ít” và có nguồn gốc từ tiếng Hán cổ. Tôi nghĩ nó có tác dụng giúp hình dung rõ vấn đề mà việc sử dụng khái niệm bản địa hóa đã gặp phải.

Những người như O.W.Wolters đã cổ vũ và tán dương các dấu hiệu của sự khác biệt, bởi với ông điều này thể hiện vai trò trung gian của người Đông Nam Á, điều mà các học giả thời kì thực dân đã bác bỏ.

Image

Tuy nhiên, những gì mà ví dụ về việc ăn mặc này đã chứng minh là: trong khi giới tinh hoa cầm quyền người Việt trên thực tế đã có vai trò trung gian, họ hành động không phải hướng đến sự khác biệt, mà hướng đến sự tương đồng. Họ muốn “giống” chứ không muốn “khác” và bởi những nỗ lực của họ (hay vai trò trung gian của họ) mà cái “giống” dừng lại ở lượng “lớn” chứ không phải lượng “nhỏ”.

Vì vậy, bằng cách nhận diện “sự khác biệt nhỏ” và ca ngợi chúng như là những dấu hiệu của “sự bản địa hóa”, chúng ta đã xuyên tạc những gì những người thời quá khứ đánh giá cao và nỗ lực thực hiện.

Image

46

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/30/sinicization-localization-and-big-same-small-different/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: