“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại (Full)

7 Jun

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại

Liam C. Kelley

 Người dịch: Hoa Quốc Văn

Trong một thời kì xấp xỉ nghìn năm khi những vùng đất mà ngày nay thuộc miền Bắc và một số phần của miền Trung Việt Nam đang nằm bên trong những đường biên của các đế chế Trung Hoa khác nhau, thông tin về khu vực đó phần lớn được ghi chép bởi các tác giả Trung Hoa. Những người này gom thông tin trong các bộ sử qua các triều đại về những cuộc nổi dậy và sự bổ nhiệm các quan lại đến khu vực ấy, và xếp chúng trong những loại mục của những cuốn sách mang tính bách khoa và tuyển tập về những gì mà họ xem là nhân vật và sản vật kì lạ đến từ vùng ngoại biên của đế chế. Ngay khi khu vực này trở nên tự chủ [thoát] khỏi sự cai trị của Trung Hoa vào thế kỉ X, người Việt Nam bắt đầu soạn các cuốn biên niên sử về vùng đất của họ(1). Trong quá trình này, họ cũng ghi chép thông tin chi tiết về những nhóm dân nào đó từng sống ở đây thậm chí trước thời Trung Hoa cai trị, và về nhóm dân mà các tác giả Trung Hoa không đề cập đến. Cho rằng có thông tin về các giai đoạn xa xưa của lịch sử trong các công trình của người Việt Nam, vốn không tồn tại trong các nguồn tư liệu Trung Hoa, các học giả về cơ bản đã kết luận: người Việt Nam hẳn đã có những truyền thống lịch sử của riêng mình được họ lưu truyền bằng miệng và rồi cuối cùng được viết ra ngay khi vùng đất của họ thoát khỏi sự cai trị của Trung Hoa(2). Cái nhìn bao rộng này là sai lầm. Thay vào đó, rõ ràng thông tin mới lạ mà các tác giả Việt Nam trung đại ghi chép về lịch sử cổ xưa của họ được kiến tạo ở một thời điểm nào đó trong các thế kỉ ngay trước khi và/hay sau khi Việt Nam trở thành một chính thể độc lập vào thế kỉ X, và nó cấu thành cái mà chúng ta có thể gọi là một “truyền thống được kiến tạo”(3).

Trong khi mọi truyền thống được kiến tạo ở một thời điểm nào đó, khái niệm về một “truyền thống được kiến tạo” biểu thị một kiểu truyền thống riêng biệt. Như đã được mô tả bởi Eric Hobsbawn, một truyền thống được kiến tạo là một truyền thống được tạo ra trong một thời đoạn có sự biến chuyển xã hội khi những truyền thống “cũ” và những người truyền bá chúng trở nên bất lực hoặc bị bài bác, hay khi có một nhóm nào đó nỗ lực tạo ra một bước đột phá với quá khứ bằng cách cân nhắc dừng theo những lối đi cũ. Những truyền thống được kiến tạo thường được tạo tác khá nhanh. Chúng yêu cầu và ngụ ý sự tiếp nối với quá khứ, và chúng tận dụng “những chất liệu cổ xưa để xây dựng những truyền thống được kiến tạo của một kiểu thức mới vì những mục tiêu mới”(4).

Những thông tin mà người Việt Nam trung đại ghi chép về lịch sử của họ trước thời kì Trung Hoa cai trị ứng hợp với khái niệm về một truyền thống được kiến tạo này. Bài viết này sẽ chứng minh luận điểm này bằng việc khảo xét một bài văn có tên “Truyện về họ Hồng Bàng” (Hồng Bàng thị truyện) [từ đây người dịch sẽ dùng Hồng Bàng thị truyện thay vì “Truyện về họ Hồng Bàng” như tác giả – HQV] trong một tác phẩm ở thế kỉ XV mang tên Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, một tác phẩm mà tôi sẽ gọi [tắt] là Liệt truyện. Hồng Bàng thị truyện kể lại thông tin về những cội nguồn của cái mà ngày nay chúng ta gọi là “lịch sử Việt Nam”. Nó lần theo một bảng phả hệ [bắt đầu] từ vị thủ lĩnh Trung Hoa mang tính huyền thoại, Thần Nông, đến một dãy các vị được cho là vua, tức các vua Hùng, những người đã cai trị một chính thể được gọi là Văn Lang ở đồng bằng sông Hồng trong thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên [CN]. Ngô Sĩ Liên đã thâu nhập những thông tin phả hệ tương tự này vào cuốn Đại Việt sử kí toàn thư ở cuối thế kỉ XV của ông, và các học giả cho rằng ông đã thu lượm chất liệu này từ Liệt truyện. Sự thâu nhập của nó trong Toàn thư, như tôi sẽ dùng cái tên này để gọi cuốn sách, về cơ bản đã chuyển những thông tin này vào một văn bản chính thức về những cội nguồn của các tập đoàn mang tính triều đại ở Đồng bằng sông Hồng. Ngày nay, thông tin cốt lõi từ ghi chép này, tức là những thông tin về các vua Hùng và vương quốc Văn Lang của họ, ở Việt Nam được thừa nhận rộng rãi coi như là bằng chứng lịch sử về những cội nguồn cổ xưa của lịch sử Việt Nam và về đất nước của người Việt Nam. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, một sự tin tưởng như thế khó có thể được duy trì ngay khi người ta khảo xét một cách nghiêm nhặt câu chuyện này và văn bản khởi nguồn ra nó. Thay vào đó, có chứng cớ cho thấy thông tin mà chúng ta tìm thấy trong Hồng Bàng thị truyện cấu thành một truyền thống được kiến tạo thời trung đại.

Như chúng ta sẽ thấy, việc nghi ngờ tính xác thực của thông tin trong Hồng Bàng thị truyện chắc chắn không phải là một việc làm mới lạ. Các học giả Việt Nam tiền hiện đại làm vậy ở một mức độ có hạn, và rồi họ được tiếp nối bởi những học giả có quốc tịch khác ở thế kỉ XX. Cho đến thập kỉ 1960s, người ta có thể tìm thấy nhiều nhận xét đầy hoài nghi về thông tin trong câu chuyện này từ các công trình của các học giả Việt Nam, Trung Hoa và Pháp(5). Tuy nhiên, rõ ràng lúc bấy giờ quá trình lịch sử lâu dài của sự chất vấn thông tin trong Hồng Bàng thị truyện đã bước vào một ngã rẽ mới. Các học giả Việt Nam dân chủ cộng hoà (DRV) đã có một nỗ lực có dự tính nhằm “chứng minh” sự tồn tại trong lịch sử của các vua Hùng, và thông tin trong Hồng Bàng thị truyện đóng vai trò then chốt trong nỗ lực đó. Nó là những ý kiến tranh luận và cách tiếp cận của thực thể học thuật được tạo ra bởi những học giả DRV bắt đầu từ cuối thập kỉ 1960s, và vẫn giữ vai trò chủ đạo ở Việt Nam ngày nay, mà đây chính là điều bài viết này chủ yếu phản bác lại. Cùng thời, với tư cách một nghiên cứu bằng tiếng Anh cho độc giả đọc tiếng Anh, bài viết này cũng thách thức một số điểm trong chuyên khảo của Keith Taylor năm 1983, cuốn Sự hình thành của Việt Nam [The Birth of Vietnam], một công trình được viết trong sự đồng tình với quan điểm mà các học giả DRV đã bắt đầu trình bày ở cuối thập kỉ 1960s và đầu thập kỉ 1970s.

Liệt truyện, sự truyền miệng và các dị bản

Trong khi ngày nay Liệt truyện được xem là một nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử cổ xưa của Việt Nam, thì ở đây lại có một hiện tượng bất thường xảy ra. Tình trạng hiện tại của những bản sao hiện tồn của tác phẩm phơi bày ra điều này. Liệt truyện rõ ràng chưa từng được xuất bản. Ngày nay, có khoảng 14 bản chép tay của văn bản ở Việt Nam, với nhiều dị biệt giữa chúng(6). Trong khi chúng ta không biết phần lớn các bản chép tay được làm ra khi nào, thì nhiều bản có chứa một bài tựa có nội dung dừng lại ở năm 1492. Bài tựa này được cho là của một ông Vũ Quỳnh nào đó, người từng lưu ý trong bài tựa ấy rằng những câu chuyện hiện có trong Liệt truyện được viết bởi nhiều người khác nhau. “Không có ghi chép nào về thời điểm chúng được khởi thảo hay người đã hoàn thành chúng” Vũ Quỳnh nói về các truyện đó. “Có lẽ một bản thảo đã được tạo ra bởi những học giả xuất sắc ở thời Lí và Trần, và rồi chúng được nhuận sắc thời gần đây bởi những bậc đáng kính vốn am hiểu và hiếu cổ”(7). Một năm sau khi Vũ Quỳnh viết những dòng này, một người được biết tên là Kiều Phú đã viết một bài hậu tự, bài này xuất hiện trong một dị bản của Liệt truyện. Cuối cùng, ở thế kỉ XVIII, học giả-quan chức Lê Quý Đôn đã chép rằng “theo truyền thống” [tương truyền], Liệt truyện là công trình của một học giả có tên là Trần Thế Pháp, nhưng Lê Quý Đôn không biết ông này là ai(8). Tuy nhiên, các học giả hiện đại lại cho rằng Trần Thế Pháp là một học giả sống ở thế kỉ XIV(9).

Theo đó, vẫn còn nhiều điều chưa biết về Liệt truyện. Nó có thể được khởi thảo ở một thời điểm nào đó trong thời Lý Trần (1009 – 1400 sau CN), và rồi sau đó được nhuận sắc trước khi Vũ Quỳnh và Kiều Phú, từng người, có lẽ tạo đã ra cho mình một bản thảo riêng của văn bản vào cuối thế kỉ XV. Văn bản này có xu hướng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, Vũ Quỳnh lưu ý trong bài tựa của ông rằng khi ông đọc Liệt truyện lần đầu tiên, văn bản “là một mớ tuyệt nhiên hỗn độn của những chữ sai lạc. Không quan tâm đến sự thô bỉ của nó (chỗ này có lẽ Liam C Kelley nhầm, lẽ ra phải là “không ngại mình thô lậu” – HQV), tôi kiểm xét và đính chính nó”(10). Không rõ là sự đính chính đó chỉ dừng lại ở những chữ sai lầm hay còn mở rộng sang địa hạt nội dung. Kiều Phú, trái lại, có vẻ đã có những thay đổi đáng kể văn bản. Ông chép trong bài hậu tự của mình rằng dựa trên sự tham khảo các công trình khác của ông, và theo sự suy xét thận trọng của bản thân, ông đã đính chính và xoá bỏ những thông tin xa lạ(11).

Trong khi có nhiều nhân tố về văn bản này khiến cho nó có vấn đề, một số học giả trong những thập kỉ gần đây đã nhất quyết đặt sang một bên những sự bất ổn xung quanh nó và ôm ấp một niềm tin vào giá trị hiển nhiên của tác phẩm như một nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam cổ đại. Cụ thể là, khi các học giả DRV cố gắng kiến tạo một lịch sử mới cho vùng đất của họ trong những năm giao thời hậu thuộc địa từ thập kỉ 1950s đến thập kỉ 1970s, nhiều người đã tiến tới xem Liệt truyện như một nguồn tư liệu cực kì giá trị. Tức là, họ xem nó như là một kho truyền thuyết đã được lưu truyền qua nhiều thế kỉ trong “nhân dân” hoặc “dân gian”, và nó có thể được sử dụng hợp thức như những tài liệu lịch sử(12). Bằng việc thiết lập cái nhìn này, các học giả hiện đại hẳn phải điều hoà hai tuyên bố đối lập về Liệt truyện từ thời tiền hiện đại. Trong bài tựa năm 1492 của mình, Vũ Quỳnh lưu ý rằng:

Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa thời thái cổ, phong tục phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để ghi chép các sự kiện. Vì vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều may mắn tiếp tục còn tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của nhân dân/dân gian”(13)

Rồi ở thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn viết về Liệt truyện rằng: “Cuốn sách này vay mượn và phát triển nhiều [thông tin từ các văn bản khác] nhiều đến nỗi không thể kể xiết”. Rồi ông cung cấp một ví dụ về hiện tượng này này bằng việc trích dẫn các văn bản Trung Hoa đã gợi hứng cho một câu chuyện trong Liệt truyện(14). Trong khi Vũ Quỳnh quy nguồn gốc của ít nhất một số chất liệu trong Liệt truyện cho sự truyền khẩu của “nhân dân/dân gian” thời cổ, thì Lê Quý Đôn cho rằng nhiều nội dung trong công trình này được lấy từ những nguồn bên ngoài.

Như khi các học giả DRV đã cố tạo ra một lịch sử cho đất nước mới độc lập của họ, họ quay sang Liệt truyện để tìm thông tin về thời kì ở thiên niên kỉ đầu  trước CN khi các vua Hùng được cho là đã nắm quyền ở đây, và họ phải giải quyết việc đánh giá tính mâu thuẫn về nguồn gốc của những chất liệu này(15). Rốt cuộc, những gì các học giả bắt tay vào làm sau đó, và những gì họ tiếp tục làm bây giờ, là khăng khăng cho rằng trong khi những câu chuyện này có thể chịu ảnh hưởng ở mức độ nhất định bởi ghi chép của giới tinh hoa trong những thế kỉ sau khi chúng được tạo ra, thì song le, chúng vẫn là những câu chuyện được truyền miệng từ thời cổ(16). Tuy nhiên, khi đưa ra khẳng định như vậy, không học giả nào theo hiểu biết của tôi đã từng kiểm tra một công trình như Liệt truyện kĩ lưỡng và cho thấy chính xác thông tin gì được thêm vào sau này và chúng đến từ đâu, thông tin gì đền từ các câu chuyện truyền miệng, và làm thế nào chúng ta xác định được tất cả điều đó. Thay vào đó, các học giả chỉ đưa ra những tuyên bố chung chung thừa nhận ảnh hưởng của giới tinh hoa trong khi bảo lưu vị trí đứng đấu của nhân tố truyền miệng(17).

Kết nối với niềm tin này, rằng nằm ở cốt lõi của một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện là những thông tin đã được truyền miệng qua nhiều thế kỉ, là một sự chứng minh rằng có một “nhân dân/dân gian” xuyên qua thời kì trước khi Liệt truyện được sáng tác, dân gian đó đã gìn giữ và lưu truyền những thông tin đó. Tuy nhiên, điều này là một khẳng định có vấn đề. Ai đích xác là “nhân dân/dân gian” đối với một thành viên của giới tinh hoa có học ở thế kỉ XV, như Vũ Quỳnh? Giới học thuật về lịch sử Trung Hoa đã chứng minh rằng điều đó chỉ xảy ra ở thế kỉ XX khi người Trung Hoa có học bắt đầu có hứng thú nghiêm túc với, và bắt đầu nhận dạng, “người bình dân” hay “dân gian”(18). Việt Nam có xu hướng giống như thế, và khi các sử gia ở DRV lần đầu tiên khai thác Liệt truyện vào những năm 1950-170, họ cũng làm thế trong một thời đoạn mà lĩnh vực văn học dân gian Việt Nam mới bắt đầu phát triển và bắt đầu chú tâm vào người bình dân(19). [Vấn đề là ở chỗ], công việc này chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dân tộc lãng mạn tương tự như những gì đã ảnh hưởng đến các xu hướng văn hoá dân gian ở các nước khác trên thế giới ở mức độ nào, và các sử gia chịu ảnh hưởng bởi những ý niệm đang nảy nở lúc bấy giờ ở mức độ nào là một chủ điểm cho đến nay chưa được chú ý [giải quyết](20). Hệ quả là, các học giả Việt Nam không chất vấn sự tạo dựng [khái niệm] “nhân dân/dân gian” của họ và xem xét mức độ khác biệt của khái niệm “nhân dân/dân gian” với quan niệm của Vũ Quỳnh ở thế kỉ XV. Khi ông ta nói về “nhân dân/dân gian”, có phải Vũ Quỳnh nói đến những người nông dân không biết chữ? Hay ông ta có ý nói những người có học như bản thân ông? Đó là những câu hỏi cơ bản cần được đặt ra nhưng chưa được chú ý [giải quyết].

Một vấn đề khác là các học giả chưa hướng sự quan tâm đến quá trình truyền miệng. Các học giả Việt Nam mường tượng sự lưu truyền các truyện truyền miệng xảy ra thông qua một quá trình, mà theo Stuart Blackburn, chúng ta có thể gọi là quá trình “kế thừa trực hệ” – những câu chuyện truyền nhau bởi những thành viên của một nhóm có cùng ngôn ngữ từ thế hệ này sang thế hệ kia(21). Trong khi các học giả này chấp nhận sự tiếp xúc giữa người Việt Nam và các nhóm sắc tộc khác và thừa nhận rằng một số thông tin trong một cuốn sách như Liệt truyện có thể được kế thừa từ các nhóm người như Mường hay bắt nguồn từ một nguồn tư liệu chung, thì họ lại cho người Việt là trung tâm của sự lưu truyền này(22).

Có vô số những vấn đề với một niềm tin như thế. Người ta quan tâm đến chứng cứ mà họ trích dẫn nhằm chứng minh rằng người dân sống ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu trước CN về cơ bản là giống với người dân sống ở đó thời trung đại. Các học giả Việt Nam cho rằng những phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng từ thế kỉ đầu trước CN, như các trống đồng Đông Sơn, và những bằng chứng về các cuộc khởi nghĩa trong xấp xỉ một ngàn năm Trung Hoa cai trị, như cuộc khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ đầu sau CN, đều chỉ ra sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định ở khu vực này trong suốt thời kì dài(23). Tuy nhiên, kiểu chứng cứ này không nhất thiết ủng hộ cho một tuyên bố như thế.

Thứ nhất, việc kết hợp các di vật khảo cổ với nhóm người đã tạo ra những câu chuyện trong Liệt truyện đòi hỏi một điều là người ta đã phóng chiếu sự tồn tại của một nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử (“người Việt”) được nhận dạng từ các văn bản trung đại lên những di vật khảo cổ tiền sử. Như Siân Jones đã nói, các học giả những người đã can dự vào một sự thực hành như vậy luôn luôn nhận diện một cách thiếu phê phán một nhóm sắc tộc đặc thù từ các nguồn tư liệu lịch sử rồi sau đó tìm kiếm “những hồ sơ sắc tộc” trong các ghi chép khảo cổ học liên quan với nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử. Khi làm như vậy, họ đã bỏ qua bản chất chủ quan của cả các nguồn tư liệu lịch sử lẫn những dấu hiện nhận dạng sắc tộc, và bỏ qua cả thực tế là văn hoá vật chất không nhất thiết tương ứng với sắc tộc(24). Thứ hai, sự tồn tại của các cuộc nổi dậy khác nhau trong suốt quá trình một ngàn năm không nhất thiết phản ánh sự tồn tại của một nhóm văn hoá ổn định, cái nhóm có thể duy trì và lưu truyền các câu chuyện truyền miệng. Trên thực tế, khi Keith Taylor, không giống như các học giả Việt Nam, thực sự nỗ lực chứng minh sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định xuyên suốt một thiên niên kỉ Trung Hoa cai trị, ông đã phải viện dẫn các thuật ngữ lai ghép, như “Hán Việt” và “Đường Việt”, để giải thích các giai đoạn tiếp xúc tăng dần [giữa người Việt] với người Trung Hoa(25). Và điều này đặt ra những câu hỏi về khả năng giống nhau thế nào giữa “Đường Việt” của thế kỉ IX sau CN với “Lạc Việt” ở thiên niên kỉ đầu trước CN, và làm thế nào các câu chuyện có thể được lưu truyền trong một xã hội đầy biến động như thế.

Và một vấn đề có can hệ nhiều hơn là: Liệt truyện được ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó. Hơn nữa, nếu những cư dân đó sở hữu một kiểu cổ xưa của cái rốt cuộc sẽ trở thành ngôn ngữ tiếng Việt [sau này], như một số học giả ở Việt Nam tin tưởng, thì phải nhận thức rằng thứ ngôn ngữ nói đó đã thay đổi khá đột ngột qua các thế kỉ, đặc biệt là khi khối từ vựng Trung Hoa xâm nhập vào, trước hết là ở một mức độ hạn chế bắt đầu trong thời nhà Hán (206B trước CN – 220 sau CN), và rồi rộng mở hơn trong suốt thời kì trung đại(26). Vì vậy, nếu những thông tin cốt lõi trong một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện bắt nguồn trong các câu truyện dân gian được lưu truyền từ thời viễn cổ, thì các học giả cần phải giải thích làm thế nào có thể xảy ra điều đó, và những sự lưu truyền nào đã chuyển tải các thông tin khi ngôn ngữ tiếng Việt phát triển qua các thế kỉ và khi những thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ. Một nỗ lực tiến được hành để quyết định xem cái gì nằm trong phạm vi truyền miệng trước khi thông tin được chuyển thành bản viết, và làm thế nào chúng ta nhận ra các dấu hiệu của ngôn ngữ truyền miệng trong các nguồn tư liệu viết như thế, đã trở thành [vấn đề] trung tâm trong lĩnh vực văn học truyền miệng ở phương Tây nhiều thập kỉ qua. Tuy nhiên, các học giả phải điều tra một cách có phê phán những chủ điểm này trong trường hợp Việt Nam(27).

Vì vậy, có nhiều vấn đề cẩn phải khảo xét sâu rộng hơn nhằm chứng minh rằng những thông tin lịch sử cốt lõi về thời viễn cổ của Việt Nam có thể được lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế kỉ. Nghĩa là, các học giả ở phương Tây từ lâu đã nhận ra rằng sự kiếm tìm sự thật lịch sử trong các câu chuyện truyền miệng thế này là cực kì có vấn đề, và trong trường hợp xấu nhất đó là một “sự truy cầu điều hão huyền”(28). Một sự tiếp cận hiệu quả hơn cho các nhà sử học là kiểm xét quá trình lưu truyền truyền thống truyền miệng, vì điều đó có tính lịch sử. Do đó, không quan tâm đến việc có hay không có một sự thật lịch sử trong một câu chuyện truyền miệng, [thay vào đó] dạng thức tồn tại của nó có thể nói cho chúng ta nhiều điều về một thời điểm cụ thể trong quá khứ(29). Thay vì tìm hiểu thông tin đã không “được khảm nạm bằng những sự sắp đặt bắt nguồn từ những luồng văn hoá của các thế kỉ sau”,  theo giả thiết của Taylor, chúng ta có thể tìm tòi để xác định từ những thứ “đồ khảm nạm” này thời điểm và lí do một câu chuyện được trình bày bằng một cách thức nào đó(30). Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cũng cần tâm niệm về khả năng những bản thảo viết về những thứ ngày ngay chúng ta tin là có thể bắt nguồn từ các câu chuyện truyền miệng thực ra có thể bắt nguồn từ dạng thức viết. Chẳng hạn, trong hoàn cảnh châu Âu, Ruth Bottingheimer đã cho rằng không phải một dân gian mù chữ đã sáng tạo ra các truyện thần kì đầu tiên sau đó phổ biến chúng thông qua hình thức kể chuyện bằng miệng cho đến khi những câu chuyện đó rốt cuộc được chép lại. Thay vào đó, những câu chuyện thần kì đầu tiên được viết bởi những thành viên của giới tinh hoa có học và lần đầu tiên được phổ biến ra thông qua các bản in(31).

Cần có thái độ phê phán khi giữ cái nhìn như thế trong đầu khi khảo sát Liệt truyện. Trong khi phần lớn các học giả đã dám chắc rằng chất liệu cốt lõi trong công trình này bắt nguồn từ các truyện dân gian, thì một niềm tin như thế không thích ứng với những gì mà chúng ta biết về thể loại của văn bản này, tức là thể “chí quái”. Những ghi chép về việc kì lạ là một dạng văn bản và giới trí thức Trung Hoa bắt đầu viết trong thời Lục Triều đầy hỗn loạn về chính trị (220-589 sau CN). Chúng bao gồm những mẩu truyện tương đối ngắn về con người và sự kiện được xem là “kì lạ” hoặc “kì quái”. Để viết những ghi chép như vậy, các học giả cụ thể nào đó phải dựa vào các thông tin truyền miệng, nhưng họ cũng đào xới vào các văn bản hiện còn để tìm kiếm thông tin. Ở thời Tống (960 – 1276 sau CN), có một hứng thú được khôi phục lại đối với thể loại này và nhiều tập truyện chí quái được tạo ra. Liệt truyện có vẻ như được viết ở một thời điểm nào đó sau giai đoạn này(32).

Bởi giới trí thức thường sáng tác những truyện chí quái bằng cách lựa chọn và nhuận sắc một cách sáng tạo những thông tin từ các văn bản hiện tồn, nên một số học giả đã xem những tác phẩm này là tiền thân của thể loại tiểu thuyết. Kenneth DeWoskin chẳng hạn, đã nhấn mạnh những nhân tố bịa đặt hay tưởng tượng của những văn bản này và cho rằng sự xuất hiện của những truyện chí quái đánh dấu sự sinh thành của tiểu thuyết ở Trung Hoa. Tiếp theo là sự phát triển của các truyện ngắn [truyền kì] ở thời nhà Đường (619-907 sau CN) và sau đó là các tiểu thuyết bạch thoại ở thời Minh Thanh (1368 – 1911 sau CN)(33). Trong khi đó, Robert Campany đã phản bác lại quan điểm này. Campany tin rằng truyện chí quái đã thoát ra khỏi một truyền thống mang tính vũ trụ học trong đó trung tâm sưu tầm những đồ vật và báo cáo dị thường từ vùng ngoại biên như một phương tiện để đem lại trật tự cho thế giới. Ông cho rằng những truyện chí quái đã thực hiện một chức năng tương tự, trong đó chúng bàn luận về sự dị thường bằng thứ ngôn ngữ rõ ràng của trước tác lịch sử, bằng cách đó chúng “cho nhập tịch” cái kì lạ(34). Campany cũng lưu ý rằng những người thuộc các thị hiếu tri thức khác nhau – chúng ta có thể mệnh danh vì mục tiêu giản dị ở đây là: Đạo sĩ, Nhà sư và học giả Khổng giáo – đã sử dụng các truyện chí quái để trình bày những quan điểm hỗ trợ cho niềm tin của họ về thế giới.

Trong bài tựa của mình, Vũ Quỳnh dứt khoát đặt Liệt truyện vào thể loại chí quái. Ông ví tác phẩm với cuốn Sưu thần kí ở thế kỉ IV của Can Bảo, một trong những tác phẩm khá sớm của thể chí quái(35). Ông cũng đặt tác phẩm trong một bối cảnh Nho học phổ biến khi cho rằng tất cả các truyện về cơ bản “đề cao cái tốt và trừng phạt cái xấu” (khuyến thiện trừng ác), mệnh đề đóng vai trò cơ bản đối với một thể loại các văn bản chữ Hán là “sách đạo đức” [thiện thư](36). Thể văn này xuất hiện ở thời Tống và sử dụng khái niệm “nghiệp báo” của Phật giáo để nói về tầm quan trọng của việc thực hành đức hạnh Khổng giáo. Nhiều tác phẩm như thế đã khẳng định rằng nội dung của chúng được phi lộ bởi các vị thần, một thực hành nghi lễ gắn với các Đạo sĩ(37).

Do đó, Liệt truyện rõ ràng là một bộ phận của những khuynh hướng văn chương rộng hơn lúc bấy giờ. Trong phạm vi vấn đề người ta nên xem nó là sự thật hay hư cấu, tôi cho rằng Liệt truyện là cả hai. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, có nhiều phần trong Hồng Bàng thị truyện rõ ràng là hư cấu. Tuy nhiên, cũng hiển nhiên là mục đích của bài tiểu luận này là viết về sự tồn tại của một chính thể ở Đồng bằng sông Hồng thời trung đại đặt trong một bối cảnh địa lí và lịch sử rộng lớn hơn. Theo đó, ngược với bản chất hư cấu trong phần nhiều câu chuyện, bản thân nỗ lực tạo ra câu chuyện như thế đã là một sự thật lịch sử mà chúng ta có thể đặt trong một thời đại lịch sử đặc tương đối đặc thù. Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang [bàn về] Hồng Bàng thị truyện và khảo sát những nhân tố hư cấu và có thực của nó một cách kĩ lưỡng hơn.

Dòng dõi, Những cuộc hôn phối tại địa phương và sách Hoa Dương Quốc chí

Hồng Bàng thị truyện là một câu chuyện mang tính phả hệ về một thị tộc được định danh là Hồng Bàng, một cái tên chưa bao giờ được giải thích. Nó bắt đầu bằng việc chỉ ra những nguồn gốc của thị tộc này từ vị thủ lĩnh trong thần thoại Trung Hoa là Thần Nông(38). Câu chuyện kể rằng Thần Nông có hậu duệ tên là Đế Minh, Đế Minh lại có người con là Đế Nghi. Đế Minh đi tuần thú về phía Nam đế chế, đến tận một nơi gọi là Ngũ Lĩnh, thuộc về vùng ranh giới phía Bắc của khu vực mà ngày ngay thuộc tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Ở đó ông gặp người con gái của một nàng Vụ Tiên nào đó, một cái tên mà nghĩa đen là “nàng tiên xinh đẹp”, và đưa cô ta về phương Bắc cùng ông. Người phụ nữ này sau đó sinh cho ông một người con trai tên là Lộc Tục. Đế Minh muồn truyền ngôi cho người con trai này, nhưng Lộc Tục từ chối và thay vào đó cố nài xin truyền ngôi cho người anh cùng cha khác mẹ là Đế Nghi. Đế Minh do đó phong Đế Nghi làm người thừa kế của mình và giao cho ông cai trị phương Bắc, trong khi phong Lộc Tục là “Kinh Dương Vương” và giao cho ông cai trị phương Nam, lãnh địa của ông được gọi là nước Xích Quỷ (nghĩa đen là “Quỷ đỏ”).

Đoạn mở đầu này theo đó bàn về cách một hậu duệ của thủ lĩnh huyền thoại Trung Hoa là Thần Nông, cưới một người con gái phương Nam, và cách đứa trẻ của cuộc hôn nhân đó, tức Kinh Dương Vương, được giao nhiệm vụ cai trị phương Nam. Việc tấn phong này cho thấy rằng Kinh Dương Vương đứng ở một vị trí thấp hơn so với người anh cùng cha khác mẹ là người cai trị phương Bắc. Một sự sắp đặt như thế dĩ nhiên phản ánh mối quan hệ chủ-thần mà Trung Hoa và Việt Nam duy trì trong thời đại Liệt truyện được viết ra. Trong khi đó, toàn bộ câu chuyện này, phản chiếu một đoạn văn trong một văn bản sớm hơn, cuốn Hoa Dương quốc chí.

Cuốn Hoa Dương quốc chí, được viết vào thế kỉ IV sau CN và là cuốn sử hầu như về một khu vực mà ngày nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên của Trung Hoa. Trong thiên niên kỉ đầu tiên trước CN, Tứ Xuyên được chia làm 2 nước Ba và Thục, và Hoa Dương quốc chí quan tâm đến các nước này. Phần Thục chí bắt đầu bằng một đoạn văn khá giống với đoạn mở đầu trong Hồng Bàng thị truyện. Tuy nhiên, thay vì bắt đầu với Thần Nông, Thục chí lại bắt đầu với Nhân Hoàng, một thủ lĩnh được cho là sống trước Thần Ông, mà Thần Nông lại sống trước Hoàng Đế. Nhân Hoàng cũng được cho là đã chia thế giới được biết thành chín khu vực. Thục chí bắt đầu như sau:

“Nước Thục dựng nước bắt đầu từ Nhân Hoàng, ông đã đặt Thục ngang hàng với Ba. Thời Hoàng Đế, con ông là Chang Yi lấy con gái họ Thục Sơn, sinh ra một con trai tên là Cao Dương, trở thành Đế Cốc. Đế Cốc phong tước vị cho các thành viên của các chi bàng hệ trong gia tộc mình ở đất Thục, nơi họ đã phụng sự [vương quốc] qua nhiều thế hệ với tư cách là hầu tước và nam tước. Điều đó được tiếp nối qua các triều Hạ, Thương, Chu”(40).

Rõ ràng như mọng đợi, thông tin trong đoạn văn này rất giống với đoạn mở đầu Hồng Bàng thị truyện của Liệt truyện. Đặc biệt, cũng như Hồng Bàng thị truyện, văn bản này tạo nên sự kết nối về phả hệ với một thủ lĩnh Trung Hoa huyền thoại, có một đứa con được sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa một phụ nữ địa phương với một hậu duệ của vị thủ lĩnh ấy, và rồi có những thành viên khác của gia đình cá nhân ấy được phong làm người cai trị địa phương ấy. Nói khác đi, cả Liệt truyện Hoa Dương quốc chí tạo ra một câu chuyện giống nhau nhằm kết nối những địa điểm tương ứng với một nhân vật ở thời cổ đại của Trung Hoa. Nếu chúng ta xem xét đoạn mở đầu Toàn thư ở thế kỉ XV của Ngô Sĩ Liên, một văn bản được viết gần như ngang với thời điểm Vũ Quỳnh “hiệu đính” Liệt truyện và viết bài tựa cho nó, chúng ta sẽ thấy thậm chí còn nhiều sự tương đồng hơn nữa với Hoa Dương quốc chí.

Trong Toàn thư, Ngô Sĩ Liên tái tạo lại thông tin phả hệ từ Liệt truyện trong đó nối Thần Nông với Kinh Dương Vương. Tuy nhiên, ông bắt đầu xử lí chất liệu này bằng một chú thích của riêng mình trong đó chỉ ra những mối liên hệ khác giữa nước ông và các vị thủ lĩnh Trung Hoa cổ xưa khác nữa. Trong chú thích này, Ngô Sĩ Liên gọi quê hương ông là Giao Chỉ, một cái tên cổ mà Trung Hoa đã đặt cho vùng đất chính của đồng bằng sông Hồng, và gọi là Nam Giao, một khái niệm xuất hiện ở một trong những văn bản Trung Hoa cổ nhất, cuốn Thượng thư, trong đó có lẽ cũng chỉ một khu vực tương tự. Ông cũng đề cập đến các thủ lĩnh Trung Hoa cổ khác, như Hoàng Đế huyền thoại, [Đế] Nghiêu, và bề tôi của ông, Hy Thúc, cũng như nhân vật nửa lịch sử [nửa huyền thoại] là Vũ, người sáng lập nổi tiếng của triều Hạ (khoảng thế kỉ XXI trước CN đến thế kỉ XVI trước CN). Trích dẫn:

“Thời Hoàng Đế, muôn nước được thiết lập và Giao Chỉ phân ranh giới về phía Tây Nam, xa ngoài đất của Bách Việt(41). Đế Nghiêu sai Hy [Thúc] đến ở Nam Giao để định vị đất Giao Chỉ ở phương Nam. Rồi vua Vũ chia thiên hạ làm chín châu. Đất Bách Việt thuộc về đất Dương Châu. Giao Chỉ thuộc về đất ấy(42).

Hoàng Đế, Nghiêu và Vũ đều được ghi chép là có đóng góp cho sự phân định ranh giới và sắp đặt của thế giới như nó được biết đối với người Trung Hoa thời cổ, và Ngô Sĩ Liên kết nối vùng đất của ông với những cá nhân đó và với những nỗ lực của họ. “Muôn nước” là một khái niệm có thể tìm thấy trong các nguồn tư liệu Trung Hoa cổ. Tuy nhiên, tôi không biết có đoạn văn nào trong bất kì nguồn tư liệu nào khẳng định rằng “Giao Chỉ được phân định ranh giới” ở thời Hoàng Đế hay không. Tương tự, có một dòng trong sách Thượng thư khẳng định rằng vị thủ lĩnh thời xưa, Nghiêu, đã sai một người có tên là Hy Thúc đến ở Nam Giao, nhưng mục đích của ông là để xác định nông lịch(43). Thượng thư không đề cập gì đến Giao Chỉ hay vị trí của nó ở phương Nam. Và cuối cùng, Vũ được cho là đã chia thiên hạ thành chín châu, cũng như Nhân Hoàng trước đó đã từng chia thiên hạ thành 9 vùng, nhưng những văn bản đề cập đến điều này chẳng nói gì đến Giao Chỉ trong hệ thống sắp đặt ấy cả.

Vì vậy, Ngô Sĩ Liên đã kiến tạo những mối liên hệ nhất định giữa vùng đất của ông và những hành động của những nhân vật nhất định trong thời viễn cổ Trung Hoa. Trong Toàn thư, ông đặt thông tin này ngay trước ghi chép về phả hệ [họ Hồng Bàng] từ Thần Nông đến Kinh Dương Vương, những ghi chép bắt nguồn từ Liệt truyện. Đặt bên nhau, thông tin này thiết lập vô số mối liên hệ giữa những nhân vật ở Trung Hoa thời cổ và khu vực mà rốt cuộc Việt Nam sẽ xuất hiện. Hơn thế, nó đã vận hành đúng với cung cách phản chiếu rất sát đoạn mở đầu của “Thục Chí” trong Hoa Dương quốc chí. Do đó, trong khi Ngô Sĩ Liên và (các) tác giả của Liệt truyện tham gia vào nhiều sự sáng tạo khi họ soạn những công trình của mình, lúc đó đã từng có sự tồn tại một mô hình rõ ràng cho những dự đồ như thế trong Hoa Dương quốc chí.

Kinh Dương Vương và “Truyện Liễu Nghị”

Trong khi chúng ta chỉ có thể tư biện rằng đoạn mở đầu trong Hồng Bàng thị truyện được gợi ý từ một tác phẩm như Hoa Dương quốc chí, thì những đoạn khác trong câu chuyện cho thấy những sự song hành trực tiếp hơn với những thông tin trong các văn bản hiện còn. Câu chuyện tiếp tục kể rằng Kinh Dương Vương, nhân vật được giao cai trị phương Nam, có thể đi vào các vùng nước [thuỷ phủ], một khái niệm mà các nguồn tài liệu Trung Hoa dùng để chỉ nơi ở của các vị thần nước và các vua rồng. Có lẽ không gian phải là ở thuỷ phủ để ông gặp một phụ nữ có tên Thần Long, nghĩa là “Rồng thiêng”, là con gái của một Động Đình quân nào đó, một người có cùng cái tên với một hồ lớn ở trung tâm Trung Hoa ngày nay. Kinh Dương Vương cưới Thần Long và Thần Long sinh ra một con trai, Sùng Lãm, người sẽ được gọi là Lạc Long Quân. Rồi câu chuyện lưu ý rằng Lạc Long Quân nắm quyền cai trị vương quốc của cha và dạy cho dân cày cấy và nuôi tằm. Nó cũng lưu ý rằng lúc bấy giờ xuất hiện một trật tự tôn ti giữa đấng chí tôn và bề tôi, giữa người trên và kẻ dưới, cũng như những mối quan hệ đúng đắn giữa cha với con, giữa chồng với vợ(44).

Những nhân vật như Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân không được đề cập trong các nguồn tư liệu Trung Hoa. Trong khi những bình luận trong đoạn văn về một trật tự tôn ti đúng đắn xuất hiện trong giai đoạn xa xưa này rõ ràng phản ánh cái nhìn của Khổng giáo, thì nhiều học giả lại có xu hướng tin rằng Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân hẳn phải là những người anh hùng văn hoá có thật của người Việt Nam, và phải tìm hiểu để lí giải nguồn gốc của họ. Chẳng hạn, học giả được chú ý là Đào Duy Anh đã cố gắng làm điều đó với trường hợp Kinh Dương Vương trong một số công trình học thuật của mình cuối những năm 1940 đầu 1950. Đào Duy Anh, cũng như nhiều hoc giả khác lúc bấy giờ,  tin rằng người Việt Nam trong lịch sử đã di cư xuôi về phía Nam đến đồng Bằng sông Hồng từ những khu vực ở Nam Trung Hoa(45). Ông chỉ ra rằng khu vực xuang quanh sông Dương Tử nơi có hồ Động Đình đã được biết đến từ thời cổ là khu vực của hai châu Kinh [Jing;荊] và Dương [Yang;楊]. Những chữ trong tên hai châu này đồng âm với những chữ “Kinh” và “Dương” trong cái tên Kinh Dương Vương [涇陽], nhưng chúng được viết khác nhau. Đào Duy Anh nhận ra điều này và cho rằng câu chuyện về Kinh Dương Vương có lẽ bắt nguồn từ khi người Việt đang sống dọc sông Dương Tử ở khu vực châu Kinh và Dương, và rằng qua nhiều thế kỉ người Việt truyền miệng câu chuyện này khi họ di cư về phía Nam đến đồng bằng Sông Hồng. Khi câu chuyện rốt cuộc được viết ra, ai đó đã chọn các từ đồng âm của Kinh và Dương, do đó làm mờ đi sự kết nối sử thực giữa Kinh Dương Vương và những vùng địa lí là “Kinh” và “Dương” mà ngày nay là miền Trung Trung Hoa. Do đó, Đào Duy Anh cho rằng một khi nhận ra nghĩa đen của Kinh và Dương, sự tồn tại của một Động Đình Quân cũng có nghĩa [cho thấy] rằng những cái tên đó đều gắn với một khu vực có cùng tên gọi, nơi mà ông nghĩ rằng đó là quê gốc của người Việt(46).

Đây là một lí thuyết khéo léo, và tôi lưu ý ở đây để cung cấp một ví dụ về kiểu nỗ lực mà các học giả Việt Nam đã làm để hợp lí hoá những thông tin lạ lẫm trong Liệt truyện và kết nối nó với một hình thức lịch sử khả chứng hơn. Tuy nhiên, rốt cuộc, lí thuyết này không chính xác. Trước hết, ngày nay ý tưởng cho rằng người Việt di cư xuống phía Nam vào Việt Nam đã không còn hợp khẩu vị nữa khi các nhà ngôn ngữ học hiện thời xem những cội nguồn của người Việt nằm ở khu vực ngày nay là miền Trung Việt Nam và những phần phía Đông của Lào(47). Thứ hai, lí thuyết này bỏ qua những mối liên hệ rõ ràng giữa đoạn văn này và một truyện ngắn thời Đường có tên Liễu Nghị truyện của Lí Triều Uy vào thế kỉ VIII. Câu chuyện này xuất hiện đầu tiên trong một tập truyện chí quái triều Đường, tập Dị văn kí của Trần Hãn. Sau đó nó được đưa vào một bố tổng tập ở thế kỉ X là Thái Bình quảng kí ở một chương dành trọn cho những thông tin nói về rồng.

“Câu chuyện về Liễu Nghị” xảy ra trong thời Nghi Phụng (676-678) dưới sự trị vì của Đường Cao Tông. Nó kể về một học giả trẻ tên là Liễu Nghị người, sau khi thi trượt ở kinh đô, quyết đính đến thăm một người bạn ở quận Kinh Dương [涇陽] tỉnh Sơn Tây. Lưu ý rằng những chữ Kinh, Dương trong tên quận ở đây giống với chữ trong tên Kinh Dương Vương. Trên đường đi, Liễu Nghị gặp một cô gái chăn dê và phát hiện ra rằng cô gái là con của Long quân hồ Động Đình. Bố mẹ cô đã gả cô cho Kinh Xuyên quân ở Sơn Tây, nhưng ông ta đã đối xử tệ với cô và cuối cùng ruồng rẫy cô. Rồi cô nhờ cậy Liễu Nghi mang thư gửi cho cha mình, Long quân hồ Động Đình, và tóm lại, cuối cùng Liễu Nghị đã lấy cô con gái của Long quân(48).

Câu chuyện này rõ ràng là sự gợi ý cho cuộc hôn nhân giữa Kinh Dương Vương và Thần Long, con gái của Động Đình quân mà chúng ta thấy trong Liệt truyện Toàn thư. Trên thực tế, nó là một mối liên hệ không phải không được lưu ý trong quá khứ, bởi nó được bình luận trong Toàn thư. Văn bản Toàn thư được đặt rải rác với những chú thích ngắn gọn. Không rõ là ai hoặc là Ngô Sĩ Liên hoặc là một học giả nào đó sau này đã viết những lời bình luận này. Dù thế nào, sau đoạn nói về cuộc hôn nhân này, Toàn thư cũng có một bình luận có phần khó hiểu sau đây:

“Theo Đường kỉ, Kinh Dương lúc bấy giờ có người phụ nữ chăn dê, xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ hai của Kinh Xuyên, nhưng sau đó nàng bị bỏ. Cô giao một bức thư cho Liễu Nghị, người đệ trình một kỉ vật choi Động Đình quân. Thế thì, những cuộc hôn nhân qua nhiều thế hệ giữa Kinh Xuyên và Động Đìnhđã có một lịch sử lâu dài”(49).

Bất kể là ai viết bình luận này rõ ràng đều biết những thông tin trong Liễu Nghị truyện, mặc dù ông khẳng định rằng nó bắt nguồn từ “Đường kỉ”(50). Tuy nhiên, lời bình luận khá rối rắm, đặc biệt là dòng cuối khi nó lưu ý rằng những cuộc hôn nhân giữa Kinh Xuyên và Động Đình “có một lịch sử lâu dài”. Như đã nói ở trên, Kinh Dương và Kinh Xuyên đều là 2 địa điểm ở tỉnh Sơn Tây, và cả hai đều được đề cập đến trong Liễu Nghị truyện. Rõ ràng, người nào đó viết bình luận này đã gần như kết hợp Kinh Dương Vương với Kinh Dương ở Sơn Tây khi mà những chữ này là giống nhau. Có vẻ như người chú thích đang cố gắng nói rằng từ khi Kinh Dương Vương cưới con gái Động Đình quân thời xa xưa, và từ khi có một cuộc hôn nhân ở thời Đường giữa con gái út của Động Đình Quân và một người nào đó ở khu vực Kinh Dương, thì đã có một lịch sử hôn nhân lâu dài giữa hai vùng đất này.

Vấn đề là một trong những nhân vật đã cưới con gái Động Đình Quân là một con người, Kinh Dương Vương, còn người kia lại là con trai của một con sông, Kinh Xuyên. Điều này rõ ràng là phi lí nhìn từ thực tế lịch sử, nhưng nó có thể hiểu được bởi thông tin từ Liễu Nghị truyện là hư cấu, cũng như câu chuyện về Kinh Dương Vương. Rốt cuộc, một số học giả Việt Nam có vẻ nhận ra điều này. Cuốn Khâm định Việt sử thông giám cương mục ở thế kỉ XIX, một cuốn sử mà nội dung được kiểm duyệt bởi triều đình nhà Nguyễn, đã không nhắc gì đến cuộc hôn nhân giữa Kinh Dương Vương và con gái Động Đình quân, một dấu hiệu cho thấy ai đó đã nhận ra rằng thông tin này rõ ràng là một kiến tạo.

Lạc Long Quân, Âu Cơ và Liễu Nghị truyện

Trở lại với Hồng Bàng thị truyện, câu chuyện tiếp tục kể rằng mặc dù Lạc Long Quân thay thế cha ông, Kinh Dương Vương, trong vai trò lãnh đạo nước Xích Quỷ, ông dành nhiều thời gian ở dưới thuỷ phủ và chỉ xuất hiện khi người dân cần ông giúp đỡ. Gợi lại cái cách một trong những vị tổ của ông, Đế Minh, đã có chuyến du chơi phương Nam, Đế Lai cũng làm tương tự. Ở đó ông để vợ ông, Âu Cơ, ở một lâu đài trong khi ông đi thăm thú để thưởng thức sự giàu có của vùng đất [lạ], quên cả việc trở về phương bắc. Người dân phải chịu đựng sự “phiền nhiễu” này và gọi Lạc Long Quân trợ giúp. Lạc Long Quân quay trở lại và thấy Âu Cơ một mình. Ông biến mình thành một chàng trai trẻ đẹp và hai người yêu nhau. Rồi Lạc Long Quân đem Âu Cơ đi, và khi Đế Lai sai tuỳ tùng của mình đi tìm Âu Cơ, Lạc Long Quân đã biến hoá bằng vô số cách để doạ đuổi họ đi. Đế Lai đành phải quay về phương Bắc(51).

Rồi Liệt truyện kể rằng Âu Cơ đẻ ra một kiểu bọc trứng. Nghĩ rằng đây là điềm không lành, bà bỏ cái bọc ở ngoài đồng hoang, nhưng sau đó nó cho ra 100 quả trứng, mỗi quả nở ra thành một người con trai(52). Lạc Long Quân trở về thuỷ phủ và Âu Cơ bị bỏ lại, phải một mình nuôi dưỡng các con. Không thể chịu được cảnh này, Âu Cơ gọi Lạc Long quân lên và cố gắng bỏ con lại cho ông để có thể trở về phương Bắc(53). Lạc Long Quân liền nói:

“Ta thuộc giống rồng, và là thủ lĩnh của loài dưới nước, nàng là thuộc giống tiên, sống ở trên cạn. Tuy khí âm dương kết hợp lại mà sinh ra con cái, nhưng mà thủy hỏa tương khắc. Chúng ta không cùng nòi giống. Sẽ rất khó sống với nhau lâu được. Chúng ta nên chia tay nhau. Ta sẽ đem năm mươi con về Thủy Phủ, nơi chúng sẽ được các xứ mà cai trị. Năm mươi người con sẽ theo nàng sống trên cạn, và sẽ chia nước ra mà cai trị”

Năm mươi người con trai theo Âu Cơ sau đó tôn người có khả năng nhất trong số họ lên làm thủ lĩnh, gọi là Hùng Vương, và xưng nước của họ là nước Văn Lang(54).

Đoạn văn này cực kì nổi tiếng khi nhiều học giả thời hiện đại đã viết về đoeeì mà họ xem là có ý nghĩa sâu sắc chỉ mối tương tác giữa những người ở vùng nước và những người ở vùng cạn. Đặc biệt, các học giả đã xem điều này là sự biểu tượng hoá mối tương tác giữa một nền văn hoá biển và một nên văn hoá lục địa ở một thời điểm xa xôi nào đó trong quá khứ, một mối tương tác mà các học giả này nói rằng đã xác định một cách sâu sắc đặc trưng của dân Việt(55). Chẳng hạn, Keith Taylor đã cho rằng:

“Những truyền thống huyền thoại xung quanh Lạc Long Quân và nguồn gốc của các vua Hùng đã phi lộ một nền văn hoá mang thiên hướng biển đang tiến tới sự liên hệ với môi trường đất liền. Nền văn minh đến với một người anh hùng văn hoá từ biển, người đã vượt lên trên sức mạnh của lục địa bằng cách chiếm vợ của kẻ thù và biến cô ta thành mẹ của những đứa con thừa tự của mình. Chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa này đang trung hoà một mối đe đoạ của phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính chính đáng của nó, báo hiệu một mối quan hệ lịch sử giữa người Việt và người Trung Hoa. Nguồn gốc huyền thoại của các vua Hùng phản ánh một cơ sở văn hoá biển với những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa. Ý tưởng này sau đó được giới trí thức Việt Nam đưa vào phả hệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, cái đã gom tuyến đường nước phương Nam với tuyến lục địa phương Bắc vào một gia đình hoàng gia đơn nhất, trong cái gia đình đó người sáng lập được lựa chọn lùi lên tận vị hoàng đế Trung Hoa trong huyền thoại đầu tiên”(56).

Quan điểm của Taylor ở đây là, người Việt Nam đã sở hữu một “chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa đang trung hoà một sự đe đoạ của phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính chính đáng của nó” trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Tuy nhiên, không rõ người mà “mối đe doạ phương Bắc” bị làm nền bởi “một người anh hùng văn hoá trừ vùng biển” này là ai. Khẳng định của ông rằng “Nguồn gốc huyền thoại của các vua Hùng phản ánh một cơ sở văn hoá biển với những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” cũng ngụ ý rằng các thủ lĩnh Việt Nam đã kế thừa “những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Nhưng một lần nữa, không rõ “sự tác động từ lục địa” hay “những sự trưởng thành chính trị” này là gì. Tuy nhiên theo Taylor, những chủ đề này, như được thể hiện trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ, đã hiện diện trong thời điểm tiếp xúc với Trung Hoa. Rồi ở một thời điểm nào đó tiếp sau, giới trí thức Việt Nam đã trau chuốt câu chuyện này bằng cách thêm những thông tin phả hệ sớm hơn, [tức là] dẫn ngược lên đến tận Thần Nông.

Việc một văn bản dường như được viết sau cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông ở thế kỉ XIII chứa đựng “chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa đang trung hoà một mối đe đoạ của phương Bắc” nên dẫn chúng ta tới sự hoài nghi tính cổ xưa của của một chủ đề như thế. Tương tự, việc những vị thủ lĩnh chính trị trong một câu chuyện được viết bằng Hán văn cổ bởi một thành viên hay một số thành viên của giới tinh hoa Việt Nam Hán hoá được mô tả là đã kế thừa “những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục địa” cũng nên dẫn chúng ta đến sự băn khoăn liệu “những huyền thoại cổ” này phản chiếu những cách nhìn trung đại ở mức độ nào. Nói cho công bằng, có thể có một câu chuyện nào đó được kể bởi “dân gian” không biết chữ ở một nơi nào đó ở Đồng bằng sông Hồng về một Lạc Long Quân và Âu Cơ nào đó mà những học giả trung đại đã ghi chép lại và trau chuốt nó. Tuy nhiên, ngay cả nếu một câu chuyện như thế tồn tại, vẫn thật nguy hiểm khi phú cho nó tính cổ xưa và ý nghĩa văn hoá sâu sắc mà các học giả sở hữu, đặc biệt khi có khả năng có nhiều chứng cứ tầm thường hơn minh chứng cho nguồn tư liệu [để sản sinh] một câu chuyện như thế. Chẳng hạn, một văn bản Trung Hoa thế kỉ XVII dựa trên những tài liệu được thu thập trong giai đoạn đô hộ [Đại Việt] đầu thế kỉ XV của nhà Minh bao gồm một câu chuyện địa phương về một con cá sấu trong đó phần kết câu chuyện cung cấp những thông tin dưới đây:

“Cá sấu mỗi lần đẻ mấy chục quả trứng. Trứng nở, một số bò xuống nước thành cá sấu, một số bò lên bờ, thành loài rắn lạ. Cá sấu mẹ có khi nuốt chúng để cho chúng không nảy nở nhiều”(57).

Do đó, có phải câu chuyện về năm mươi người con trai theo Lạc Long Quân xuống biển và năm mươi người con trai theo Âu Cơ lên non thực sự là sự phản ánh kí ức văn hoá sâu sắc nào đó của cuộc tiếp xúc giữa những phương thức sống dưới biển và trên lục địa? Hay có phải nó đơn thuần là một truyện kể trung đại được đan dệt bởi một học giả bản địa người được gợi hứng bởi một truyện kể hư cấu về những con cá sấu ở địa phương? Chúng ta không thể chắc chắn được, nhưng rõ ràng rất đáng khảo sát bối cảnh trung đại để tìm ra một nguồn tư liệu tiềm năng cho những thông tin trong những truyện này. Và trong khi toàn bộ hiểu biết và truyền thuyết địa phương có thể là một nguồn cảm hứng cho câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, thì chúng ta cũng không nên loại trừ khả năng câu chuyện này được gợi hứng từ những nguồn tài liệu viết.

Tất nhiên, có vô số câu chuyện về rồng và tiên trong văn học Trung Hoa liên quan đến những khu vực phía Nam sông Dương Tử. Theo đó, để xác định xem liệu có bất kì cái gì thống nhất trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ hay không, sẽ là khôn ngoan khi trước hết nên đào xới danh mục các câu chuyện Trung Hoa viết về rồng và tiên. Chỗ tốt nhất để bắt đầu có lẽ là Liễu Nghị truyện, và như đã biết, có những mối liên hệ rõ ràng giữa câu chuyện đó với câu chuyện về Kinh Dương Vương và Thần Long. Và hoá ra, cũng có những sự tương đồng giữa Liễu Nghị truyện và đoạn văn trong Liệt truyện  đã dẫn ở trên. Những mối liên hệ ở đây không trực tiếp như những mối quan hệ liên quan đến Kinh Dương Vương và Thần Long, nhưng chúng gợi ý một cách mạnh mẽ rằng câu chuyện này ít nhất gợi một số ý tưởng cho câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Trong Liễu Nghị truyện, Liễu Nghị chuyển một bức thư cho Long quân hồ Động Đình sống dưới long cung vì lợi ích của con gái ông. Khi Liễu Nghị đến cung điện, văn bản ghi chép những thông tin sau đây:

[Liễu] Nghị hỏi [một người chỉ đường cho ông đến long cung]:

– Động Đình quân đang ở đâu?

– Chủ nhân của chúng tôi đang ở gác Huyền Châu. Ông đang bàn bạc về Hoả kinh với Thái Dương đạo sĩ. Họ có lẽ sắp kết thúc rồi.

– Hoả kinh nói về cái gì?

– Chủ nhân của chúng tôi là rồng. Sức mạnh thần thánh của rồng liên quan đến nước; với một giọt nước ông có thể chụp lên cả các ngọn núi và thung lũng. Trong khi đó, Đạo sĩ là người. Sức mạnh thần thành cua người liên quan đến lửa; với một ngọn đèn, ông ấy có thể đốt cháy cung A Phòng [một cung điện được xây dựng bởi Tần Thuỷ hoàng đế]. Vì hai loại trí tuệ thần thánh là khác nhau về chức năng, nên sự biến hoá huyền diệu cũng rất khác nhau”(58).

Khi khẳng định của Lạc Long Quân với Âu Cơ có thêm một ý nghĩa mới sau khi đọc đoạn văn này, thì tất nhiên không có cách nào khác phải thừa nhận chắc chắn rằng tác giả Hồng Bàng thị truyện đã lấy ý tưởng từ Liễu Nghị truyện để giải thích rằng sự khác biệt giữa nòi rồng, Lạc Long Quân, và dòng tiên/trên cạn, Âu Cơ, là do sự khác biệt giữa lửa và nước. Tuy nhiên, khi ai đó xem xét cái cách thông tin trong hai văn bản bao quanh các loại rồng, tiên, người, lửa, nước, khí, âm và dương, thì rõ ràng là chúng ta đang quan tâm nhiều đến những ý tưởng từ toàn bộ lĩnh vực hiểu biết và truyền thuyết của Đạo giáo hơn là những ý tưởng thuộc về một ý thức mang tính lịch sử sâu sắc về sự chạm trán xa xưa giữa hai nền văn hoá khác nhau.

Lạc và Hùng

Sau khi lần theo một phả hệ từ Thần Nông đến Lạc Long Quân, Hồng Bàng thị truyện kết thúc với một lời luận bàn về các vua Hùng và nước Văn Lang. Thông tin trong phần cuối này, giống như toàn bộ các thông tin trước, không thể tìm thấy trong các nguồn tư liệu lịch sử Trung Hoa, trừ một trường hợp không hoàn toàn – cái tên “Hùng”. Một nguồn tư liệu lịch sử Trung Hoa chép rằng có những vị thủ lĩnh ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ thứ nhất trước CN được gọi là “Hùng”. Tuy nhiên, cũng có những nguồn tư liệu khác khẳng định rằng những vị thủ lĩnh này được gọi là “Lạc”.  Sự không nhất quán này là cội nguồn của một cuộc tranh luận đã được thổi bùng lên lúc mạnh lúc yếu suốt thế kỉ trước.

Đó là học giả Pháp, Henri Maspero, người bắt đầu cuộc tranh luận này vào đầu thế kỉ XX khi ông lưu ý rằng trong các nguồn tư liệu lịch sử Trung Hoa những kí tự để ghi cả “Lạc” [雒] và “Hùng” [雄] xuất hiện trong một đoạn văn đề cập đến những vị thủ lĩnh ở Đồng bằng sông Hồng trước khi xuất hiện sự cai trị của Trung Hoa trong khu vực này. Maspero khảo xét những nguồn tư liệu này và kết luận rằng một người sao chép Trung Hoa đã chép nhầm từ “Lạc” [雒] sang “Hùng” [雄] vào một thời điểm nào đó, và người Việt đơn thuần chỉ duy trì lỗi chép nhầm này. Maspero không phủ nhận rằng đã từng có những vị thủ lĩnh ở Đồng bằng sông Hồng trước khi có sự sáp nhập vùng đất này vào đế chế Tần và Hán. Thay vào đó, ông đơn thuần cho rằng những vị thủ lĩnh này được gọi là Lạc hơn là Hùng(59). Tuy nhiên, có một vẻ ngạo mạn thực dân trong nhận định của Maspero rằng người Việt Nam đơn thuần chỉ sao lại một lỗi lầm mà chẳng nhận ra nó và từ đó đã gọi những vị vua lập nước của mình bằng một khái niệm sai lầm qua nhiều thế kỉ. Hiểu rõ giọng điệu và những ngụ ý trong quan niệm của Maspero, ta không ngạc nhiên khi nhận định của ông rốt cuộc gây ra nhiều tranh cãi. Sự tranh cãi bắt đầu từ thập kỉ 1940, và cho đến cuối thập kỉ 1960 đầu thập kỉ 1970 nó đạt đến một kết luận mang tính chính trị, theo đó ngả về cái tên “Hùng”(60). Tuy nhiên, nó cũng phải tiến đến một kết luận khoa học. Trong khi các học giả bàn luận liên miên về việc chọn chữ nào là đúng, lạc hay hùng, thì ít người tranh luận về đoạn văn lớn hơn mà trong đó có các chữ xuất hiện ở những nguồn tư liệu Trung Hoa cổ xưa. Tuy nhiên, khi nhìn vào đoạn văn và lịch sử văn bản của nó, đáp án cho câu hỏi khái niệm nào đúng hơn trở nên rõ ràng hơn.

Sự tranh cãi này tập trung xung quang và nguồn tư liệu được cho là gốc. Hai trong số đó có chứa chữ “Lạc”, và một chứa chữ “Hùng”. Tất cả các công trình này nay đã mất, nhưng những đoạn văn [còn lại] của chúng được trích dẫn trong các tác phẩm hiện còn. Nguồn tư liệu chính đầu tiên là Giao Châu ngoại vực kí. Những chứng cớ về văn bản gợi ý rằng công trình này có niên đại từ hoặc cuối thế kỉ III hoặc đầu thế kỉ IV sau CN(61). Đoạn văn trong công trình này có chép về những vị thủ lĩnh xưa ở Đồng bằng Sông Hồng được bảo lưu trong cuốn Thuỷ kinh chú ở thế kỉ VI của Lịch Đạo Nguyên. Trích dẫn:

“Giao Châu ngoại vực chí chép rằng ‘trong quá khứ, trước khi Giao Chỉ có quận và huyện, vùng đất này đã có ruộng Lạc. Ruộng này theo sự lên xuống của nước lũ, và vì vậy người dân đã khai khẩn ruộng này để trồng cấy, họ được gọi là dân Lạc. Lạc vương và Lạc hầu được bổ nhiệm để cai trị các quận huyện khác nhau. Nhiều huyện có các lạc tướng. Lạc tướng đeo ấn đồng treo trên dây thao xanh”(62).

Đoạn văn này chứa đựng những thông tin trái ngược. Nó có ý miêu tả một giai đoạn trước khi Trung Hoa vào cai trị (tức là trước khi người Trung Hoa thiết lập “các quận và huyện””), nhưng nó lại dùng thuật ngữ Trung Hoa, như “hầu”, “tướng”, “huyện”, và “ấn đồng buộc trên dây thao xanh” trong sự miêu tả của nó. Điều này tạo ra sự bối rối. Ai bổ nhiệm các Lạc vương/hầu? Những người có “ấn đồng treo trên dây thao xanh” là ai? Làm thế nào Lạc dân từng cai trị “các quận huyện” nếu họ sống ở một giai đoạn trước khi có sự thiết lập [các đơn vị hành chính] quận và huyện? Cuối cùng, một điểm khác biệt không rõ ràng ở đoạn văn này là: khái niệm “Lạc” chỉ cái gì? Trong đoạn văn, chữ này thể hiện một âm của tiếng nước ngoài hơn là nghĩa. Nhiều học giả đã cho rằng nó hẳn phải biểu thị cái gì đó trong một thứ ngôn ngữ bản xứ có liên quan đến lời khẳng định rằng “Ruộng này theo sự lên xuống của nước lũ”, rồi văn bản khẳng định rằng “vì vậy người dân đã khai khẩn ruộng này để trồng cấy, họ được gọi là Lạc dân”. Tuy nhiên, bản thân chữ này chẳng cung cấp chứng cứ gì ngoài việc nó rõ ràng được dùng để tái hiện một âm hơn là một nghĩa.

Nguồn tài liệu có nội dung gốc khác hàm chứa khái niệm “Lạc”, và thường được trích dẫn trong cuộc tranh cãi dài lâu này, là một công trình được biết đến dưới nhiều cái tên. Một văn bản đề cập đến nó có tên là Ích Châu truyện, và một tiền thân của văn bản tương tự có đề cập đến nó có tên là Quảng Châu kí. Chúng ta hãy dừng lại một chút ở đây để khảo sát dấu tích về văn bản của nguồn tư liệu này, như nó đã bộc lộ nhiều về bản chất của những nguồn tài liệu mà cuộc tranh luận về “Hùng” hay “Lạc” đã dựa vào.

Có một cuốn biên niên sử Trung Hoa cổ được biết với cái tên Sử kí được soạn vào thế kỉ đầu sau CN. Sau đó, ở thế kỉ VIII, một học giả có cái tên Tư Mã Trinh đã viết một tập bình luận cho văn bản này lấy tên là Sử kí sách ẩn. Trong tập bình luận này, Tư Mã Trinh đưa vào hầu như toàn bộ thông tin tương tự về đồng bằng sông Hồng như đã trích ở trên. Nguồn của trích dẫn này là một công trình có tên Ích Châu truyện. Tuy nhiên, Tư Mã Trinh đã chỉ ra trong lời bình luận của mình rằng, ông đã thực sự không được tham khảo văn bản này. Thay vào đó, ông thu được thông tin ấy từ một trích dẫn trong một công trình được viết bởi một “Diêu thị” nào đó. Nhiêu Tông Di đã xác định rằng Diêu thị này có thể là Yao Cha (Diêu …)?, một học giả/quan chức đã qua đời ở đầu thế kỉ VII và là người đã viết phần bình luận, phần này nay đã không còn, cho cuốn Hán thư. Có lẽ xuất phát từ cuốn này mà Tư Mã Trinh đã thu được đoạn trích về Đồng Bằng Sông Hồng vốn có nguồn gốc từ Ích Châu truyện.

Vậy là ở thế kỉ VIII, Tư Mã Trinh đã trích dẫn một công trình của Yao Cha, một học giả/quan chức đã chết ở thế kỉ trước, người lại trích dẫn sách Ích Châu truyện. Đối với văn bản mà Yao Cha đã trích, không rõ khi nào nó được viết, và do ai. Nhiêu Tông Di tìm thấy một ít văn bản có cái tên hoặc là Ích Châu truyện hoặc là Ích Châu kí có từ các giai đoạn triều Hán, thời Tam Quốc và thời Lương (206 trước CN – 557 sau CN). Vì vậy, trong khi không rõ chính xác bao giờ Ích Châu truyện như trích dẫn của Tư Mã Trinh được soạn, thì đoạn văn về đồng bằng sông Hồng của nó như sau:

“Triệu thị dẫn Ích Châu truyện, trong đó nói rằng: Giao Chỉ có Lạc điền, ruộng ấy dựa vào sự lên xuống của nước lũ. Người dân sống cạnh ruộng ấy được gọi là Lạc dân. Ở đó có Lạc vương và lạc hầu. [Thủ lĩnh] các quận khác nhau tự gọi mình là Lạc tướng. Với ấn đồng treo trên dây thao xanh, họ giống như những quan địa phương các huyện hiện nay”(63).

Hẳn nhiên là đoạn văn này rõ ràng hơn đoạn văn tương tự trong Giao Châu ngoại vực kí. Những vấn đề như thông tin trái ngược về Lạc vương và Lạc hầu được bổ nhiệm cai trị các quận và huyện ở một giai đoạn trước khi các quận huyện được thiết lập, và nghi vấn về người bổ nhiệm họ, đã được loại trừ.

Một ít thế kỉ sau khi Tư Mã Trinh thâu nhập thông tin này vào lời bình luận của ông cho sách Sử kí, thông tin này được giản hoá còn xa hơn. Nó xuất hiện khi lời bình luận của Tư Mã Trinh, cho đến thời điểm này nó đã là một văn bản độc lập, được sáp nhập vào thực thể văn bản Sử kí và được xuất bản kết hợp cả chính văn và phần bình luận ở thời Nam Tống (1127 – 1279 sau CN). Khi điều này xảy ra, vì lí do nào đó tên của văn bản mà Diêu thị đã tham khảo nhiều thế kỉ trước đã được đổi tên từ Ích Châu truyện thành Quảng Châu kí. Một số thay đổi cũng được tiến hành khi trích dẫn đoạn văn, đến nỗi nó xuất hiện như dưới đây:

Trong phần “Sách ẩn” (ở Sử kí), Diêu thị đã dẫn Quảng châu kí trong đó nói rằng “Giao Chỉ có ruộng Lạc, ruộng đó dựa vào sự lên xuống của nước. Nhân dân sống ở bên ruộng ấy được gọi là Lạc hầu. Những thủ lĩnh cấp huyện khác nhau tự gọi họ là Lạc tướng. Với ấn đồng treo trên dây thao xanh, họ giống như những quan địa phương các huyện hiện nay”(64).

Thêm vào sự thay đổi tiêu đề, sự khác nhau đáng chú khác trong phiên bản này là nó không còn đề cập đến “Lạc dân” hay “Lạc vương” nữa. Đây là một điểm quan trọng mà chúng tôi sẽ còn trở lại. Ở đây, chúng ta hãy thuần tuý lưu ý rằng rõ ràng thông tin này, được quy cho hoặc Ích Châu truyện hoặc Quảng Châu kí, đã trải qua những lĩnh vực phức tạp của quá trình truyền tin và nó đã thay đổi dọc theo con đường đó. Từ văn bản có thể là bản nguồn nào đó, thông tin này được trích dẫn bởi Diêu thị ở thế kỉ VII, sau đó ông này lại được Tư Mã Trinh trích dẫn lại ở thế kỉ VIII, ở đây những bình luận của Tư Mã Trinh được thay đổi khi chúng được gộp vào một ấn bản mới của cuốn Sử kí, cuốn này được soạn trong thời Nam Tống ở khoảng thế kỉ XII đến XIII.

Nguồn tư liệu cơ bản cuối cùng nói về những thủ lĩnh cổ xưa ở Đồng bằng sông Hồng là cuốn Nam Việt chí. Công trình này được cho là của học giả thế kỉ V, Thân Hoài Viễn(65). Ngày nay, chúng ta biết về công trình này khi nó được trích dẫn trong 2 cuốn “loại thư” ở thế kỉ thứ 10. Có một phiên bản dài hơn của tư liệu này nằm trong cuốn Thái Bình quảng kí, và ngắn hơn trong cuốn Thái Bình hoàn vũ kí. Đoạn văn dài hơn trong Thái Bình quảng kí như sau:

“Đất Giao Chỉ khá là phì nhiêu. Cư dân sống ở đó, và cho đến khi [những cư dân gốc] học cách trồng trọt bằng cách gieo hạt. Đất trồng ở đó đen và màu mỡ, và Khí rất mạnh [hùng]. Vì vậy, ruộng đất ở đó nay được gọi là ruộng Hùng, và người dân, được gọi là dân Hùng. Có những người cầm đầu được gọi là Hùng vương. Có những người hầu cận được gọi là Hùng hầu, và đất đai được chia cho các Hùng tướng (Đoạn này xuất phát từ Nam Việt chí)(66).

Có một vài điểm cần lưu ý về đoạn văn này. Trước hết là đoạn văn này, như trong Ích Châu truyện Quảng Châu kí, đã bỏ sót sự đề cập đến “các quận và huyện”. Văn bản này không chỉ ra rằng nó đang đề cập đến một thời điểm nào đó trong quá khứ, trước thời Trung Hoa cai trị, như trong Giao Châu ngoại vực kí đã làm. Kết quả là, nó loại trừ những mâu thuẫn rõ ràng về nghĩa, như khẳng định rằng có người được bổ nhiệm cai trị những quận huyện trong một giai đoạn trước khi có sự thiết lập các quận huyện, và đề cập đến các con dấu bằng đồng xâu dây thao xanh – trang phục Trung Hoa của các quan chức – trong giai đoạn trước khi Trung Hoa cai trị này.

Điểm tiếp theo phải lưu ý là chữ “Hùng” trong đoạn văn này thể hiện nghĩa, chứ không phải âm, như khái niệm “Lạc” trong các văn bản trên kia. Cái “khí” trong đất mạnh [hùng], và bởi vì vậy nên nhân dân ở vùng này cũng được gọi là Hùng, hay mạnh. Nói khác đi, tác giả này không đơn thuần là mắc một sai lầm khi sao chép và viết “Hùng” trong khi đáng lẽ phải viết “Lạc”, như Maspero nhận định. Thay vào đó, ông thay đổi đột ngột đoạn văn này cho phù hợp với nghĩa của khái niệm “Hùng” nghĩa là “mạnh”. Để làm điều này, ông đã thêm thông tin vào phần mở đầu của đoạn văn về việc đất ấy phì nhiêu và khí nơi đây thì mạnh, và rồi kết nối thẳng từ “Hùng” với nghĩa “mạnh” này với những cái tên của đất và người nơi đây.

Nếu chứng cớ về mức độ kiến tạo thông tin của tác giả này ở đây vẫn còn chưa rõ ràng, thì chúng ta cũng cần phải chỉ ra rằng mệnh đề “đất đen và màu mỡ” là một bản sao rất gần gũi với thiên “Vũ cống” trong Thượng thư, nơi nó viết rằng “”đất nhẹ và màu mỡ”(67). Đây không phải là một biểu ngữ phổ biến trong Hán cổ. Thay vào đó, tác giả này rõ ràng đang mô phỏng dòng văn trong Thượng Thư. Ngược lại, đoạn văn tương tự trong hai văn bản trên không cho thấy chứng cứ nào về sự vay mượn từ các văn bản khác [của chúng].

Một mẫu hình xuất hiện khi người ta xem xét tất cả những thông tin ở trên. Rõ ràng là thông tin này chúng tôi tìm thấy trong cái được cho là những nguồn thông tin khác biệt rốt cuộc tìm thấy ngọn nguồn từ một nguồn thông tin gốc. Mỗi một câu chuyện cung cấp những thông tin cơ bản giống nhau trong trật tự giống nhau và về cơ bản là bằng cùng một cách thức. Cũng hiển nhiên là thông tin này được trích dẫn đi trích dẫn lại. Hơn nữa, mỗi lần được trích dẫn là một lần mới có tiềm năng khiến cho một người sao chép nào đó thay đổi đoạn văn. Điều này rõ ràng xảy ra với cái phiên bản chứa đựng chữ “Lạc”. Đặc biệt, (các) tác giả đã thay đổi đoạn văn để khiến cho thông tin trở nên rõ ràng hơn và loại bỏ những mâu thuẫn. Đã biết rằng phiên bản chứa đựng chữ “Hùng” cũng cung cấp những thông tin cơ bản tượng tự trong cùng thứ tự và cung cách, và rằng những sự thay đổi mà nó chứa đựng khiến cho thông tin này rở nên rõ ràng hơn, sẽ là logic khi kết luận rằng phiên bản chứa đựng chữ “Hùng” được tạo ra bởi một người sao chép bằng việc thay đổi từ phiên bản có chữ “Lạc” sang để khiến cho văn bản trở nên rõ ràng hơn.

Ở thập kỉ 1950, học giả Pháp Émile Gaspardone đã xem xét các đoạn văn có chữ “Lạc” và “Hùng” rồi cho rằng chúng cấu thành hai truyền thống lịch sử khác nhau. Trong khi nhận ra một cấp độ của sự song hành giữa hai phiên bản, thì ông lại tập trung nhiều hơn và nội dung của chúng để lập luận rằng chúng thể hiện việc ghi chép một dạng thông tin giống nhau dưới những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Ông nghĩ rằng, truyền thống “Lạc” tái hiện một ghi ghi chép sớm hơn về khu vực, khi người Trung Hoa lần đầu tiên đến và thấy nhân dân sống ở khu vực này đã dựa vào những dòng nước lũ để tiến hành việc trồng trọt. Khi nhiều người Trung Hoa hơn định cư ở vùng này – một thực tế mà Gaspardone nghĩ là được chỉ ra bởi cụm từ “những du dân định cư” trong sách Nam Việt chí – họ quen thuộc hơn với vùng đất này và với những thuộc tính của đất đai nơi đây. Gaspardone cho rằng ở điểm này ai đó đã tạo ra một phiên bản mới của những thông tin tương tự, những thông tin phản ánh tri thức gần gũi hơn rằng người Trung Hoa bây giờ đã giành được khu vực này và đất đai “mạnh mẽ” [hùng] của nó(68).

Trong một phụ lục về vấn đề Lạc và Hùng ở cuốn Sự hình thành của Việt Nam, Keith Taylor đã lược lại thuyết của Gaspardone và rồi góp thêm một sự diễn giải đôi chút sai dị để giải thích những khác biệt giữa các văn bản. Ông lưu ý cái cách Quảng Châu chí không hề nhắc đến vị vua nào, trong khi Giao Châu ngoại vực kí Nam Việt chí đều chép. Từ đó ông cho rằng sự đề cập đến các vị vua ở hai văn bản sau “dường như phản ánh sự gạn lọc các truyền thống truyền thuyết Việt Nam khi chúng đi vào các nguồn tư liệu văn học Trung Hoa”(69). Nói khác đi, trong khi Gaspardone thấy một sự biến đổi trong các văn bản chỉ cho ông thấy một sự phát triển trong tri thức của người Trung Hoa về khu vực này, Taylor cho sự biến đổi trong các văn bản là sự tích hợp các tri thức của người Việt vào các nguồn tư liệu Trung Hoa.

Cái thống nhất công trình của Gaspardone và Taylor là niềm tin rằng những biến đổi trong nội dung của các văn bản nhiều khả năng là kết quả của những biến đổi về bối cảnh ở đồng bằng Sông Hồng. Tuy nhiên, rõ ràng điều này không phải sự thật. Lập luận của Taylor, dựa trên sự vắng bóng của bất kì sự đề cập nào đến các vị vua trong Quảng Châu kí, là một ví dụ hoàn hảo về điều này. Như chúng ta thấy ở trên, văn bản này được trích dẫn lần đầu tiên trong một ấn bản của Sử kí, công trình được soạn vào thời Nam Tống. Trong công trình này, Quảng Châu kí được đề cập đến trong một lời bình được cho là của Tư Mã Trinh. Tuy nhiên, văn bản gốc của Tư Mã Trinh lại trích dẫn Ích Châu truyện chứ không phải Quảng Châu kí. Hơn nữa, lời bình luận của Tư Mã Trinh vốn có đề cập đến các vị vua. Trong khi đó, chính cái tiêu đề, Quảng Châu kí, và sự vắng bóng của bất kì đề cập nào đến các vị vua trong cái văn bản được cho là có này, đều là những sự phát triển về văn bản rất muộn về sau. Và chúng phát triển vì những nguyên nhân chẳng liên quan gì đến hiện thực của bối cảnh ở đồng bằng sông Hồng..

Vì vậy, rốt cuộc Maspero đã đúng khi cho rằng “Lạc” là khái niệm đúng. Tuy nhiên, ông đã sai khi khẳng định rằng một người chép văn bản Trung Hoa nào đó đã đơn thuần mắc lỗi khi sao chép chữ này và viết thành “Hùng”. Trong khi những người sao chép Trung Hoa không nghi ngờ gì nữa có thể mắc sai lầm, giống như những người sao chép thời trung đại ở những phần khác của thế giới, thì họ cũng biến đổi một cách có cân nhắc các văn bản họ “sao chép”. Trong trường hợp thông tin về đồng bằng sông Hồng, rõ ràng những người sao chép đã nhiều lần thay đổi thông tin này qua các thế kỉ. Chúng ta có thể thấy sự biến đổi dần dần đối với phiên bản “Lạc” và một sự biến đổi kịch đột ngột hơn với sự sáng tạo ra phiên bản “Hùng”, song tất cả các văn bản này đều tuân theo một mẫu hình chung và thể hiện thông tin tương tự. Theo đó, rõ ràng là có duy nhất một truyền thống, một truyền thống nỗ lực giản lược và gạn lọc những thông tin rắc rối, và khái niệm “Hùng” được tạo ra chính trong quá trình này.

Maspero cũng đã sai khi khẳng định rằng người Việt chỉ đơn thuần sao chép lại một chữ sai, vì họ rốt cuộc đã kiến tạo ra một cái gì đó mới bằng cách sử dụng cả “Hùng” và “Lạc” [trong cùng một đoạn văn]. Trong khi Liệt truyện chép rằng các vua của Văn Lang được gọi là các vua “Hùng”, thì nó lại khẳng định rằng “các quan văn được gọi là Lạc hầu, và các vị tướng được gọi là Lạc tướng””(70). Nói khác đi, bất kì ai viết Hồng Bàng thị truyện cũng đã không chép bất kì một văn bản sớm đơn nhất nào, mà thay vào đó, sáng tạo ra cái gì đó mới dựa trên các văn bản phức tạp. Cũng có điều thú vị cần lưu ý là khi Liệt truyện giới thiệu khái niệm “Hùng”, nó thực hiện điều đó bằng cách lưu ý rằng 50 người con trai theo Âu Cơ “tôn người có khả năng lên làm thủ lĩnh, gọi ông là Vua Hùng”(71). Điều có ý nghĩa ở đây là từ biểu thị ý “có khả năng” (“hùng trưởng”) cũng chứa đựng chữ “hùng” vốn được dùng trong cái tên “Hùng vương”. Khi người ta xem xét việc bất kì ai đã viết thông tin này có lẽ cũng là người chọn cái tên “Hùng vương” và cận thần của vương là “Lạc”, trò chơi chữ ở đây có lẽ đã chỉ ra logic đằng sau một quyết định như thế.

Các học giả hiện đại đã lập luận rằng sự hoà trộn hai khái niệm này trong Liệt truyện này chứng minh rằng “những cái tên thật” của các vua Hùng và các cận thần được truyền miệng qua nhiều thế kỉ bởi “nhân dân”. Chứng cứ cho kiểu lập luận này là sự vắng bóng của bất kì chứng cứ nào về việc sử dụng như thế trước sự xuất hiện của Liệt truyện. Các nguồn tư liệu Trung Hoa sớm hơn dùng hoặc “Hùng” hoặc “Lạc”, vì thế sự hiện diện của cả hai khái niệm trong cùng một nguồn tư liệu Việt Nam là bằng chứng đối với một số học giả Việt Nam về sự truyền miệng từ thời cổ xưa. Tuy nhiên, những khẳng định thế này không đưa đến cái mức độ thừa kế các văn bản sớm hơn của phần còn lại của văn bản Liệt truyện. Sự thảo luận trên đây bao trùm những liên kết cơ bản giữa các đoạn văn trong Hồng Bàng thị truyện và các văn bản khác nhau. Tuy nhiên, nhiều phương diện khác của tài liệu này cũng ủng hộ tuyên bố rằng nó là một sự kiến tạo thời trung đại.

Chẳng hạn, có nhiều vấn đề với những khái niệm địa lí trong văn bản. Liệt truyện đề cập rằng Văn Lang được chia làm 15 bộ. Maspero đã chỉ ra gần một thế kỉ trước rằng những cái tên của một số “bộ” đó được đặt ra trong thời Trung Hoa cai trị, và vì vậy không thể áp dụng cho thời kì sớm hơn. Maspero cũng đưa ra vấn đề thảo luận về sự thật của cái tên “Văn Lang”, một khái niệm cũng đầy tính vấn đề như khái niệm “Hùng”(72). Sự mô tả về phạm vi của nước Văn Lang cũng là một vấn đề. Văn bản nói rằng nước “dựa vào Nam hải ở phía Đông, phía Tây đến tận Ba Thục [tức là Tứ Xuyên]. Về phía Bắc, nó kéo dài đến Hồ Động Đình, và về phía Nam nó gặp nước Hồ Tôn (ngày nay là vương quốc Champa)”(73). Trong khi các học giả Việt Nam tiền hiện đại nghi ngờ về độ xác thực của tuyên bố này, không ai, như tôi được biết, đã từng chú ý đến sự tương đồng về phong cách giữa đoạn văn này với sự mô tả về phạm vi nước Ba của người Tứ Xuyên cổ trong Hoa Dương quốc chí. Văn bản này chép rằng “Đất của nó kéo đến tận phía Đông ở Yufu, và về phía Tây nó kéo đến tận Ba Chu. Về phía Bắc nó nối với Hán Trung và về phía Nam, nó kéo dài đến tận Qianfu”(74).

Trong khi đó, học giả Trung Hoa Nhiêu Tông Di đã chỉ ra từ nhiều thập kỉ trước rằng câu chuyện này rõ ràng được gợi hứng bởi những nhân tố từ văn học và lịch sử Trung Hoa qua những điểm đã nói ở trên. Ông cho rằng, câu chuyện về Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương tương lai, cho phép anh trai cùng cha khác mẹ của ông kế tục ngai vàng, vang vọng lại một câu chuyện nổi tiếng về một người đàn ông có tên Ngô Thái Bá, người đã cho phép em trai mình leo lên ngai vàng. Cuộc tuần du của Đế Minh xuống phương Nam, trong đó ông lấy được một người vợ, gợi nhớ đến cuộc tuần du của Đế Thuấn thời cổ xuống phương Nam, nơi ông chết và được hai người vợ khóc than. Thực tế rằng các vua Hùng đều được gọi là “Hùng” ở mỗi thế hệ gợi nhớ đến các vị vua của nhà Chu, những người đều được gọi là “Mi” ở mỗi thế hệ. Con số 100 đứa con trai của Âu Cơ dường như có liên hệ với Bách Việt, những người được cho là sống ở khu vực Nam Trung Hoa thời cổ(75). Do đó, khi người ta xem xét tổng thể tài liệu này, với tất cả những phương thức mà nó dùng để phản chiếu thông tin từ các văn bản khác, việc nhìn ra sự truyền miệng ở giữa những sự chịu ảnh hưởng và vay mượn về văn bản khá đậm nét như vậy trở nên cực kì khó khăn.

“Việt/Yue” như là một khái niệm tự xưng.

Sự ảnh hưởng của lịch sử và văn học Trung Hoa đối với Hồng Bàng thị truyện là cực kì có ý nghĩa, ở chỗ nó hoàn toàn ủng hộ lập luận rằng câu chuyện này là một kiến tạo thời trung đại. Với sự thật đó, chúng ta cần phải xét lại toàn bộ hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam để điều chỉnh cho đúng với thực tế này. Bằng những gì tiếp theo, tôi sẽ cố gắng phác thảo đại lược một đề cương của một sự diễn giải thay thế về lịch sử Việt Nam thời trung đại và sớm hơn, cái có thể giúp lí giải về người viết Hồng Bàng thị truyện và lí do viết. Vì giới hạn khuôn khổ bài viết, sự thảo luận này sẽ rất ấn tượng chủ nghĩa và sẽ thuần tuý nhấn mạnh một cặp xu hướng mà tôi cho là chúng ta nên xem xét khi khảo sát giai đoạn này. Thứ nhất, đối lập với niềm tin rằng “nhân dân” của Đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu trước CN đã sở hữu bản sắc nào đó mà họ duy trì suốt cả nghìn năm Trung Hoa cai trị, tôi cho rằng chúng ta có thể nhận thấy xu hướng từ từ trong một phần của giới tinh hoa Hán hoá, những người sống ở một khu vực trải dài từ vùng Bắc Việt Nam ngày nay đến tận Quảng Đông là sử dụng khái niệm “Việt” (Yue) để tự xưng, đặc biệt vì những mục đích chính trị. Thứ hai, sự phát triển xa hơn của một cảm quan địa phương về sự nhận dạng [hay “bản sắc” – HQV], cái chúng ta nhận thấy được tái hiện trong một công trình như Liệt truyện, là một phần của sự biến chuyển rộng lớn hơn ở khu vực này. Đặc biệt ở những khu vực được cai trị bởi những thành viên của giới tinh hoa Hán hoá, người dân dựa nhiều vào những mẫu hình địa phương chủ nghĩa về sự nhận dạng [“căn cước” hay “bản sắc”]. Trong quá trình này, các thành viên của giới tinh hoa đã quét qua các văn bản sớm hơn để kiếm tìm những thông tin mà họ có thể dùng để trang hoàng cho cái bản sắc địa phương và cảm quan về vị trí [của họ].

Hơn một thập kỉ trước, sử gia Charles Holcombe đã viết một bài cực kì sắc sảo về lịch sử cổ xưa của cái mà ông gọi là “vùng viễn Nam của Trung Hoa”. Trong đó, ông cho rằng chẳng có “Việt Nam” nào ở thiên niên kỉ đầu trước CN hay ở bất cứ giai đoạn nào suốt thời kì Trung Hoa cai trị cả. Thay vào đó, ông chứng minh rằng đây là một thế giới mà, cùng với khu vực của cái mà ngày nay chúng ta gọi là Nam Trung Hoa, đang biến đổi chậm chạp khi các đồng bằng sông Hồng và sông Li giang dần dần trở thành các hòn đảo Hán hoá giữa một biển đa sắc tộc của những cư dân phi-Hán hoá(76). Xây dựng dựa trên quan sát này, tôi sẽ lập luận rằng thay vì có thực tế là giới tinh hoa Hán hoá này rốt cuộc ghi chép những thông tin về các nền văn hoá bản địa, chính là giới tinh hoa Hán hoá ở các khu vực này thực tế đã bắt đầu kiến tạo ra cảm quan về bản sắc địa phương cho chính họ. Họ làm như vậy không phải bằng cách quay về với nhân dân địa phương, mà là hướng vào các văn bản Trung Hoa hiện còn.

Đó chính là: người Trung Hoa vốn chỉ những nhóm dân khác nhau về phía Nam bằng khái niệm Việt, hay gọi chung là Bách Việt. Ngoại trừ một vương quốc cổ được gọi là Việt quốc, Việt/Yue là một cái tên mà người Trung Hoa dùng để gọi nhiều nhóm dân khác nhau, những người xa tới mức chúng ta biết, đã không dùng khái niệm này để chỉ bản thân mình(77). Tuy nhiên, rốt cuộc, có một số cá nhân đã kế thừa một cách có ý thức khái niệm “Việt/Yue” vì mục đích của họ, đặc biệt trong những quốc hiệu. Khá thú vị là, những người đầu tiên làm như vậy toàn là hoặc người Hán hoặc là hậu duệ có pha chút Hán. Triệu Đà, một viên quan Trung Hoa đã thiết lập một vương quốc ở thế kỉ III trước CN bao trùm một khu vực kéo dài từ tỉnh Quảng Đông đến Bắc Việt Nam ngày nay, có lẽ là người sớm nhất dùng khái niệm “Việt/Yue” cho mục đích “tự xưng” này. Ông gọi lãnh thổ của nước mình là Nam Việt(78). Tuy nhiên, trong những thế kỉ tiếp theo, những người khác cũng sẽ làm tương tự.

Chẳng hạn, có một nước Nam Việt được tuyên bố bởi một ông Lý Bí nào đó vào thế kỉ VI ở khu vực mà ngày nay thuộc Việt Nam. Lý Bí được cho là hậu duệ đời thứ 7 của người Trung Hoa đã chạy trốn xuống phía Nam cuối thời Hán đến khu vực thuộc Việt Nam ngày nay. Trong suốt cả giai đoạn đó, dường như gia đình này có quan hệ hôn nhân qua lại với người dân địa phương và thiết lập những mối ràng buộc mạnh mẽ với khu vực này. Năm 544, Lý Bí nắm lấy cơ hội có sự rối loạn chính trị trong vùng để thiết lập một vương quốc của riêng mình và tự tuyên bố mình là Hoàng đế của nước Nam Việt(79).

Bởi Toàn thư đề cập đến cả Triệu Đà và Lý Bí, nên các học giả hiện đại cho rằng đây là một dấu hiệu cho thấy một ý thức Việt Nam đã được khẳng định dưới sự ách cai trị của Trung Hoa. Người Việt mong muốn độc lập và không bao giờ quên giai đoạn Triệu Đà thiết lập một vương quốc ở khu vực này. Theo các học giả đó, những thông tin về vương quốc của Triệu Đà đã được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác, và rồi ở thế kỉ VI, Lý Bí đã nhập vào kí ức bản địa này. Tuy nhiên, xảy ra một vấn đề với ý tưởng này là có những người không thuộc khu vực Việt Nam ngày nay cũng sử dụng khái niệm “Nam Việt/Yue” trong cùng giai đoạn, bằng cách đó nó chất vấn ý tưởng rằng có những kí ức được chia sẻ chỉ hạn chế trong phạm vi “nhân dân” ở Đồng bằng sông Hồng.

Chẳng hạn, ở thế kỉ VII, một người có tên là Lâm Sĩ Hồng nổi lên qua những vị trí của một nhóm người nổi loạn ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Giang Tây ở Trung Hoa, và cuối cùng lãnh đạo nhóm này đánh bại một đội quân được nhà Tuỳ gửi đến để dẹp loạn. Sau đó Lâm Sĩ Hồng đã tự xưng là Vua của nước Nam Việt. Không lâu sau đó, ông tự xưng là Hoàng đế và đặt tên nước là Chu (Sở)(80). Theo đó, Lâm Sĩ Hồng dường như đã thử nghiệm những khả năng chính trị khác nhau. Ông vui thú với ý tưởng là vua của Nam Việt trước khi chuyển sang một biểu tượng khác của phương Nam, là nước Sở cổ xưa, và nâng ông lên vị trí Hoàng đế.

Một nhân vật khác cũng trong giai đoạn này đã cân nhắc tiếp nối con đường của Lâm Sĩ Hồng nhưng đã không thành. Phùng Áng (? – 646) đến từ khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông. Tuy nhiên, tổ tiên pha tạp của ông đã đến từ miền bắc Trung Hoa. Ở một thời điểm nào đó sau khi phần phía Bắc của Trung Hoa nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Bắc Nguỵ năm 386 sau CN, một thành viên của gia đình Phùng Áng chạy đến Koryo, hay là Triều Tiên ngày nay. Từ đó ông này gửi một người con trai, Phùng Ức, cùng với ba trăm người khác tiến về phía Nam Trung Hoa, rồi nằm dưới sự kiểm soát của Nhà Tấn. Phùng Ức định cư ở Panyu, ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông. Cháu nội của ông lấy một Phu nhân Tiễn nào đó từ một cự tộc địa phương, được gọi là một gia tộc “Việt/Yue” trong các nguồn tư liệu Trung Hoa. Các thành viên của gia tộc họ Phùng tiếp nhau là người lãnh đạo địa phương, và từ cái gia đình có nhiều dấu ấn ảnh hưởng phương Nam này mà Phùng Áng được sinh ra.

Khi trưởng thành, Phùng Áng trở thành một vị tướng của nhà Tuỳ. Khi nhà Tuỳ đổ, ông quay trở về khu vực Quảng Đông và cuối cùng, sau nhiều trận chiến, ông đã kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn ở khu vực ngày nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và thậm chí là Hải Nam. Những bộ hạ nói với Phùng Áng rằng với quyền lực của mình, ông nên tự xưng là vua của Nam Việt/Yue. Tuy nhiên, Phùng Áng đã từ chối. Ông thừa nhận rằng ông là vị thủ lĩnh duy nhất ở khu vực này và rằng ông là người thành công hơn bất kì ai khác, nhưng ông do dự khi tự coi mình là một ông vua và cho rằng việc tự xưng một cái tên tự phóng đại như vậy sẽ sỉ nhục thành tựu của tổ tiên ông(81).

Điều mà các ví dụ này gợi ý là ở thiên niên kỉ đầu sau CN, không có một bản sắc “Việt/Yue” rõ ràng được giới hạn cho một nhóm người nào đó ở Đồng bằng sông Hồng hay được hiểu bởi những đám đông không biết chữ. Thay vào đó, những ví dụ này chỉ ra rằng ở một khu vực bao trùm tỉnh Quảng Đông và Bắc Việt Nam hiện nay – hai khu vực mà Charles Holcombe đã chứng minh là bị Hán hóa nhiều nhất trong khu vực – đã từng tồn tại những thành viên khác nhau của giới tinh hoa Hán hóa những người biết rằng “Việt/Yue” là một khái niệm đã được sử dụng từ lâu trong các văn bản thành văn để chỉ người dân ở khu vực này. Kết quả là, ở một vài thời điểm khi một số trong các nhân vật này cố gắng kiến tạo không gian chính trị của riêng mình, họ sử dụng khái niệm này để chỉ rõ vị trí của họ trong một thế giới rộng lớn hơn. Tuy nhiên, không có chứng cứ cho thấy những người dân bản địa phi-Hán hóa thực sự sử dụng khái niệm “Việt/Yue”, hay cho thấy rằng việc sử dụng thuật ngữ này của giới tinh hoa Hán hóa có nghĩa là nó lôi cuốn những người dân làm như vậy.

Từ những khởi đầu này ở thiên niên kỉ đầu sau CN, khái niệm “Việt/Yue” – với tư cách một khái niệm được sử dụng trong các quốc hiệu được tạo ra bởi người Trung Hoa thời Hán hay những người ít nhất có một phần dòng máu Hán Trung Hoa ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông và Bắc Việt – rồi sẽ được đẩy lên bởi giới tinh hoa Hán hóa ở Đồng bằng sông Hồng vào những thế kỉ đầu của thiên niên kỉ thứ hai sau CN nhằm đặc chỉ khu vực dưới quyền kiểm soát của họ. Ở đây một lần nữa, chứng cớ văn bản đã gợi ý rằng khái niệm này vẫn được sử dụng trong một cảm quan chính trị chủ đạo để cho thấy sự nghiệp của [các] triều đại. Thực vậy, bài tựa Liệt truyện cho chúng ta một cảm giác như vậy. Tôi đã trích dẫn một số trong những thông tin này ở trên. Tiếp theo là toàn bộ đoạn văn mở đầu của bài tựa đó:

“Mặc dù Quế Hải nằm ở [khu vực] Lĩnh Nam, nhưng kì công của những núi non và sông suối, sự linh thiêng của đất, sự anh hùng của con người nơi đây, và những việc kì lạ thiêng liêng đều có thể tìm thấy ở đây(82). Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa thời thái cổ, phong tục phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để ghi chép các sự kiện. Vì vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều may mắn tiếp tục còn tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của nhân dân. Rồi trong thời Lưỡng Hán, thời Tam Quốc và vào thời Đông Tấn, Tây Tấn, Nam Bắc Triều, rồi đến thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, rốt cuộc mới có các sách sử ghi chép các việc, như sách Lĩnh Nam chí, Giao Quảng chí, An Nam chí lược, Giao Chỉ chí lược,… tất cả mới có thể tham khảo được(83). Tuy nhiên, đất Việt ta là vùng đất hoang dã từ xưa. Vì vậy, những ghi chép về nó còn sơ lược. Tuy nhiên, vương quốc ở đây bắt đầu với các vua Hùng. Dòng suối văn minh dần dần truyền qua các triều Triệu [tức là Triệu Đà], Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần và đến nay đã ra đến biển. Vì vậy, những ghi chép lịch sử của vương quốc đã trở nên đặc biệt chi tiết. Nhưng với sự sáng tác tập truyện này, liệu những thông tin trong đó có phải là sử? Không có ghi chép về thời điểm ra đời của chúng hay người nào đã hoàn thành chúng. Có lẽ một bản thảo đã được tạo ra bởi những học giả xuất sắc ở thời Lí và Trần, và rồi chúng được nhuận sắc thời gần đây bởi những bậc đáng kính vốn am hiểu và hiếu cổ”(84)

Trong đoạn văn này, khái niệm “Việt” xuất hiện trong cụm từ “ngã Việt”. Đây là một khái niệm khó nắm bắt. Về mặt lí thuyết, nó cũng có thể được dịch là “Chúng ta người Việt”, nhưng trong ngữ cảnh của bài tựa này, và trong việc sử dụng nó ở những chỗ khác, rõ ràng nó không chỉ một nhóm người mà chỉ một tập đoàn mang tính triều đại, và rộng ra, một vương quốc. Thực vậy, đây chính là cách chúng ta thấy khái niệm “Việt” được sử dụng trong các ghi chép lịch sử về thời trung đại. Chẳng hạn, Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập triều Đinh, đã đặt tên nước mình là Đại Cồ Việt năm 968 và một năm sau phong cho con trai mình tước hiệu “Nam Việt vương”(85). “Đại” và “Cồ đều có nghĩa là “vĩ đại”, chữ đầu là khái niệm Trung Hoa, chữ sau là khái niệm Việt Nam. Có thể Đinh Bộ Lĩnh đã chọn khái niệm này để phân biệt nước ông với một nước “Đại Việt/Yue” đã được thiết lập năm 917 ở khu vực mà ngày nay thuộc Quảng Đông(86). Bằng cung cách này, người Việt thời trung đại có vẻ như đã tiếp tục cách làm của giới tinh hoa chính trị Hán hóa từ khu vực rộng hơn trong việc tự xem các vương quốc của mình là “Việt/Yue”. Tuy nhiên, điều nhất quán ở đây là phạm vi mà giới tinh hoa ở Đồng bằng sông Hồng sau đó đã cố gắng gia cố cho khái niệm này, và những tập đoàn chính trị của họ, với sự chứng thực xa hơn dựa vào những văn bản Trung Hoa hiện còn. Đây là một hiện tượng hiển nhiên có sức thuyết phục trong đoạn văn trích từ bài tựa viết cho Liệt truyện [đã dẫn] ở trên.

Toàn bộ thông tin trong đoạn văn này được đưa ra nhằm giải thích cho vị trí và sự tồn tại của “Ngã Việt”. Điều đáng chú ý là toàn bộ thông tin này được tạo nghĩa thông qua việc chỉ dẫn tới những khái niệm đã tồn tại từ lâu trong các văn bản Trung Hoa, và điều đó cũng khá mang tính “Hán tâm”. Liệt truyện khẳng định nó đang cung cấp thông tin về vùng “Quế Hải”, một khái niệm Trung Hoa để chỉ các vùng ven biển ở khu vực ngày nay thuộc miền Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam, tức là vùng “Lĩnh Nam” men theo những đường biên phía Nam của khu vực ngày nay thuộc các tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Nó là một khu vực vốn là một phần của “những vùng hoang dại xa xôi” [yêu hoang], một khái niệm địa lí mang tính Hán-tâm có từ thiên niên kỉ đầu trước CN và được dùng để chỉ những vùng đất rất xa xôi so với kinh đô của đế chế. Và rồi khi khu vực này trải qua các triều đại Trung Hoa (từ Hán đến Minh), nó được hợp thức thông qua sản phẩm của các văn bản viết về khu vực này được thực hiện bởi các tác giả Trung Hoa. Quá trình này sau đó được làm sâu sắc thêm dưới triều Lý và Trần như là một sự truyền bá của “văn minh” [văn minh], bằng điều được ngụ ý là toàn bộ danh mục các văn bản và những lời giáo huấn được liên kết với truyền thống học thuật Trung Hoa, được duy trì một cách đầy đủ.

Do đó, từ đoạn văn này, chúng ta có thể có nhận thấy rằng người Việt Nam có học ở thời trung đại hẳn phải kiểm tra những văn bản Trung Hoa hiện có [lúc bấy giờ] và nhận thấy rằng thông tin về khu vực của họ trong tương quan với thế giới đã phát triển dần dần qua nhiều thời đại. Họ dùng các thông tin này để cung cấp những chứng cớ trên văn bản về khu vực họ sống đặt trong một thế giới rộng lớn hơn. Tự hào về triều đại hiện tồn của Ngã Việt, họ liền phóng chiếu sự tồn tại của nó vào quá khứ bằng cách kiến tạo ra một “quốc thống” cho sự kế tục về chính trị từ các vua Hùng qua Triệu Đà đến các triều đại ngắn ngủi khác nhau của thế kỉ thứ X, và cuối cùng là đến triều Lý và Trần. Điều này rõ ràng là một hành động kiến tạo, vì sự phân tích văn bản đối với Hồng Bàng thị truyện ở trên đã chỉ ra, không có các vua Hùng trong thực tế. Hơn nữa, có những vương quốc Nam Việt khác trong khu vực bên cạnh [nước Nam Việt] của Triệu Đà. Việc lựa chọn nước Nam Việt của Triệu Đà, thay vì Lý Bí hay Lâm Sĩ Hồng, là một quyết định tùy tiện trong quá trình kiến tạo này.

“Bước ngoặt địa phương”

Khao khát muốn đồng nhất [mình] với các tập đoàn chính trị địa phương và dùng các văn bản để kiến tạo một cảm quan về tầm quan trọng cho khu vực này ở một bộ phận của giới tinh hoa người Việt thời trung đại cũng được phản chiếu trong nhiều khu vực của đế chế Trung Hoa ở hầu như cùng thời điểm. Các học giả của thời nhà Tống đã cho rằng sự biến đổi chủ yếu xảy ra trong giai đoạn này là giới tinh hoa chuyển sự tập trung từ địa hạt quốc gia sang phạm vi địa phương riêng của họ. Đặc biệt hơn nữa, khi quyền kiểm soát chính trị của đế chế bắt đầu phân rã trong thời Đường mạt, và các phần phía Bắc của đế chế bị mất ở thời Tống, giới trí thức tập trung nhiều hơn vào việc củng cố địa vị của mình trong các vũ đài địa phương họ hơn là tập trung tìm kiếm quyền lực ở kinh đô. Trải qua thời gian, “bước ngoặt địa phương” này, như nó thường được mệnh danh, sau đó tự bộc lộ bằng những cách thức khác nhau, từ các chiến lược hôn nhân đến một hứng thú học thuật tăng cao đối với các khu vực địa phương(87). Nói khác đi, những sự đổi thay về xã hội của giai đoạn này cung cấp một nền tảng hoàn hảo cho sự xây dựng những truyền thống được kiến tạo.

Trong khi Đồng bằng sông Hồng có sự khác biệt vào giai đoạn này ở chỗ nó đã trở nên tự chủ thoát khỏi sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa, người ta có thể cho rằng đây là một “bước ngoặt địa phương” đáng so sánh với những thay đổi tương tự trong sự quan tâm của giới tinh hoa ở các khu vực khác của đề chế Trung Hoa lúc bấy giờ. Chẳng hạn, ở thế kỉ X, tiếp sau sự sụp đổ của nhà Đường, một học giả có tên là Đỗ Quang Đình soạn một tuyển tập các truyện chí quái về vùng Tứ Xuyên. Công trình này thực hiện một chức năng rất giống với Liệt truyện ở chỗ nó “thuần hóa” các câu chuyện chí quái từ khu vực này và ở quá trình đưa ra một cảm quan về sự gắn kết với khu vực(88). Hơn nữa, giống như (những) soạn giả của Liệt truyện, Đỗ Quang Đình dựa nhiều vào các nguồn tư liệu hiện còn [lúc bấy giờ] để soạn văn bản của ông. Vì vậy, không những Liệt truyện không phải là một ghi chép các câu chuyện truyền miệng lưu truyền qua các thế kỉ, mà nó cũng không thuần nhất ở chỗ có các vẳn bản Hán cổ khác được soạn trong hầu như cùng thời gian và được sáng tác theo cùng kiểu và vì cùng mục đích.

Thêm nữa, đã xuất hiện những người nhóm người khác cũng hướng đến cùng một luồng thông tin giống như các học giả Việt Nam để kiến tạo cảm quan của riêng họ về một bản sắc địa phương. Những người mà ngày nay chúng ta nhắc đến như là những người Quảng Đông chẳng hạn cũng đã tham dự vào nhiều động thái văn chương tương tự như người Việt Nam và ở hầu như cùng thời điểm. Giống như người Việt, người Quảng Đông cũng tự gọi họ là Việt/Yue. Ngày nay, một chữ khác được dùng để thể hiện người Việt/Yue Quảng Đông, [đó là [粵]]. Tuy nhiên, trong quá khứ, chữ này được dùng thông nhau với chữ đồng âm mà ngày nay dùng đặc chỉ người Viêt [tức là 越]. Cũng giống như người Việt, có những học giả Quảng Đông đã trông vào các nguồn tư liệu Trung Hoa sớm hơn để tìm kiếm thông tin lịch sử về tộc Việt/Yue, trong đó nó được viết với chữ “粵” hoặc “越”.

Một ví dụ về hiện tượng này là cuốn Bách Việt tiên hiền chí của Âu Đại Nhâm. Một người bản xứ tại Quảng Đông là Âu Đại Nhậm đã sưu tầm các thông tin lịch sử về nhiều thành viên khác nhau của Bách Việt, những người mà ông cho là “đáng kính trọng” [hiền]. Phần lớn những người có mặt trong cuốn sách này đều sống ở khu vực Quảng Đông ngày nay, nhưng cũng có những người không sống ở đó. Trong số đó có Sĩ Nhiếp, một Thái thú người Trung Hoa đã cai trị Bắc Việt Nam vào thế kỉ III sau CN và là người mà Ngô Sĩ Liên tôn xưng là “vương” trong Toàn thư vì những đóng góp của ông cho khu vực này, đặc biệt là những nỗ lực được ghi nhận của ông trong việc dạy chữ Hán cổ [cho người Việt](89).

Một ví dụ khác về một văn bản xuất xứ từ Quảng Đông có dùng một số chất liệu cùng nguồn như người Việt từng dùng là cuốn Quảng Đông tân ngữ của Khuất Đại Quân (1630 – 1696). Công trình này là một cuốn “loại thư” bao hàm nhiều chủ đề được viết từ lâu bởi hoặc người Trung Hoa từ thiên niên kỉ đầu trước CN cho đến ít nhất là thời Tống, hoặc bởi một người Quảng Đông sau đó. Một chủ đề có liên quan đến những phụ nữ Việt/Yue. Ở đây, Quảng Đông tân ngữ thừa nhận rằng chị em bà Trưng là những người phụ nữ Việt đầu tiên nổi tiếng, nhưng cho rằng điều đó phụ thuộc vào sự mới mẻ của việc họ đã “tiếm” vương hiệu cho riêng mình, một việc mà những người phụ nữ khác chưa từng làm trước đó. Rồi nó tiếp tục đề cập đến Bà Triệu, một chiến binh nữ của thế kỉ III, sống ở một nơi nào đó trong khu vực ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam và là người đã cưỡi voi ra trận với hai vú dài vắt qua vai. Tuy nhiên, Quảng Đông tân ngữ bàn luận sơ sài về bà khi đơn thuần [coi bà] chỉ như một “tên cướp dũng cảm”(90).

Thừa nhận nhưng lại hạ thấp vai trò quan trọng của những người phụ nữ đó, những người là trung tâm của lịch sử Việt Nam ngày nay, sau đó Quảng Đông tân ngữ tiếp tục cho rằng có những người phụ nữ Việt/Yue ở khu vực này trong quá khứ còn nổi tiếng hơn họ, ví như hai người con gái của tộc Tiễn ở Quảng Đông. Một trong hai người này xuất hiện trước hai bà Trưng và đã bảo vệ vùng đất này trước các “tù trưởng dân man” [man tù] trong thời đại hỗn loạn sau sự sụp đổ của nhà Tần vào năm 206 trước CN(91). Tộc Tiễn này là một gia tộc mà Phùng Áng có quan hệ hôn nhân. Nếu chúng ta nhắc lại, thì ông là người được đề cập ở trên, người ở cuối triều Tuỳ được những tòng thuộc của mình ủng hộ việc thiết lập một vương quốc và tôn xưng ông là “Nam Việt vương”. Nếu Phùng Áng làm như vậy, và vương quốc của ông duy trì được sự tự trị đủ dài khỏi sự cai trị của Trung Hoa, thì có lẽ ngày nay đã có 2 nước Việt/Yue độc lập, vì ở thời trung đại các đồng bằng như Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Li là khá tương đồng. Ở cả hai khu vực đều có một giới tinh hoa Hán hoá nhỏ bé đang nỗ lực tạo ra một cảm quan về bản sắc địa phương, tức là, một cảm quan về việc mình “là người Việt/Yue”. Và cả hai đã làm như vậy bằng cùng một cách, sử dụng các thông tin từ các nguồn tư liệu Trung Hoa hiện tồn [lúc bấy giờ] để tạo ra các câu chuyện về chính mình.

Kết luận

Keith Taylor từng viết rằng người Việt Nam “học cách để khớp nối các bản sắc phi Hoa vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của Trung Hoa”(92). Điều này đúng ở một phạm vi nào đó. Nhưng, chúng ta cần phải cẩn trọng ở cách chúng ta hiểu nhận định này. Rồi Taylor, như nhiều học giả ở Việt Nam ngày nay vẫn làm, lập luận rằng vua Hùng đã thực sự tồn tại, và rằng truyền thống chính trị có trước khi tiếp xúc với Trung Hoa này đã tạo nên một cảm quan của người Việt về bản sắc, cảm quan được duy trì suốt một nghìn năm Trung Hoa cai trị cho đến khi rốt cuộc nó được khớp nối “vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa” ở thời trung đại. Tuy nhiên, tôi cho sự thảo luận về Hồng Bàng thị truyện trong bài tiểu luận này đã chứng minh rằng các vua Hùng không có thật. Thay vào đó, họ được kiến tạo ở thời trung đại với tư cách là một bộ phận của một quá trình trong đó đầu tiên giới trí thức trinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng đã kiến tạo ra, sau đó khớp nối một bản sắc riêng vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa. Điều đó không có nghĩa là không tồn tại những thể chế ở Đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu tiên trước CN. Các trống đồng và các di vật khác mà các nhà khảo cổ thế kỉ XX đã khai quật gợi ý rằng dường như đã tồn tại các thể chế đó. Tuy nhiên, không có chứng cớ nào cho thấy rằng các học giả Việt Nam trung đại biết về trống đồng hay những nhóm người khác đã sử dụng chúng [ở thời trung đại]. Đó là một truyền thống được kiến tạo ở thế kỉ XX. Tuy nhiên, những gì mà giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại thực sự biết là những văn bản cổ, và họ dựa vào những văn bản xưa cũ ấy để lấy chất liệu và cảm hứng nhằm kiến tạo một lịch sử cũng như một bản sắc bản địa cho bản thân mình.

Giới tinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng không đơn độc khi làm như vậy. Các học giả ở khu vực thuộc đế chế Trung Hoa, như Tứ Xuyên và Quảng Đông, cũng tham gia vào những việc làm tương tự ở những thời điểm tương tự. Đều kinh qua khu vực này trong hầu như cùng một giai đoạn, các học giả ngoảnh nhìn và hứng thú với những vùng đất địa phương của mình. Họ tạo ra những trước tác về các địa phương của họ, như các truyện chí quái, bằng cách khảo xét những gì đã từng được viết về khu vực của họ [trong quá khứ]. Trong quá trình này, họ đóng góp cho việc sáng tạo ra một bản sắc địa phương. Cuối cùng, cái dự án vốn được bắt đầu bởi giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại được [người] Việt Nam ngày nay dựa vào để phát triển xa hơn cả. Trải qua nhiều thế kỉ, những truyền thống họ kiến tạo ra trở thành tự nhiên thứ hai. Thực vậy, trải nửa thế kỉ qua, dưới sự chi phối của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, những truyền thống được kiến tạo của giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại này giờ đây đã trở thành những chân lí không thể thay đổi. Trong khi đó, ẩn ý trong lời nhận xét của Lê Quý Đôn – rằng Liệt truyện, nguồn tư liệu chính yếu của những truyền thống được kiến tạo ấy, đã vay mượn “nhiều không thể kể xiết” những văn bản khác – đã bị cố tình bỏ qua.

LIAM C KELLEY là Phó Giáo sư về Lịch sử Đông Nam Á ở Đại học Hawai’I at Manoa. Tác giả muốn tỏ lời cảm ơn đến những nhà phê bình ẩn danh, Tạ Chí Đại Trường [Source: Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp. 139-162] và Keith Taylor [xem bài bình luận của ông tại đây] vì những góp ý và sự sáng suốt của họ.

 

Tóm tắt

Bài viết này khảo sát có phê phán tác phẩm có tên Hồng Bàng thị truyện (Truyện về họ Hồng Bàng) trong một văn bản ở thế kỉ XV, cuốn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện. Truyện này là nguồn tư liệu cho thông tin lịch sử về các vua Hùng. Các học giả lâu nay đã cho rằng thông tin này được truyền miệng từ thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên cho đến khi rốt cuộc nó được viết ra ở một thời điểm nào đó sau khi Việt Nam bắt đầu độc lập từ thế kỉ thứ X. Trái lại, bài viết này lập luận rằng thông tin về các vua Hùng được kiến tạo sau khi Việt Nam giành được độc lập và trở thành một “truyền thống được kiến tạo”.

Từ khoá: Việt Nam, lịch sử, truyền thuyết, văn học, vua Hùng.

 

Chú thích

1. Nói về “người Trung Hoa” và “người Việt Nam” trong quá trình này dĩ nhiên là không phù hợp về niên đại, cũng như đây là những khái niệm hiện đại đầy những hàm nghĩa dân tộc chủ nghĩa. Tôi dùng những khái niệm này trong bài báo với một nghĩa trung tính, với tư cách như những mã ngôn ngữ để chỉ những cư dân về mặt lịch sử ở những khu vực mà ngày nay chúng ta lần lượt gọi là “Trung Hoa” và “Việt Nam”.

2. Cái nhìn này nhan nhản ở Việt Nam, và số lượng các nguồn tài liệu vì vậy đã tạo ra một đặc điểm là quá nhiều để có thể trích dẫn. Trong mối quan hệ với nền học thuật Anh ngữ, Keith Taylor đặt dấu mốc bằng cuốn sách Sự hình thành của Việt Nam của mình, nơi ông lưu ý rằng chất liệu cốt lõi về các vua Hùng mà tiểu luận này khảo sát “chắc chắn lưu truyền trong giai đoạn thuộc Trung Hoa”. Xem Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), 357.

3. Tôi dùng khái niệm “trung đại” (medieval) ở đây một cách lỏng lẻo để chỉ giai đoạn từ thế kỉ VII cho đến thế kỉ XV. Giai đoạn này bao gồm những thế kỉ cuối cùng dưới sự cai rị của Trung Hoa ở Đồng bằng sông Hồng và vài thế kỉ đầu người Việt Nam tự trị.

4. Eric Hobsbawm, “Introduction: Inventing Traditions,” [Nhập môn: Những truyền thống được kiến tạo], trong The Invention of Tradition [Những truyền thống được kiến tạo], Eric Hobsbawm and Terence Ranger biên soạn (Cambridge: Cambridge University Press, 1992), 1–14(6).

5. Về tác phẩm tiêu biểu, xem Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh [Vietnam at the Time of its Birth] (Huế: Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1965); Nhiêu Tông Di 饒宗頤, “Annan gushi shang Anyang wang yuXiong wang wen ti” [An Nam cổ sử thượng An Dương vương dữ Hùng vương vấn đề], Nanyang xuebao [Journal of the South Seas (Society)]24,

nos. 1–2 (1969): 41–50; và Henri Maspero, “Études d’histoire d’Annam. IV. Le Royaume de Văn-lang” [Nghiên cứu về lịch sử nước Văn Lang, tập 4. Vương quốc Văn Lang], Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient [Tạp chí của trường Viễn Đông Bác cổ Pháp] 18 (1918): 1-10.

6. Về thông tin cơ bản về Liệt truyện, xem Trần Nghĩa, bs., Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 1 (Hà Nội: Thế Giới, 1997), 145 – 152; Taylor, The Birth of Vietnam, 344 – 357; and Émile Gaspardone, “Bibliographie Annamite” [Thư mục Việt Nam], Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient 34(1934): 128 – 130.

7. Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Chép tay: A.1200 (từ đây gọi tắt là LNCQLT). Chương /trang: 1/8a.

8. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, (1977). Chương /trang: 4/3b.

9. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2 (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1992), 192.

10. LNCQLT, 1/9b.

10. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, 190

11. Chẳng hạn xem Hoàng Hưng, “Giá trị của tư liệu về Hùng vương trong ‘Việt điện u linh’ và ‘Lĩnh Nam chích quái’” trong Hùng vương dựng nước, tập 2, bs Song Mai (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1972), 103 – 110.

12. LNCQLT, 1/7b.

13. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, 4/3b–4a. Trích dẫn là từ 4/3b

14. Quá trình kiến tạo một lịch sử cho đấy nước này của Việt Nam dân chủ cộng hoà được che đậy cbởi Patricia Pelley trong cuốn sách của bà Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past (Durham: Duke University Press, 2002).

15. Về ví dụ của quan điểm này, xem Trần Quốc Vượng, “Từ tư duy thần thoại đến tư duy lịch sử” trong Hùng vương dựng nước, tập 3, bs Song Mai (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1973), 402 – 405.

18. Chẳng hạn, xem Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian. Tập 1 (Hà Nội: Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1972). Keith Taylor cũng lưu ý rằng “những truyền thống huyền thoại [của người Việt]ư được chuyển thì mối tiếp xúc gần gũi với Trung Hoa”, nhưng ông không kiểm tra những chi tiết về sự lưu truyền này. Xem See Tay lor, The Birth of Vietnam, xvii.

18. Về Trung Hoa, xem Chang-tai Hung, Going to the People: Chinese Intellectuals and Folk Literature, 1918 – 1937 (Đến với nhân dân: Trí thức Trung Hoa và văn học dân gian, 1918 – 1937) (Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University, 1985).

19. Đinh Gia Khánh and Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian, 9 – 10.

20. Về một sự thảo luận về ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc lãng mạn đối với văn hoá dân gian, xem Roger D. Abrahams, “Phantoms of Romantic Nationalism in Folkloristics,” (Những bóng ma của chủ nghĩa dân tộc lãng mạn trong khoa nghiên cứu văn hoá dân gian) Journal of American Folklore 106, no.419 (Winter 1993): 3 – 37.

21. Stuart Blackburn, “Oral Stories and Culture Areas: From Northeast India to Southwest China” (Các câu chuyện truyền miệng và các khu vực văn hoá: từ Đông Bắc Ấn Độ đến Tây Nam Trung Hoa), South Asia: Journal of South Asian Studies 30, no 3 (December 2007): 432.

22. Về một công trình tiêu biểu, xem Phan Ngọc và Phan Đăng Nhật, “Thử xây dựng lại hệ thống huyền thoại Việt Mường” [An Effort at Reconstructing the Việt Mường Mythic System], Văn hóa dân gian [Folk Culture] số 33 (1991): 5 – 15 và số 34 (1991): 21 – 31.

23. Con số các nghiên cứu đưa ra tuyên bố như thế quá nhiều để trích dẫn ở đây. Công trình The Birth of Vietnam của Keith Taylor chịu ảnh hưởng bởi nhãn quan tương tự và đưa ra nhiều lập luận tương tự. Người đọc được cổ vũ tham vấn văn bản đó và nhiều công trình của người Việt Nam mà sách trích dẫn đưa đến cảm quan về cách tiếp cận quá khứ này.

24. SiânJones, “Historical Categories and the Praxis of Identity: The Interpretation of Ethnicity in Historical Archaeology,” (Các bảng phân loại lịch sử và tập quán của Bản sắc: sự diễn giải tính sắc tộc trong khảo cổ học lịch sử) trong  Historical Archaeology: Back From the Edge, Pedro P. A. Funari, Martin Hall và Siân Jones biên soạn (London: Routledge, 1999), 219 – 220.

25. Taylor, The Birth of Vietnam.

26. Mark Alves, “Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language,” (Nghiên cứu ngôn ngữ học về cội nguồn của ngôn ngữ Việt Nam) Journal of Vietnamese Studies 1, nos.1 – 2 (February/August 2006): 111,  122 – 133.

27. Nghiên cứu kinh điển là: Albert B. Lord, The Singer of Tales (Ca sĩ của những câu chuyện) (Cambridge: Harvard University Press, 1960).

28. David P. Henige, The Chronology of Oral Tradition: Quest for a Chimera (Khoa nghiên cứu niên đại của truyền thống truyền khẩu: Điều tra cho một Chimera) (Oxford: Clarendon Press, 1974). Henige cho rằng, ở giữa các vấn đề khác, những vấn đề của sự thiết lập niên đại về các truyền thống qua các triều đại  discusses từ các câu chuyện truyền miệng. Trong lịch sử châu Phi, có một cuộc tranh cãi quyết liệt bắt đầu ở thập kỉ 1970 giữa các nhà lịch sử nhân chủng học, những người nghĩ rằng thông tin lịch sử có thể được thu được từ các câu chuyện dân gian, và các nhà nhân chủng học cấu trúc, những người cho rằng các câu chuyệ dân gian là những sự tái hiện những thế giới quan bằng cách đội lốt lịch sử. Về một cái nhìn tổng quan về cuộc tranh cãi này và ngữ cảnh chuyên nghiệp rộng hơn của nó từ một trong những người tham gia chính, xem Jan Vansina, Living With Africa (Sống với châu Phi) (Madison: University of Wisconsin Press, 1994), 197 – 221.

29. James Fentress và Chris Wickham, Social Memory [Kí ức xã hội] (Oxford: Blackwell Publishers, 1992), 82 và 85.

30. Taylor, The Birth of Vietnam, 23.

31. Xem Ruth B. Bottigheimer, Fairy Tales: A New History [Truyện cổ tích thần kì: Một lịch sử mới] (Albany: State University of New York Press, 2009).

32. William H. Nienhauser, Jr., bt, The Indiana Companion to Traditional Chinese Literature [Sổ tay của người Indiana về Văn học Trung Hoa truyền thống] (Bloomington: Indiana University Press, 1986), 280 – 283.

33. Kenneth DeWoskin, “The Six Dynasties Chih-kuai and the Birth of Fiction,” [Truyện chí quái thời Lục Triều và Sự hình thành tiểu thuyết] trong Chinese Narrative: Critical and Theoretical Essays, Andrew H. Plaks bt (Princeton: Princeton University Press, 1977), 21 – 52.

34. Robert Ford Campany, Strange Writing: Anomaly Accounts in Early Medieval China [Tác phẩm lạ: Các truyện chí quái ở Trung Hoa sơ kì trung đại] (Albany: State University of New York Press, 1996), 201.

35. LNCQLT, 1/ 9b. Về một bản tóm lược sách này, xem Campany, Strange Writing. 52 – 62. Về bản dịch, xem Can Bảo, In Search of the Supernatural: The Written Record (Sưu thần kí), Kenneth DeWoskin và J. I. Crump, Jr. dịch (Stanford: Stanford University Press, 1996).

36. LNCQLT, 1/9a.

37. Về nhiều cuốn sách đạo đức hơn nữa, xem Cynthia J. Brokaw, Ledgers of Merit and Demerit: Social Change and Moral Order in Late Imperial China [Ghi chép sự thưởng phạt: sự thay đổi xã hội và trật tự luân lí ở đế chế Trung Hoa cuối] (Princeton: Princeton University Press, 1991).

38. Một số tên trong truyện này thuộc về các cá nhân người Trung Hoa vốn được đề cập trong các văn bản Trung Hoa. Tuy nhiên, những cái tên khác thống nhất với nguồn tư liệu Việt Nam. Tôi trả lại những cái tên theo cách phiên âm tiếng Trung (pinyin) bằng cách đọc quốc ngữ tên của họ. Những cái tên của các cá nhân nhất quán với các nguồn tài liệu Việt Nam được phiên bằng chữ quốc ngữ.

39. LNCQLT, 1/12 a.

40. Thường Cừ, sáng tác, Hoa Dương quốc chí [Treatise on the Kingdoms South of (Mount) Hua], (thế kỉ IV sau CN), 3/1a.

41. “Bách Việt” [Baiyue] là một khái niệm mà những người chép văn bản Trung Hoa sử dụng thời cổ để chỉ chung nhiều nhóm dân phức tạp khác nhau sống ở khu vực phía Nam sông Dương Tử.

42. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [Complete Book of the Historical Records of ĐạiViệt], (bản 1697, nguyên được viết năm 1479), Bản in: A.3 (sau đây ghi tắt là ĐVSKTT), “Ngoạikỷ” [Outer Annals], Chương/trang: 1/1a.

43. Xem Thượng thư [Venerated Documents], Nghiêu điển [Canon of Yao].

44. LNCQLT, 1/12b.

45. Cái nhìn về lịch sử Việt Nam cổ được phát triển ở đầu thế kỉ XX bởi học giả người Pháp Léonard Aurousseau. Xem Léonard Aurousseau, “Le Première Conquête Chinoise des Pays Annamites” [Sự xâm chiếm đất Annam của Trung Hoa lần đầu tiên], Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient 23 (1923): 245 – 264.

46. Xem Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam [Ancient History of Vietnam] (Hà Nội: Văn Hoá Thông Tin, 2005), 206 – 264.

47. Về một sự bảo vệ quan điểm này, và một sự khảo sát những lập luận khác, xem Alves, “Linguistic Research,” 104 – 130.

48. Lý Phưởng và những người khác., soạn., Thái Bình quảng kí [Wide Gleanings Made in the Taiping Era], (984 sau CN), 419/1a–13a. Về một bản dịch tiếng Anh, xem Y. W. Ma và Joseph S. M. Lau, bt., Traditional Chinese Stories: Themes and Variations (Các câu chuyện Trung Hoa truyền thống: Các chủ đề và dị bản) (New York: Columbia University Press, 1978), 346 – 354.

49. ĐVSKTT, “Ngoạikỷ,” 1/1b.

50. Tên “Đường kỉ” duy nhất mà tôi có thể định vị là tên của một phần dành cho thời nhà Đường trong Tư trị thông giám [Zizhi tongjian] của Tư Mã Quang ở thế kỉ XI. Tuy nhiên, nó không đề cập gì đến những nhân vật trong đoạn văn này.

51. LNCQLT, 1/13a – 14a.

52. Các phiên bản khác, như trong Toàn thư, đơn thuần khẳng định rằng bà đã đẻ ra 100 đứa con trai hay 100 quả trứng. Xem ĐVSKTT, “Ngoại kỷ,” 1/2a.

53. LNCQLT, 1/14a – 15a.

54. Như trên., 1/15a – 15b.

55. Chẳng hạn, xem Phạm Đức Dương, Biển với người Việt cổ [The Sea and the Ancient Việt] (Hà Nội: Văn Hóa Thông Tin, 1996), 7 – 8.

56. Taylor, The Birth of Vietnam, 1 và 3.

57. Léonard Aurousseau, bt., Ngan-nan tche yuan[An Nam chí nguyên] (Hà Nội: École Française d’Extrême-Orient, 1923), 216. Tiêu đề này không thể dịch và có vẻ như là có nhầm lẫn. Dường như nó vốn được gọi là An Nam chí. Émile Gaspardone đã bàn luận những vấn đề về tiêu đề này. Xem Émile Gaspardone, “Le Ngan-Nan Tche Yuan et Son Auteur” [An Nam chí nguyên và tác giả của nó], trong Idem, 11.

58. Lý Phưởng và những người khác, Thái Bình quảng kí, 419/3b. Ngoại trừ một ít thay đổi nhỏ của tôi, bản dịch này là của Russell E. McLeod và có thể tìm thấy trong Ma và Lau, Traditional Chinese Stories, 347 – 348.

59. Maspero, “Études d’histoire d’Annam,” 7.

60. Về một cái nhìn toàn cảnh khá triệt để về những quan điểm khác biệt nảy ra trong sự tranh cãi về các chữ “lạc” và “hùng”, xem Huệ Thiên, Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm: nghiên cứu, trao đổi về ngữ văn và lịch sử [Beating Drums Before Houses of Thunder: Research and Exchanges Concerning Language and History] (HCMC: Trẻ, 2004), 113 – 127. Mức độ mà một quyết định chính trị, hơn là một quyết định học thuật vươn tới trong cuộc tranh luận này được làm rõ trong bài viết này. Trong khi đó, Keith Taylor khẳng định trong The Birth of Vietnam rằng ông mong có thể khảo sát vấn đề này xa hơn trước khi xác định khái niệm nào là chính xác, và rằng ông sẽ tạm thời dùng khái niệm “Hùng” “như nó đã được dùng thành truyền thống bởi các sử gia Việt Nam”. Xem Taylor, The Birth of Vietnam, 307.

61. Nhiêu Tông Di, “Annan gushi shang Anyang wang,” 42.

62. “交州外域記曰,交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上

下,民墾食其田,因名為雒民。設雒王雒侯主諸郡縣。縣多為雒將。

雒將銅印青綬.” Xem Lịch Đạo Nguyên, biên soạn., Thuỷ kinh chú [Annotated Classic of Waterways], (khoảng 515 – 524 sau CN), 37/7a–b. Có một khái niệm trong đoạn văn này là “triều/chao,” mà nhiều học giả Việt Nam dịch là “thuỷ triều” vì cho rằng người Việt Nam đang lợi dụng thuỷ triều để làm nông nghiệp. Trong khi khái niệm này có thể có nghĩa là thuỷ triều, nó cũng chỉ những mực nước sông dân lên. Trong ngữ cảnh này, “nước lụt” đối với tôi có nghĩa hơn. Cũng lưu ý rằng chữ “vương/wang,” có thể được dịch là “vua” hoặc “ông hoàng”.

62. “姚氏按益州傳云:交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。

有駱王﹑駱侯。諸縣自名為駱將,銅印靑綬,卽今之令長.” Xem Tư Mã Trinh, Sử kí sách ẩn [Searching for Hidden Meanings in the Historical Records], Tứ khố toàn thư bản (thế kỉ XVIII), 25/7b.

64. “索隱姚氏按廣州記云,交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱侯,諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令.” Xem Tư Mã Thiên, Sử kí [Historical Records], Tứ khố toàn thư bản, (thế kỉ I sau CN), 113/3b.

65. Bạch Diệu Thiên 白耀天, “Lạc Việt khảo” [Investigation of Luo and Yue], trong Tráng học luận tập [Collection of Discussions on Zhuang Studies]. Qin Naichang và Pan Qixu bt (Nanning: Guangxi Minzu Chubanshe, 1995), 86.

66. “交趾之地頗爲膏腴,徙民居之,始知播植,厥土惟黑壤,厥氣惟雄,

故今稱其田為雄田,其民為雄民,有君長亦曰雄王,有輔佐焉亦焉曰雄侯,

分其地以為雄將。(出南越志).” Xem Lý Phưởng và những người khác., Thái Bình quảng kí, 482/6b. Về bản rút gọn, xem Nhạc Sử 樂史, Thái Bình hoàn vũ kí [Record of the World in the Taiping Era], (thế kỉ X), 170/10a.

67. Xem Thượng thư, “Vũ cống” [Tribute of Yu].

68. Émile Gaspardone, “Champs Lo et Champs Hiong,” Journal Asiatique [Asian Journal] 243, no.4 (1955): 461 – 477.

68. Taylor, The Birth of Vietnam, 307.

69. LNCQLT, 1/15b.

70. Như trên., 1/15a.

71. Maspero,“Études d’histoire d’Annam,” 1 – 7.

72. LNCQLT, 15b.

73. Xem Phan Thanh Giản và những người khác., Khâm định Việt sử thông giám cương mục [Imperially Commissioned Itemized Summaries of the Comprehensive Mirror of Việt History], (1881), Bản in: A.2674, TiềnBiên [Preliminary Compilation], Chương/Trang: 1/4a–b, về một cuộc thảo luận ở thế kỉ XIX về phạm vi địa lí được cho của nước Văn Lang. Về trích dẫn về nước Ba, xem Thường Cừ,Huayang guo zhi, 1/2b.

75. Nhiêu Tông Di, “Annan gushi shang Anyang wang,” 47.

76. Charles Holcombe, “Early Imperial China’s Deep South: The Viet Regions through Tang Times” [Phương Nam xa xôi của Đế chế Trung hoa cổ xưa: Các khu vực Việt trong thời Đường], Tang Studies 10 – 11 (1997 –[19]98): 125 – 26.

77. Cần biết nhiều hơn về khái niệm “Việt/Yue”, xem Erica Brindley, “Barbarians or Not? Ethnicity and Changing Conceptions of the Ancient Yue (Viet) Peoples (~400 – 50 B. C.)” [Người dã man hay không dã man? Sắc tộc và sự thay đổi các khái niệm về người Việt cổ (~400 – 50 trước CN)], Asia Major, no.1 (2003): 1 – 32.

78. Taylor, The Birth of Vietnam, 23-27.

79. Như trên., 135 – 143.

80. Âu Dương Tu và những người khác, bs., Tân Đường thư [New History of the Tang], (1060), Chương: 87, “Liệt truyện [Biography] số. 12”.

81. Như trên., 110, “Liezhuan” 35.

82. Quế Hải [Guihai] là một cách gọi những vùng ven biển xuôi về phía Nam của Ngũ Lĩnh vốn chạy dọc biên giới phía Bắc của khu vực ngày nay là tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây và chia cắt khu vực Lĩnh Nam [Lingnan] với các khu vực của Trung Hoa về phía Bắc.

83. Những tiêu đề này rất có vấn đề. Đã có một Lĩnh Nam chí [Lingnan zhi], nhưng tôi không thấy chỉ dẫn nào đến cái tên Giao Chỉ chí lược [Jiaozhi zhilue]. Hơn nữa, trong văn bản này hai chữ cuối cùng của tiêu đề này [chí lược] xuất hiện trong trật tự đảo ngược [lược chí], vốn là một sự nhẫm lẫn. Còn như cái tên Giao Châu quảng kí, cái này có vẻ như là một sự kết hợp vụng về của những tiêu đề của 2 công trình khác nhau, Giao Châu kí Quảng Châu kí. Khi tiêu đề này được viết là Quảng Châu kí, chữ “Quảng” lẽ ra phải đóng vai trò một từ tu sức cho “kí” và vì vậy tôi dịch nó thành “mở rộng”, tức là cái nghĩa đen của chữ này. Khi tham khảo các dị bản khác của LNCQLT, tôi phát hiện ra rằng chúng có sự mâu thuẫn trong khi cung cấp những cái tiêu đề.

84. LNCQLT, 1/7a – 8a.

85. ĐVSKTT, Bản Kỷ [Basic Annals], 1/2b và 1/3b.

86. Phát âm “Dayue” trong tiếng Trung, tên của nước này được biến đổi theo năm thành “Hán” và cho đến nay được gọi là Nam Hán. Xem Âu Dương Tu, Tân Ngũ đại sử [New History of the Five Dynasties], (1072), Chương 65, “Nam Hán thế gia” [Great Families of the Southern Han], 5.

87. Hai trong số những tác phẩm kinh điển về sự biến đổi này là: Robert Hartwell, “Demographic, Political, and Social Transformation of China, 750 – 1550” [Sự biến đổi nhân khẩu, chính trị và xã hội của Trung Hoa, 750 – 1550], Harvard Journal of Asiatic Studies 42, no.2 (December 1982): 365 – 442 và Robert P Hymes, Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung [Các chính khách và Quý ông: Giới tinh hoa của Phúc Châu, Giang Tây ở thời Bắc và Nam Tống] (Cambridge: Cambridge University Press, 1986).

88. Xem Franciscus Verellen, “Shu As a Hallowed Land: Du Quangting’s Record of Marvels” [Thục như là vùng đất thiêng: Ghi chép về những kì tích khác thường của Đỗ Quang Đình 杜光庭], Cahiers d’Extrême-Asie [Journal of Far Asia] 10, no. 10 (1998): 213 – 254.

89. Âu Đại Nhâm, Bách Việt tiên hiền chí [Treatise on the Previous Worthies of the Hundred Yue], (thế kỉ XVI), 4/16b – 17b; và ĐVSKTT, 3/42a – 42b.

90 . Khuất Đại Quân, Quảng Đông tân ngữ [New Anecdotes of Guangdong] (Taipei: Xuesheng Shuju, [facsimile of 1700 edition], 1968), 8/1a.

91. Như trên., 8/1b.

92. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), xxi.

Advertisements

7 Responses to ““Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại (Full)”

  1. Nguyễn Thiếu Dũng September 30, 2013 at 10:30 am #
    MỘT ÍT SỰ THẬT VỀ KINH DƯƠNG VƯƠNG Nguyễn Thiếu Dũng Lịch Sử Việt Nam có hai phần : phần sử truyền thuộc về huyền sử, phần sử chép thuộc về lịch sử, cả hai loại đều có chuyện thật và chuyện không thật. Tất cả những gì lịch sử ghi chép không phải hoàn toàn đáng tin, mỗi triều đại đều có thể xuyên tạc lịch sử theo ý đồ của họ. Chính trị có thể sử dụng lịch sử thành công cụ phục vụ lợi ích của nó. Những dụng cụ được chế tạo vì lợi ích của nhân loại có thể bị biến thành vũ khí sát thương khi vào tay kẻ ác, biết vậy nhưng không thể không dùng các vật đó, đập chuột lẽ đâu đập luôn bình. Ta không thể cả tin vào huyền sử cũng như lịch sử, ai cũng có quyền hoài nghi. Lịch sử là phần nổi, huyền sử là phần chìm, không thể chỉ ôm phần nổi mà chối bỏ phần chìm, không có quốc gia nào, dân tộc nào tự trên trời rơi xuống mà phải trãi qua trình hình thành, quá trình này không chỉ vài trăm năm, vài nghìn năm, mà là năm nghìn, mười nghìn, trăm nghìn năm hay xa hơn hằng triệu năm, vì vậy tập thể nào cũng có một phần lịch sử bị bệnh “ quên quá khứ”, bổn phận của người đọc sử là phải tìm cách chữa căn bệnh trầm kha đó, những mãnh vở của huyền sử một phần nào sẽ giúp cho con người lần tìm lại cội nguồn của mình trong khi chờ những khoa học khác phụ trợ. Thế nên khi chưa hiểu biết hết lịch sử hay huyền sử đừng vội phỉ báng huyền sử, đó là thông điệp của tiền nhân gởi lại cho hậu thế với nhiều mật mã, nhiều ẩn ngữ, đừng vội thóa mạ những nhân vật huyền sử mà mang tội bất kính với tổ tiên. Đọc sử cũng nên học bài học đầu tiên là “tiên học lễ “ vậy. Kinh Dương Vương (经阳王) không phải do châu Kinh (荊) và châu Dương (扬) ghép lại, vì các chữ đó khác nhau, tuy âm giống nhau mà nghĩa khác nhau. Cổ nhân đã hết sức tinh tế khi dùng chữ, chứ không lầm lẫn như suy nghĩ của Đào Duy Anh mà Liam C. Kelley đã viện dẫn : “Những chữ trong tên hai châu này đồng âm với những chữ “Kinh” và “Dương” trong cái tên Kinh Dương Vương [涇陽], nhưng chúng được viết khác nhau. Đào Duy Anh nhận ra điều này và cho rằng câu chuyện về Kinh Dương Vương có lẽ bắt nguồn từ khi người Việt đang sống dọc sông Dương Tử ở khu vực châu Kinh và Dương, và rằng qua nhiều thế kỉ người Việt truyền miệng câu chuyện này khi họ di cư về phía Nam đến đồng bằng Sông Hồng. Khi câu chuyện rốt cuộc được viết ra, ai đó đã chọn các từ đồng âm của Kinh và Dương, do đó làm mờ đi sự kết nối sử thực giữa Kinh Dương Vương và những vùng địa lí là “Kinh” và “Dương” mà ngày nay là miền Trung Trung Hoa. Do đó, Đào Duy Anh cho rằng một khi nhận ra nghĩa đen của Kinh và Dương, sự tồn tại của một Động Đình Quân cũng có nghĩa [cho thấy] rằng những cái tên đó đều gắn với một khu vực có cùng tên gọi, nơi mà ông nghĩ rằng đó là quê gốc của người Việt” (1) Đất đai của người Việt không chỉ dừng lại ở hồ Động Đình mà còn vượt xa hơn về phía bắc. Truyền thuyết nói Đế Minh là cháu ba đời của Viêm Đế, họ Thần Nông. Viêm đế là vua miền viêm nhiệt (nhiệt đới) ý chỉ phương nam, họ Thần Nông chỉ sắc dân nông nghiệp, Thần Nông có cấu trúc chữ theo văn phạm Việt, nên Thần Nông chính là tổ của Bách Việt, người Hoa sau khi thống nhất Trung Hoa đồng hóa số dân Bách Việt nằm trong lãnh địa của họ, đã sáp nhập Thần Nông thành tổ của họ, vì vậy họ xưng là con cháu Viêm Hoàng (Viêm đế, Hoàng đế). Khi đã nhận Viêm đế làm tổ họ đồng hóa người Việt và văn hóa Viêt thành tài sản của họ. Hoa tộc sau này đổi thành Hán tộc không phải là một chủng tộc, họ là một tập hợp đa văn hóa, người Hoa Bắc và Hoa Nam không cùng gen, người Hoa Nam thuộc về chủng tộc Việt cùng gen với người Đông Nam Á. Liam C. Kelley trong bài ““Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại”(1) và Trần Trọng Dương trong bài “Kinh Dương Vương ông là ai?”(2) là người phát triển luận chứng của Kelly đều theo thuyết Hoa tâm không nhìn thấy vấn đề này. Trước hết Kelley không khách quan khi cho rằng “Hồng Bàng thị truyện là một câu chuyện mang tính phả hệ về một thị tộc được định danh là Hồng Bàng, một cái tên chưa bao giờ được giải thích. Nó bắt đầu bằng việc chỉ ra những nguồn gốc của thị tộc này từ vị thủ lĩnh trong thần thoại Trung Hoa là Thần Nông”(1) Theo thuyết Tam Hoàng (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông) và Ngũ Đế gồm: Hoàng Đế (黃帝) Đế Chuyên Húc (帝顓頊) Đế Khốc/Cốc (帝嚳) Đế Nghiêu (帝堯) Đế Thuấn (帝舜) thì Tam Hoàng là tổ của các bộ tộc Việt. Trong Ngũ Đế chỉ trừ Hoàng Đế được viết theo cấu trúc Hán, còn bốn vị kia đều được gọi theo cách thức Việt. Phải chăng người Việt đã chiếm đa số trong các nhân vật khai sinh Trung Quốc? Vậy ai mượn ai (trong thần thoại)! Khi nói Đế Minh đi tuần thú phương nam, tức là phải đi từ phương bắc, Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi là người Bách Việt, vậy thì để Đế Nghi làm vua phương Bắc không có nghĩa đất nước của Đế Nghi là đất nước của Trung Hoa, lúc đó chủng Hoa chưa có chỗ đứng trên vùng đất đó. Ta nghĩ sao khi mà ngày nay tên của đa số các địa danh lớn ở Trung Quốc vẫn còn gọi theo cấu trúc Việt : Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Nam, Giang Bắc, Giang Đông, Giang Tây, Hải Nam… Lộc Tục được phong làm vua hiệu là Kinh Dương Vương, lấy tên vùng đất được phong làm vương hiệu. Kinh viết với bộ thủy là tên con sông Kinh, tức Kinh Thủy một chi lưu của sông Vị. Nếu lấy ngọn Bắc Trọng Sơn làm phân giới, thì phía Bắc núi là huyện Thuần Hóa, phía nam núi là huyện Kinh Dương. Do Kinh Dương ở về phía nam Bắc Trọng Sơn và phía bắc sông Kinh Thủy nên lấy dương làm tên theo thông lệ: “Sơn nam vi dương, thủy bắc vi dương”. Đây là cách đặt tên chịu ảnh hưởng thuyết âm dương của Kinh Dịch (Kinh của người Việt), lấy núi làm mốc, kéo dài đến con sông gần đó, vì vậy phía nam núi tức là phía bắc sông, tất cả đều nằm trong phạm vi của núi, nam thuộc dương nên vùng đó thường mang tên ghép là dương như Lạc Dương, Hán Dương, Nam dương…Do cách đặt tên giới hạn giữa núi và sông nên nảy sinh từ ghép Giang Sơn, Sơn Hà để chỉ đất nước. Tên Kinh Dương đã có từ rất xưa, trong Kinh Thi, phần Tiểu Nhã, thơ Lục nguyệt đã có nhắc đến: “Xâm Hạo cập Phương/ Chí vu Kinh Dương” (Xâm phạm Hạo và Phương. Cho đến Kinh Dương) Dân gian có thành ngữ “Kinh Vị phân minh”. Vị Thủy là chi lưu lớn của Hoàng Hà, phát nguyên từ Cam Túc đến Thiểm Tây nhập vào Hoàng Hà; Kinh Thủy cũng là một chi lưu của Vị Hà, phát nguyên từ Ninh Hạ, cả hai sông đến huyện Cao Lăng thành phố Tây An thì hợp lưu. Nước sông Kinh thì đục, nước sông Vị lại trong, hai dòng sông này khi gặp nhau hợp thành một lại không trộn lẫn với nhau mà chia làm hai phần trong đục rõ ràng. Ngày nay huyện Kinh Dương cũng như huyện Thuần Hóa đều thuộc thành phố Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây. Hàm Dương là kinh đô của nhà Tần. Phía đông, nam của Hàm Dương là thành phố Tây An. Tây An và Hàm Dương đều là đất đế đô, các nhà Chu, Tần, Hán, Đường đều đóng đô ở đây. Nhà Chu khi mới lập đô thì đóng ở đất Phong hoặc đất Hạo (Cảo) nằm về phía tây thành phố Tây An. ( Với địa thế đó có thể Kinh Dương là Kinh đô của Xích Quỷ và vì thế Lộc Tục xưng hiệu là Kinh Dương Vương) Kinh Dương là một phần của dãi Trung Nguyên (bao quát Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Tây) vùng đất mà sau đó được coi như đất phát địa của Hoa tộc hay còn gọi là Hán tộc. Như vậy là đất của Kinh Dương Vương tuy nói là phía nam, nhưng phải hiểu là phía nam của Bắc Trọng Sơn, tức là bao gồm cả phần mà người Hoa gọi là Trung Nguyên hay là Hoàng Hà trung hạ du. Về sau Hoa tộc vào chiếm Trung Nguyên, nước Xích Quỷ mất đất Kinh Dương Vương phải lui về phía Nam Trường Giang lập nước Văn Lang. Không nên dịch Xích Quỷ là quỷ đỏ, dịch như vậy là xuyên tạc (sẽ có bài riêng về danh xưng này) Hoa tộc suy tôn Hoàng Đế là tổ tiên của người Trung Quốc. Sau khi chiến thắng Viêm Đế và Si Vưu, Hoàng Đế lên ngôi khoảng 2698 TCN đến 2599TCN Viêm Đế dòng Thần Nông sống ở vùng Khương Thủy, phía Tây Bắc Trung Quốc (tỉnh Thiểm Tây) hiện nay.(Địa bàn này phù hợp với vương hiệu Kinh Dương) Kinh Dương Vương cũng dòng Thần Nông lên ngôi năm 2879 TCN, vua nước Xích Quỷ, đô ở Kinh Dương (Thiểm Tây). Đất nước Trung Hoa trước thời Hoàng Đế là đất của Thần Nông, tức của Bách Việt, lãnh thổ Viêm đế kéo dài từ tây sang đông bao gồm Thiểm Tây, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông. Si Vưu là lãnh tụ của các bộ lạc Cửu Lê ở phía nam Dương Tử giang, cũng có nghĩa là toàn bộ Trung Nguyên và Hoa Nam là đất của Bách Việt, Hoàng Đế thắng Viêm Đế, tiêu diệt Si Vưu chiếm đất Bách Việt rồi chiếm cả những gì thuộc về trí tuệ của Bách Việt (3). Chuyện của Kinh Dương Vương, Kelley cho là được kiến tạo ở thời trung đại do chịu ảnh hưởng của truyện Liễu Nghị, tác giả truyện này là Lý Triều Uy, người thời Đường hư cấu. Truyện kể : Liễu Nghị thi hỏng, đi thăm bạn ở Kinh Dương (trùng chữ với Kinh Dương Vương) gặp người con gái chăn dê bị chồng bạc đãi. Nàng là con gái út của Long Quân hồ Động Đình lấy con trai thứ của Kinh Xuyên (thần sông). Nàng nhờ Liễu Nghị mang thư cho Long Vương để vua cha đến cứu. Liễu Nghị trao thư cho Long Quân, em trai Long Quân là thần rồng cai quản sông Tiền Đường nổi giận bay di giết con trai Kinh Xuyên đem cháu gái về định gả cho Liễu Nghị, Nghị từ chối, trở về nhân gian được Long Quân tặng nhiều báu vật trở nên giàu có, lấy hai lần vợ, cả hai đều chết yểu. Con gái út Long Quân cám ơn tri ngộ hóa thành thiếu nữ làm vợ Liễu Nghị, hai vợ chồng sau thành tiên. Em họ Nghị là Liễu Hỗ đi trên Động Đình Hồ gặp Nghị, Nghị truyền cho phép tiên, Hỗ đem chuyện kể với người đời nhưng không ghi chép lại, Lý Triều Uy thấy hay nên viết truyện này。 Kinh Dương Vương theo Toàn Thư “Tên huý là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).(4) Cả hai câu chuyện có cùng motip, cưới con gái Động Đình Quân, còn thì các tình tiết đều hoàn toàn khác nhau. Chỉ dựa vào mỗi một chi tiết đó Kelley quả quyết Toàn Thư bắt chước truyện Liễu Nghị kiến tạo chuyện Kinh Dương Vương, chứ không thừa nhận Toàn Thư lấy từ truyền thuyết. Lời chú trong Toàn Thư chỉ muốn lưu ý rằng việc Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân không phải là sự kiện đơn độc mà có sự kế tục lâu dài cốt cho thấy đấy không phải là chuyện lạ. Kinh Xuyên và Kinh Dương tuy có chung con sông Kinh nhưng là hai vùng khác nhau, không có họ hàng, không thể đánh đồng làm một. Việc của Kinh Dương xảy ra trước việc của Kinh Xuyên xảy ra sau cách nhau hàng nghìn năm, cả vùng đất từ Kinh Dương đến Động Đình Hồ đều thuộc nước Xích Quỷ, việc thông gia giữa hai vùng lẽ nào không thể có, sao không thể nghĩ ý nghĩa câu chuyện muốn phản ánh sự liên kết giữa hai miền. Tại sao cứ khăng khăng cho rằng Liễu Nghị là truyện sáng tạo của Lý Triều Uy trong khi họ Lý xác nhận ông nghe kể rồi ghi lại: “Hỗ kể nhưng không chép lại” “ tôi thấy hay nên viết lại truyện này”. Đấy cũng là truyện khởi nguồn trong dân gian. Sách Lĩnh Nam Chích Quái chép: “Kinh Dương Vương xuống Thủy Phủ, cưới Long Nữ là con gái Động Đình Quân, sinh Sùng Lãm tức Lạc Long Quân”. Sách còn ghi Lạc Long Quân có lúc đi về Thủy Phủ. Trong khi Toàn Thư chỉ chép vỏn vẹn một câu: “Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân”. Đây là sự khác biệt rất lớn, Ngô Sĩ Liên gạt bỏ thần tích, với sử gia chỉ có ba nhân vật, ba con người mang tên Kinh Dương Vương, Thần Long, Động Đình Quân. Vua (Vương) Kinh Dương lấy con gái chúa (Quân) vùng Động Đình. Vương lớn hơn Quân, Lạc Long Quân là Quân không phải Vương, con Lạc Long mới là vua, Hùng Vương. Tệ hại là do câu chú của một ai đó bắt quàng gây ra, nó gây bầu khí thần bí cho câu chuyện. Thủy Phủ có thể là nơi trị vì của Long Vương, nhưng Thủy Phủ cũng có thể là một địa danh, hành cung của Kinh Dương Vương khi thị sát vùng Động Đình, ngày nay quanh hồ Động Đình vẫn còn vài chỗ mang tên Thủy Phủ. Một gia tộc sau nhiều lần lưu tán con cháu mươi đời sau ghi lại trong gia phả nghe kể lại ông tổ nguyên gốc ở…, lấy vợ ở…, có chuyện này xảy ra…, họ tin còn ta thì nói rằng chẳng có văn bản nào ghi lại không đáng tin, anh tự kiến tạo không có chuyện truyền khẩu đâu, anh đừng thờ ông tổ vu vơ đó, nghe có ổn không? Một dân tộc không lẽ không thể có truyền thuyết, họ ở đâu ra? Dân tộc Việt Nam chỉ xuất hiện từ thời trung đại? không có thời cổ đại? Cách đặt vấn đề của Kelley rất khoa học, rất uyên bác nhưng chắc là không cận nhân tình. Với truyền thuyết vấn đề không phải là đúng hay sai, thật hay không thật, mà là nó có đấy, nó đã cấy vào tâm thức dân tộc, nó đã thành tín ngưỡng ta không thể chối bỏ nó. Với truyền thuyết ta chỉ có thể khảo sát để tìm ra những thông điệp, những mật ngữ được chuyển tải qua nhiều lớp ngôn ngữ trầm tích trong đó. Người trung đại không thể tự dưng kiến tạo truyền thuyết của dân tộc, không ai có khả năng đó và cũng không thể có hoàn cảnh và tình tự để tạo được mạch nguồn của truyền thuyết, con sông không thể tự tạo ra nguồn. Tất nhiên không phải ai cũng có thể tạo ra truyền thuyết, không phải người thông thái bản lĩnh không làm được, lịch sử nhân loại cho thấy những bậc hiền triết của các dân tộc đều xuất hiện từ buổi sơ khai để dẫn dắt hậu nhân. Họ thâm uyên đến nỗi sau họ chưa chắc đã có người kế thừa. Tại sao tổ tiên Việt Nam không để lại bản văn cho con cháu, có thể họ đã để lại nhưng đã bị mất đi, cũng có thể họ không để lại vì giấy má có thể bị tiêu mòn hay có thể sợ bị thất lạc vào tay kẻ địch, chúng ta chưa có cơ sở nào để xác định, có điều chắc chắn họ đã chuyển vào ngôn ngữ những mật mã để bảo tồn “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”. Những sách vở bao đời tiền nhân trước tác đã bị kẻ thù phương Bắc cướp sạch, bia đá cũng bị đập phá, trống đồng bị nấu chảy, chỉ còn miệng người là tồn tại, còn con dân là còn truyền thuyết. Kinh Dịch tức Kinh Diệc (=Việt), là sáng tạo của Việt Nam người Hoa nhận là của họ, ai cũng tin, nhưng hỏi họ lý chứng ở đâu họ chỉ có thể trả lời “của tôi là của tôi”, người có của bị mất cũng vỗ tay phụ họa “của họ mà” trong khi đó ta có hằng tá lý chứng vẫn không thuyết phục nổi. Tôi đã chỉ ra trên trống đồng có những hoa văn cách điệu quẻ Dịch, hào âm được khắc bằng chấm chấm (….), hào dương là vạch liền, có trước văn bản của Trung Quốc (5) Tên các quẻ cơ bản của Kinh Dịch là Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Tốn, Đoài, Ly, Khảm đều là chữ Nôm, học giả Trung Hoa không giải nghĩa được, chỉ có thể hiểu theo tiếng Việt nghĩa mới sáng tỏ(6). Thông qua Kinh Dịch ta sẽ rõ Hồng Bàng thị truyện kiến tạo hay sáng tạo. PHÁT HIỆN TRUNG THIÊN ĐỒ TRONG TRUYỀN THUYẾT TRUNG THIÊN ĐỒ Kinh Dịch có tám quẻ đơn:Càn còn gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn còn gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm còn gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly còn gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn còn gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài còn gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn còn gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn còn gọi là Phong có tuợng là gió, là cây( mộc). Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên vòng tròn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy vì cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương vì cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ vì đã chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự gì vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ. Truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc “Con Rồng cháu Tiên”, một thông điệp về tình đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà còn chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đã được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đã được Trung Quốc nuôi dưỡng và đã thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đở có thể ký hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ ký hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc( nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm ký hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn-Đoài-Tốn-Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): “Ta là nòi rồng, đứng đầu thuỷ tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương họp lại mà sinh ra con, nhưng thuỷ hoả tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở với nhau lâu được, nay phải chia ly. Ta đem năm mươi con về Thuỷ Phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi xuống biển, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên nhau”. Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: “Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang”. Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly-Cấn-Chấn -Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn -Đoài -Tốn -Khảm -Ly -Cấn -Chấn -Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ.(6) Sở dĩ đồ đó được gọi là Trung Thiên, là chứng cớ chắc chắn để nói rằng Kinh Dịch là của Việt Nam vì nó là đồ duy nhất và là la bàn để người khai sáng dựa vào vị trí các quẻ được phân bố trên đó viết nên hào từ của Kinh, việc này vị trí các quẻ trên Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ không làm được(7) Vậy “Hồng Bàng thị truyện” là sáng tạo hay được kiến tạo từ thời Trung Đại, trong khi không chỉ đến thời Trung Đại mà ngay đến thời Hiện Đại, Trung Hoa vẫn chưa biết có sự hiện hữu của Trung Thiên Đồ. “Tưởng niệm Lạc Long Quân, dân làng Bình Đà, huyện Thanh Oai tổ chức lễ hội từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 3 âm lịch. Ngày 6 tháng 3 là ngày chính hội. Theo Kinh Dịch, tính theo số Tiên-Thiên, quẻ Khảm hay còn gọi là quẻ Thuỷ đứng ở vị trí số 6, quẻ Ly hay còn gọi là quẻ Hoả đứng ở vị trí số 3. Vì vậy lấy ngày 6 tháng 3 để tưởng niệm Đức Lạc Long Quân là dựa vào tính chất của quẻ Khảm (số 6) và quẻ Ly (số 3). Hai quẻ này hợp lại là quẻ Thuỷ-Hoả-Ký-Tế, quẻ thứ 63 trong tổng số 64 quẻ Dịch Quẻ Ký-Tế là quẻ duy nhất trong số 64 quẻ Dịch đạt đến độ lý tưởng hoàn chỉnh. Dịch quy định những hào ở vị trí số lẻ 1, 3, 5 phải là hào dương mới được kể là chính vị, nếu là hào âm thì gọi là thất vị (không đúng vị trí). Ngược lại những hào ở vị trí số chẵn 2, 4, 6 phải là hào âm mới được kể là chính vị, không đúng quy định đó gọi là thất vị. Số thứ tự của hào quẻ được tính từ dưới lên. Riêng hào 5 (hào cửu ngũ) còn được gọi là hào trung chính vì là hào dương mà lại là hào ở giữa quẻ ngoại. Cũng thế, hào 2 (lục nhị) còn được gọi là trung chính vì là hào âm và là hào ở giữa quẻ nội. Quẻ Ký-Tế, hào dương ở đúng vị trí dương, hào âm ở đúng vị trí âm được xem là quẻ chuẩn, chuẩn cho Dịch, chuẩn cho người, chuẩn cả cho trời đất vì đã đạt đến trung chính, nghĩa là đã đạt được Đạo. Trời đất trung chính thì mưa thuận gió hoà, xã hội trung chính thì cuộc sống yên ổn, thái bình. Cho nên toàn bộ Kinh Dịch, có thể nói như Nguyễn Hiến Lê: “Liệt kê ra thì cực phiền toái mà tổng hợp lại thì rất đơn giản chỉ gồm hai chữ trung chính như Trương Kỳ Quân đã nói: “Đạo lý trong thiên hạ (theo Dịch) chỉ là khiến cho việc không trung trở về chỗ trung, việc không chính trở về chỗ chính”. Nguyễn Văn Siêu nhấn mạnh trung không phải là lưng chừng, không phải là trung bình cộng mà trung là đạt đến chỗ chí thiện. Phải chăng qua ngày giỗ 6/3 Tổ tiên muốn để lại cho con cháu muôn đời lời di huấn về phép trị nước an dân cốt sao đạt đến chỗ trung chính. Đạo trị nước tất cũng là đạo giữ nước, đó chính là thông điệp của ngày giỗ Tổ Lạc Long Quân” (8). Tiền nhân làm việc gì cũng muốn gởi vào đó một hay nhiều thông điệp. Kelley còn dẫn một đoạn sau đây để áp đặt Hồng Bàng thị truyện lấy ý tưởng từ truyện Liễu Nghị. “Trong Liễu Nghị truyện, Liễu Nghị chuyển một bức thư cho Long quân hồ Động Đình sống dưới long cung vì lợi ích của con gái ông. Khi Liễu Nghị đến cung điện, văn bản ghi chép những thông tin sau đây: [Liễu] Nghị hỏi [một người chỉ đường cho ông đến long cung]: – Động Đình quân đang ở đâu? – Chủ nhân của chúng tôi đang ở gác Huyền Châu. Ông đang bàn bạc về Hoả kinh với Thái Dương đạo sĩ. Họ có lẽ sắp kết thúc rồi. – Hoả kinh nói về cái gì? – Chủ nhân của chúng tôi là rồng. Sức mạnh thần thánh của rồng liên quan đến nước; với một giọt nước ông có thể chụp lên cả các ngọn núi và thung lũng. Trong khi đó, Đạo sĩ là người. Sức mạnh thần thành cua người liên quan đến lửa; với một ngọn đèn, ông ấy có thể đốt cháy cung A Phòng [một cung điện được xây dựng bởi Tần Thuỷ hoàng đế]. Vì hai loại trí tuệ thần thánh là khác nhau về chức năng, nên sự biến hoá huyền diệu cũng rất khác nhau”. Khi khẳng định của Lạc Long Quân với Âu Cơ có thêm một ý nghĩa mới sau khi đọc đoạn văn này, thì tất nhiên không có cách nào khác phải thừa nhận chắc chắn rằng tác giả Hồng Bàng thị truyện đã lấy ý tưởng từ Liễu Nghị truyện để giải thích rằng sự khác biệt giữa nòi rồng, Lạc Long Quân, và dòng tiên/trên cạn, Âu Cơ, là do sự khác biệt giữa lửa và nước” (1). Ở trên ta đã biết chủ nhân Kinh Dịch là người Việt, họ là cha đẻ thuyết âm dương mà Trung Hoa chịu ảnh hưởng khá sâu đậm. Trung Thiên Đồ chỉ có ở Việt Nam ẩn tàng trong Hồng Bàng thị truyện. Ta có thể chia Trung Thiên Đồ thành hai vế: A: Càn Đoài Tốn Khảm và B: Khôn Chấn Cấn Ly. Vế A biểu tượng cho Lạc Long Quân (Càn), vế này có hình dạng con Rồng Dương với Càn 3 vạch (đầu rồng), Đoài Tốn đều có hai vạch hai bên (thân rồng), Khảm một vạch ở giữa (đuôi rồng). Vế B biểu tượng cho Âu Cơ, vế này biểu tượng cho con Rồng Âm với Khôn 3 vạch đứt (đầu rồng), Chấn Cấn đều có hai vạch đứt hai bên (thân rồng), Ly một vạch đứt ở giữa (đuôi rồng). Hai con rồng Âm Dương này cùng châu đầu vào quẻ Càn đặt ở phương Nam, cực dương biểu tượng mặt trời có ngọn lửa bao quanh. Đó chính là “Lưỡng Long triều nhật” thường thấy trên các mái đình, mái chùa, một dạng cách điệu của Trung Thiên Đồ. Rồng Lạc Long Quân có đuôi là quẻ Khảm nên luôn liên hệ với nước. Rồng Âu Cơ có đuôi là Ly nên luôn liên hệ với lửa, lại còn có Cấn/Sơn vì vậy thường ở núi. Rồng Âm Âu Cơ biến thể thành chim Phượng, hay là Tiên. Lý Triều Uy chỉ là một Nho sinh đọc sách thánh hiền, học ngũ Kinh đứng đầu là kinh Dịch sao có thể nói ngược Hồng Bàng thị truyện lấy ý tưởng từ Liễu Nghị truyện được nhỉ?! Keith Taylor từng viết rằng người Việt Nam “học cách để khớp nối các bản sắc phi Hoa vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của Trung Hoa và “lập luận rằng vua Hùng đã thực sự tồn tại”. Trái lại, Kelley chứng minh rằng: “các vua Hùng không có thật. Thay vào đó, họ được kiến tạo ở thời trung đại” “sau đó khớp nối một bản sắc riêng vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa” (1) Cả hai có kết luận khác nhau về vua Hùng nhưng lại cùng chung quan điểm là Việt Nam vay mượn các khái niệm thuộc di sản văn hóa của người Trung Hoa. Có thật vậy không? Có những câu hỏi cần được thảo luận Tại sao những trang đầu lịch sử Trung Hoa lại đầy tên người gọi theo cách thức Việt? Tại sao có rất nhiều địa danh Việt trên đất Trung Hoa? (9) Vua Kiệt nhà Hạ và vua Trụ nhà Thương là gốc người nào mà tên Kiệt (14), Trụ không có nghĩa trong tiếng Trung lại có nghĩa trong tiếng Việt: Kiệt-kịt-Cặc, Trụ-chụ-đụ, kiện chứng cho hai tên này: người đàn bà của Trụ được gọi là Đắc Kĩ đọc theo phiên thiết là Đĩ. Kiệt Trụ không phải là vương hiệu mà là hỗn hiệu do dân chúng oán hận mắng nhiếc, vương hiệu của Trụ là Đế Tân. Tại sao dân chúng lại chửi bằng tiếng Việt : vua Cặc, vua Đụ, con Đĩ ? Dân nói tiếng Việt, vua mang tên Việt, vậy Triều Hạ, Triều Thương của ai? (10) Kinh Dịch đứng đầu các Kinh của Trung Hoa ảnh hưởng đến mọi lãnh vực văn hóa, chính trị, triết học, văn học, quân sự của Trung Hoa là tác phẩm sáng tạo của người Việt (Nam), đó là nguyên tác không phải chuyển dịch, Vậy thì thứ chữ để viết nên Kinh Dịch do ai sáng tạo? Chữ Vương trong tước hiệu của Kinh Dương Vương trên Giáp cốt văn được A- vương B-ngọc Việt C-Việt (kim văn) D-cái Việt viết theo hình (A) đó là hình dạng ngọc Việt (hình B), tượng trưng cho vương quyền được truyền từ thời nhà Hạ, qua nhà Thương đến nhà Chu. Chữ Việt (hình C) cũng mô phỏng cái Việt (hình D) quyền uy đó, còn người Việt Nam thì tự xưng là người Kinh 京, dân kinh đô, sao họ lại phổng tay trên người Hoa để chọn những chữ có tầm cao như vậy, nếu như họ không phải là người đã tạo ra chữ? (11) Người Việt ở phương Nam, người Hoa ở phương Bắc, người Hoa miệt thị người phương Nam là man di (nam man), thế mà Kinh Dịch gọi phương Nam là phương văn minh, trong chữ Nam lại có chữ hạnh, còn chữ Bắc lại là hình ảnh của hai kẻ đâu lưng vào nhau, kèn cựa nhau, phản bội nhau. Vậy chỉ có người phương nam tạo chữ mới tự ca tụng mình, và trút nỗi hận người phương Bắc hay xâm lấn lên trên chữ thôi, chứ lý nào người phương Bắc cường bạo như vậy lại đi tự lăng mạ mình!(12) Thiết nghĩ giải quyết được những vấn nạn đó ta sẽ trả lời được Việt Nam có hay không thời tiền sử, tiền sử Trung Hoa mượn những khái niệm văn hóa Việt hay Việt mượn của Hoa. Việt có chữ hay không? Chữ gọi là chữ Hán thật sự do ai tạo nên, ai đã biến đổi, canh tân, giản hóa để thành của mình. Việt mất bao nhiêu tài sản trí tuệ? Ai sáng tạo ai kiến tạo? Đâu là chân lý? Nguyễn Thiếu Dũng Chú thích: 1-bản dịch của Hoa Quốc Văn, https://leminhkhaiviet.wordpress.com/ 2-http://xuandienhannom.blogspot.com 3-Ngô Sĩ Liên- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nomna.org 4-Nguyễn Thiếu Dũng, Chuyện về Kinh Dương Vương 5-Nguyễn Thiếu Dũng, Phát hiện Kinh Dịch trên trống đồng Đông Sơn 6-Nguyễn Thiếu Dũng, Bàn về tên gọi các quẻ cơ bản của Kinh Dịch 7-Nguyễn Thiếu Dũng, Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam 8-Nguyễn Thiếu Dũng, Ý nghĩa ngày giỗ Tổ 9- Nguyễn Thiếu Dũng, Địa danh Việt trên đất Trung Hoa. 10-Nguyễn Thiếu Dũng, Ghét đời Kiệt Trụ 11-Nguyễn Thiếu Dũng, Bi sử chữ Việt, 12-Nguyễn Thiếu Dũng, Mối liên hệ giữa tôi, vua, nhà nước và chủng tộc 13-Nguyễn Thiếu Dũng, Điều mách bảo của từ chỉ phương hướng Các bài của Nguyễn Thiếu Dũng đã đăng trên anviettoancau.net, nhưng nay trang này không vào được, độc giả có thể đưa tiêu đề từng bài lên Google để tìm bài còn lưu trên các trang khác. 14- Kiệt 桀 thông với kiệt榤 : tội cung hình ngày xưa, con trai phạm tội dâm ô bị cắt bộ phận sinh dục. MỘT ÍT SỰ THẬT VỀ KINH DƯƠNG VƯƠNG Nguyễn Thiếu Dũng Lịch Sử Việt Nam có hai phần : phần sử truyền thuộc về huyền sử, phần sử chép thuộc về lịch sử, cả hai loại đều có chuyện thật và chuyện không thật. Tất cả những gì lịch sử ghi chép không phải hoàn toàn đáng tin, mỗi triều đại đều có thể xuyên tạc lịch sử theo ý đồ của họ. Chính trị có thể sử dụng lịch sử thành công cụ phục vụ lợi ích của nó. Những dụng cụ được chế tạo vì lợi ích của nhân loại có thể bị biến thành vũ khí sát thương khi vào tay kẻ ác, biết vậy nhưng không thể không dùng các vật đó, đập chuột lẽ đâu đập luôn bình. Ta không thể cả tin vào huyền sử cũng như lịch sử, ai cũng có quyền hoài nghi. Lịch sử là phần nổi, huyền sử là phần chìm, không thể chỉ ôm phần nổi mà chối bỏ phần chìm, không có quốc gia nào, dân tộc nào tự trên trời rơi xuống mà phải trãi qua trình hình thành, quá trình này không chỉ vài trăm năm, vài nghìn năm, mà là năm nghìn, mười nghìn, trăm nghìn năm hay xa hơn hằng triệu năm, vì vậy tập thể nào cũng có một phần lịch sử bị bệnh “ quên quá khứ”, bổn phận của người đọc sử là phải tìm cách chữa căn bệnh trầm kha đó, những mãnh vở của huyền sử một phần nào sẽ giúp cho con người lần tìm lại cội nguồn của mình trong khi chờ những khoa học khác phụ trợ. Thế nên khi chưa hiểu biết hết lịch sử hay huyền sử đừng vội phỉ báng huyền sử, đó là thông điệp của tiền nhân gởi lại cho hậu thế với nhiều mật mã, nhiều ẩn ngữ, đừng vội thóa mạ những nhân vật huyền sử mà mang tội bất kính với tổ tiên. Đọc sử cũng nên học bài học đầu tiên là “tiên học lễ “ vậy. Kinh Dương Vương (经阳王) không phải do châu Kinh (荊) và châu Dương (扬) ghép lại, vì các chữ đó khác nhau, tuy âm giống nhau mà nghĩa khác nhau. Cổ nhân đã hết sức tinh tế khi dùng chữ, chứ không lầm lẫn như suy nghĩ của Đào Duy Anh mà Liam C. Kelley đã viện dẫn : “Những chữ trong tên hai châu này đồng âm với những chữ “Kinh” và “Dương” trong cái tên Kinh Dương Vương [涇陽], nhưng chúng được viết khác nhau. Đào Duy Anh nhận ra điều này và cho rằng câu chuyện về Kinh Dương Vương có lẽ bắt nguồn từ khi người Việt đang sống dọc sông Dương Tử ở khu vực châu Kinh và Dương, và rằng qua nhiều thế kỉ người Việt truyền miệng câu chuyện này khi họ di cư về phía Nam đến đồng bằng Sông Hồng. Khi câu chuyện rốt cuộc được viết ra, ai đó đã chọn các từ đồng âm của Kinh và Dương, do đó làm mờ đi sự kết nối sử thực giữa Kinh Dương Vương và những vùng địa lí là “Kinh” và “Dương” mà ngày nay là miền Trung Trung Hoa. Do đó, Đào Duy Anh cho rằng một khi nhận ra nghĩa đen của Kinh và Dương, sự tồn tại của một Động Đình Quân cũng có nghĩa [cho thấy] rằng những cái tên đó đều gắn với một khu vực có cùng tên gọi, nơi mà ông nghĩ rằng đó là quê gốc của người Việt” (1) Đất đai của người Việt không chỉ dừng lại ở hồ Động Đình mà còn vượt xa hơn về phía bắc. Truyền thuyết nói Đế Minh là cháu ba đời của Viêm Đế, họ Thần Nông. Viêm đế là vua miền viêm nhiệt (nhiệt đới) ý chỉ phương nam, họ Thần Nông chỉ sắc dân nông nghiệp, Thần Nông có cấu trúc chữ theo văn phạm Việt, nên Thần Nông chính là tổ của Bách Việt, người Hoa sau khi thống nhất Trung Hoa đồng hóa số dân Bách Việt nằm trong lãnh địa của họ, đã sáp nhập Thần Nông thành tổ của họ, vì vậy họ xưng là con cháu Viêm Hoàng (Viêm đế, Hoàng đế). Khi đã nhận Viêm đế làm tổ họ đồng hóa người Việt và văn hóa Viêt thành tài sản của họ. Hoa tộc sau này đổi thành Hán tộc không phải là một chủng tộc, họ là một tập hợp đa văn hóa, người Hoa Bắc và Hoa Nam không cùng gen, người Hoa Nam thuộc về chủng tộc Việt cùng gen với người Đông Nam Á. Liam C. Kelley trong bài ““Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại”(1) và Trần Trọng Dương trong bài “Kinh Dương Vương ông là ai?”(2) là người phát triển luận chứng của Kelly đều theo thuyết Hoa tâm không nhìn thấy vấn đề này. Trước hết Kelley không khách quan khi cho rằng “Hồng Bàng thị truyện là một câu chuyện mang tính phả hệ về một thị tộc được định danh là Hồng Bàng, một cái tên chưa bao giờ được giải thích. Nó bắt đầu bằng việc chỉ ra những nguồn gốc của thị tộc này từ vị thủ lĩnh trong thần thoại Trung Hoa là Thần Nông”(1) Theo thuyết Tam Hoàng (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông) và Ngũ Đế gồm: Hoàng Đế (黃帝) Đế Chuyên Húc (帝顓頊) Đế Khốc/Cốc (帝嚳) Đế Nghiêu (帝堯) Đế Thuấn (帝舜) thì Tam Hoàng là tổ của các bộ tộc Việt. Trong Ngũ Đế chỉ trừ Hoàng Đế được viết theo cấu trúc Hán, còn bốn vị kia đều được gọi theo cách thức Việt. Phải chăng người Việt đã chiếm đa số trong các nhân vật khai sinh Trung Quốc? Vậy ai mượn ai (trong thần thoại)! Khi nói Đế Minh đi tuần thú phương nam, tức là phải đi từ phương bắc, Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi là người Bách Việt, vậy thì để Đế Nghi làm vua phương Bắc không có nghĩa đất nước của Đế Nghi là đất nước của Trung Hoa, lúc đó chủng Hoa chưa có chỗ đứng trên vùng đất đó. Ta nghĩ sao khi mà ngày nay tên của đa số các địa danh lớn ở Trung Quốc vẫn còn gọi theo cấu trúc Việt : Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Nam, Giang Bắc, Giang Đông, Giang Tây, Hải Nam… Lộc Tục được phong làm vua hiệu là Kinh Dương Vương, lấy tên vùng đất được phong làm vương hiệu. Kinh viết với bộ thủy là tên con sông Kinh, tức Kinh Thủy một chi lưu của sông Vị. Nếu lấy ngọn Bắc Trọng Sơn làm phân giới, thì phía Bắc núi là huyện Thuần Hóa, phía nam núi là huyện Kinh Dương. Do Kinh Dương ở về phía nam Bắc Trọng Sơn và phía bắc sông Kinh Thủy nên lấy dương làm tên theo thông lệ: “Sơn nam vi dương, thủy bắc vi dương”. Đây là cách đặt tên chịu ảnh hưởng thuyết âm dương của Kinh Dịch (Kinh của người Việt), lấy núi làm mốc, kéo dài đến con sông gần đó, vì vậy phía nam núi tức là phía bắc sông, tất cả đều nằm trong phạm vi của núi, nam thuộc dương nên vùng đó thường mang tên ghép là dương như Lạc Dương, Hán Dương, Nam dương…Do cách đặt tên giới hạn giữa núi và sông nên nảy sinh từ ghép Giang Sơn, Sơn Hà để chỉ đất nước. Tên Kinh Dương đã có từ rất xưa, trong Kinh Thi, phần Tiểu Nhã, thơ Lục nguyệt đã có nhắc đến: “Xâm Hạo cập Phương/ Chí vu Kinh Dương” (Xâm phạm Hạo và Phương. Cho đến Kinh Dương) Dân gian có thành ngữ “Kinh Vị phân minh”. Vị Thủy là chi lưu lớn của Hoàng Hà, phát nguyên từ Cam Túc đến Thiểm Tây nhập vào Hoàng Hà; Kinh Thủy cũng là một chi lưu của Vị Hà, phát nguyên từ Ninh Hạ, cả hai sông đến huyện Cao Lăng thành phố Tây An thì hợp lưu. Nước sông Kinh thì đục, nước sông Vị lại trong, hai dòng sông này khi gặp nhau hợp thành một lại không trộn lẫn với nhau mà chia làm hai phần trong đục rõ ràng. Ngày nay huyện Kinh Dương cũng như huyện Thuần Hóa đều thuộc thành phố Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây. Hàm Dương là kinh đô của nhà Tần. Phía đông, nam của Hàm Dương là thành phố Tây An. Tây An và Hàm Dương đều là đất đế đô, các nhà Chu, Tần, Hán, Đường đều đóng đô ở đây. Nhà Chu khi mới lập đô thì đóng ở đất Phong hoặc đất Hạo (Cảo) nằm về phía tây thành phố Tây An. ( Với địa thế đó có thể Kinh Dương là Kinh đô của Xích Quỷ và vì thế Lộc Tục xưng hiệu là Kinh Dương Vương) Kinh Dương là một phần của dãi Trung Nguyên (bao quát Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Tây) vùng đất mà sau đó được coi như đất phát địa của Hoa tộc hay còn gọi là Hán tộc. Như vậy là đất của Kinh Dương Vương tuy nói là phía nam, nhưng phải hiểu là phía nam của Bắc Trọng Sơn, tức là bao gồm cả phần mà người Hoa gọi là Trung Nguyên hay là Hoàng Hà trung hạ du. Về sau Hoa tộc vào chiếm Trung Nguyên, nước Xích Quỷ mất đất Kinh Dương Vương phải lui về phía Nam Trường Giang lập nước Văn Lang. Không nên dịch Xích Quỷ là quỷ đỏ, dịch như vậy là xuyên tạc (sẽ có bài riêng về danh xưng này) Hoa tộc suy tôn Hoàng Đế là tổ tiên của người Trung Quốc. Sau khi chiến thắng Viêm Đế và Si Vưu, Hoàng Đế lên ngôi khoảng 2698 TCN đến 2599TCN Viêm Đế dòng Thần Nông sống ở vùng Khương Thủy, phía Tây Bắc Trung Quốc (tỉnh Thiểm Tây) hiện nay.(Địa bàn này phù hợp với vương hiệu Kinh Dương) Kinh Dương Vương cũng dòng Thần Nông lên ngôi năm 2879 TCN, vua nước Xích Quỷ, đô ở Kinh Dương (Thiểm Tây). Đất nước Trung Hoa trước thời Hoàng Đế là đất của Thần Nông, tức của Bách Việt, lãnh thổ Viêm đế kéo dài từ tây sang đông bao gồm Thiểm Tây, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông. Si Vưu là lãnh tụ của các bộ lạc Cửu Lê ở phía nam Dương Tử giang, cũng có nghĩa là toàn bộ Trung Nguyên và Hoa Nam là đất của Bách Việt, Hoàng Đế thắng Viêm Đế, tiêu diệt Si Vưu chiếm đất Bách Việt rồi chiếm cả những gì thuộc về trí tuệ của Bách Việt (3). Chuyện của Kinh Dương Vương, Kelley cho là được kiến tạo ở thời trung đại do chịu ảnh hưởng của truyện Liễu Nghị, tác giả truyện này là Lý Triều Uy, người thời Đường hư cấu. Truyện kể : Liễu Nghị thi hỏng, đi thăm bạn ở Kinh Dương (trùng chữ với Kinh Dương Vương) gặp người con gái chăn dê bị chồng bạc đãi. Nàng là con gái út của Long Quân hồ Động Đình lấy con trai thứ của Kinh Xuyên (thần sông). Nàng nhờ Liễu Nghị mang thư cho Long Vương để vua cha đến cứu. Liễu Nghị trao thư cho Long Quân, em trai Long Quân là thần rồng cai quản sông Tiền Đường nổi giận bay di giết con trai Kinh Xuyên đem cháu gái về định gả cho Liễu Nghị, Nghị từ chối, trở về nhân gian được Long Quân tặng nhiều báu vật trở nên giàu có, lấy hai lần vợ, cả hai đều chết yểu. Con gái út Long Quân cám ơn tri ngộ hóa thành thiếu nữ làm vợ Liễu Nghị, hai vợ chồng sau thành tiên. Em họ Nghị là Liễu Hỗ đi trên Động Đình Hồ gặp Nghị, Nghị truyền cho phép tiên, Hỗ đem chuyện kể với người đời nhưng không ghi chép lại, Lý Triều Uy thấy hay nên viết truyện này。 Kinh Dương Vương theo Toàn Thư “Tên huý là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).(4) Cả hai câu chuyện có cùng motip, cưới con gái Động Đình Quân, còn thì các tình tiết đều hoàn toàn khác nhau. Chỉ dựa vào mỗi một chi tiết đó Kelley quả quyết Toàn Thư bắt chước truyện Liễu Nghị kiến tạo chuyện Kinh Dương Vương, chứ không thừa nhận Toàn Thư lấy từ truyền thuyết. Lời chú trong Toàn Thư chỉ muốn lưu ý rằng việc Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân không phải là sự kiện đơn độc mà có sự kế tục lâu dài cốt cho thấy đấy không phải là chuyện lạ. Kinh Xuyên và Kinh Dương tuy có chung con sông Kinh nhưng là hai vùng khác nhau, không có họ hàng, không thể đánh đồng làm một. Việc của Kinh Dương xảy ra trước việc của Kinh Xuyên xảy ra sau cách nhau hàng nghìn năm, cả vùng đất từ Kinh Dương đến Động Đình Hồ đều thuộc nước Xích Quỷ, việc thông gia giữa hai vùng lẽ nào không thể có, sao không thể nghĩ ý nghĩa câu chuyện muốn phản ánh sự liên kết giữa hai miền. Tại sao cứ khăng khăng cho rằng Liễu Nghị là truyện sáng tạo của Lý Triều Uy trong khi họ Lý xác nhận ông nghe kể rồi ghi lại: “Hỗ kể nhưng không chép lại” “ tôi thấy hay nên viết lại truyện này”. Đấy cũng là truyện khởi nguồn trong dân gian. Sách Lĩnh Nam Chích Quái chép: “Kinh Dương Vương xuống Thủy Phủ, cưới Long Nữ là con gái Động Đình Quân, sinh Sùng Lãm tức Lạc Long Quân”. Sách còn ghi Lạc Long Quân có lúc đi về Thủy Phủ. Trong khi Toàn Thư chỉ chép vỏn vẹn một câu: “Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân”. Đây là sự khác biệt rất lớn, Ngô Sĩ Liên gạt bỏ thần tích, với sử gia chỉ có ba nhân vật, ba con người mang tên Kinh Dương Vương, Thần Long, Động Đình Quân. Vua (Vương) Kinh Dương lấy con gái chúa (Quân) vùng Động Đình. Vương lớn hơn Quân, Lạc Long Quân là Quân không phải Vương, con Lạc Long mới là vua, Hùng Vương. Tệ hại là do câu chú của một ai đó bắt quàng gây ra, nó gây bầu khí thần bí cho câu chuyện. Thủy Phủ có thể là nơi trị vì của Long Vương, nhưng Thủy Phủ cũng có thể là một địa danh, hành cung của Kinh Dương Vương khi thị sát vùng Động Đình, ngày nay quanh hồ Động Đình vẫn còn vài chỗ mang tên Thủy Phủ. Một gia tộc sau nhiều lần lưu tán con cháu mươi đời sau ghi lại trong gia phả nghe kể lại ông tổ nguyên gốc ở…, lấy vợ ở…, có chuyện này xảy ra…, họ tin còn ta thì nói rằng chẳng có văn bản nào ghi lại không đáng tin, anh tự kiến tạo không có chuyện truyền khẩu đâu, anh đừng thờ ông tổ vu vơ đó, nghe có ổn không? Một dân tộc không lẽ không thể có truyền thuyết, họ ở đâu ra? Dân tộc Việt Nam chỉ xuất hiện từ thời trung đại? không có thời cổ đại? Cách đặt vấn đề của Kelley rất khoa học, rất uyên bác nhưng chắc là không cận nhân tình. Với truyền thuyết vấn đề không phải là đúng hay sai, thật hay không thật, mà là nó có đấy, nó đã cấy vào tâm thức dân tộc, nó đã thành tín ngưỡng ta không thể chối bỏ nó. Với truyền thuyết ta chỉ có thể khảo sát để tìm ra những thông điệp, những mật ngữ được chuyển tải qua nhiều lớp ngôn ngữ trầm tích trong đó. Người trung đại không thể tự dưng kiến tạo truyền thuyết của dân tộc, không ai có khả năng đó và cũng không thể có hoàn cảnh và tình tự để tạo được mạch nguồn của truyền thuyết, con sông không thể tự tạo ra nguồn. Tất nhiên không phải ai cũng có thể tạo ra truyền thuyết, không phải người thông thái bản lĩnh không làm được, lịch sử nhân loại cho thấy những bậc hiền triết của các dân tộc đều xuất hiện từ buổi sơ khai để dẫn dắt hậu nhân. Họ thâm uyên đến nỗi sau họ chưa chắc đã có người kế thừa. Tại sao tổ tiên Việt Nam không để lại bản văn cho con cháu, có thể họ đã để lại nhưng đã bị mất đi, cũng có thể họ không để lại vì giấy má có thể bị tiêu mòn hay có thể sợ bị thất lạc vào tay kẻ địch, chúng ta chưa có cơ sở nào để xác định, có điều chắc chắn họ đã chuyển vào ngôn ngữ những mật mã để bảo tồn “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”. Những sách vở bao đời tiền nhân trước tác đã bị kẻ thù phương Bắc cướp sạch, bia đá cũng bị đập phá, trống đồng bị nấu chảy, chỉ còn miệng người là tồn tại, còn con dân là còn truyền thuyết. Kinh Dịch tức Kinh Diệc (=Việt), là sáng tạo của Việt Nam người Hoa nhận là của họ, ai cũng tin, nhưng hỏi họ lý chứng ở đâu họ chỉ có thể trả lời “của tôi là của tôi”, người có của bị mất cũng vỗ tay phụ họa “của họ mà” trong khi đó ta có hằng tá lý chứng vẫn không thuyết phục nổi. Tôi đã chỉ ra trên trống đồng có những hoa văn cách điệu quẻ Dịch, hào âm được khắc bằng chấm chấm (….), hào dương là vạch liền, có trước văn bản của Trung Quốc (5) Tên các quẻ cơ bản của Kinh Dịch là Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Tốn, Đoài, Ly, Khảm đều là chữ Nôm, học giả Trung Hoa không giải nghĩa được, chỉ có thể hiểu theo tiếng Việt nghĩa mới sáng tỏ(6). Thông qua Kinh Dịch ta sẽ rõ Hồng Bàng thị truyện kiến tạo hay sáng tạo. PHÁT HIỆN TRUNG THIÊN ĐỒ TRONG TRUYỀN THUYẾT TRUNG THIÊN ĐỒ Kinh Dịch có tám quẻ đơn:Càn còn gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn còn gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm còn gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly còn gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn còn gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài còn gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn còn gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn còn gọi là Phong có tuợng là gió, là cây( mộc). Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên vòng tròn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy vì cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương vì cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ vì đã chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự gì vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ. Truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc “Con Rồng cháu Tiên”, một thông điệp về tình đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà còn chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đã được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đã được Trung Quốc nuôi dưỡng và đã thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đở có thể ký hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ ký hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc( nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm ký hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn-Đoài-Tốn-Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): “Ta là nòi rồng, đứng đầu thuỷ tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương họp lại mà sinh ra con, nhưng thuỷ hoả tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở với nhau lâu được, nay phải chia ly. Ta đem năm mươi con về Thuỷ Phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi xuống biển, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên nhau”. Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: “Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang”. Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly-Cấn-Chấn -Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn -Đoài -Tốn -Khảm -Ly -Cấn -Chấn -Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ.(6) Sở dĩ đồ đó được gọi là Trung Thiên, là chứng cớ chắc chắn để nói rằng Kinh Dịch là của Việt Nam vì nó là đồ duy nhất và là la bàn để người khai sáng dựa vào vị trí các quẻ được phân bố trên đó viết nên hào từ của Kinh, việc này vị trí các quẻ trên Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ không làm được(7) Vậy “Hồng Bàng thị truyện” là sáng tạo hay được kiến tạo từ thời Trung Đại, trong khi không chỉ đến thời Trung Đại mà ngay đến thời Hiện Đại, Trung Hoa vẫn chưa biết có sự hiện hữu của Trung Thiên Đồ. “Tưởng niệm Lạc Long Quân, dân làng Bình Đà, huyện Thanh Oai tổ chức lễ hội từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 3 âm lịch. Ngày 6 tháng 3 là ngày chính hội. Theo Kinh Dịch, tính theo số Tiên-Thiên, quẻ Khảm hay còn gọi là quẻ Thuỷ đứng ở vị trí số 6, quẻ Ly hay còn gọi là quẻ Hoả đứng ở vị trí số 3. Vì vậy lấy ngày 6 tháng 3 để tưởng niệm Đức Lạc Long Quân là dựa vào tính chất của quẻ Khảm (số 6) và quẻ Ly (số 3). Hai quẻ này hợp lại là quẻ Thuỷ-Hoả-Ký-Tế, quẻ thứ 63 trong tổng số 64 quẻ Dịch Quẻ Ký-Tế là quẻ duy nhất trong số 64 quẻ Dịch đạt đến độ lý tưởng hoàn chỉnh. Dịch quy định những hào ở vị trí số lẻ 1, 3, 5 phải là hào dương mới được kể là chính vị, nếu là hào âm thì gọi là thất vị (không đúng vị trí). Ngược lại những hào ở vị trí số chẵn 2, 4, 6 phải là hào âm mới được kể là chính vị, không đúng quy định đó gọi là thất vị. Số thứ tự của hào quẻ được tính từ dưới lên. Riêng hào 5 (hào cửu ngũ) còn được gọi là hào trung chính vì là hào dương mà lại là hào ở giữa quẻ ngoại. Cũng thế, hào 2 (lục nhị) còn được gọi là trung chính vì là hào âm và là hào ở giữa quẻ nội. Quẻ Ký-Tế, hào dương ở đúng vị trí dương, hào âm ở đúng vị trí âm được xem là quẻ chuẩn, chuẩn cho Dịch, chuẩn cho người, chuẩn cả cho trời đất vì đã đạt đến trung chính, nghĩa là đã đạt được Đạo. Tr

Trackbacks/Pingbacks

  1. 2593. TRAO ĐỔI VỚI PGS.TS BÙI XUÂN ĐÍNH « BA SÀM - July 8, 2014

    […]    Một cuốn sách lạc đường, đẩy học thuật Việt thụt lùi hơn nửa thế kỷ cùng những Giáo sư, Tiến sĩ mất phương hướng, bộc lộ thảm trạng của khoa học nhân văn Việt Nam. Bên trong, không đủ tâm và trí để nói với nhân dân về cội nguồn cùng văn hóa đích thực của dân tộc; thậm chí vẫn ca những bài ca mốc meo về “ngã tư đường giao lưu quốc tế,” về “tiếp biến văn hóa,” về “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ trung Hoa”… Bên ngoài, nó câm nín trước những đòn tấn công hiểm ác không chỉ xuyên tạc chính nghĩa dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà cả những mưu toan nhân danh khoa học phủ định tới cỗi rễ dân tộc Việt! (K. Taylor: Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào? L. Kelley: “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V….) […]

  2. 2273. TRAO ĐỔI VỚI PGS.TS BÙI XUÂN ĐÍNH « BA SÀM - May 28, 2014

    […]    Một cuốn sách lạc đường, đẩy học thuật Việt thụt lùi hơn nửa thế kỷ cùng những Giáo sư, Tiến sĩ mất phương hướng, bộc lộ thảm trạng của khoa học nhân văn Việt Nam. Bên trong, không đủ tâm và trí để nói với nhân dân về cội nguồn cùng văn hóa đích thực của dân tộc; thậm chí vẫn ca những bài ca mốc meo về “ngã tư đường giao lưu quốc tế,” về “tiếp biến văn hóa,” về “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ trung Hoa”… Bên ngoài, nó câm nín trước những đòn tấn công hiểm ác không chỉ xuyên tạc chính nghĩa dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà cả những mưu toan nhân danh khoa học phủ định tới cỗi rễ dân tộc Việt! (K. Taylor: Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào? L. Kelley: “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V….) […]

  3. Hà Văn Thùy – HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT? | khoahocnet - March 2, 2014

    […] 1. Về bài:  “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V…. […]

  4. HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT ? | CÓP NHẶT - February 25, 2014

    […] 1. Về bài:  “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V…. […]

  5. HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT? – BS | Vô Ngã - February 22, 2014

    […] 1. Về bài:  “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V…. […]

  6. HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT? | Văn Ngọc Thành - February 22, 2014

    […] 1. Về bài:  “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người V…. […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: