Các vị vua ngoại lai của triều Lý và triều Trần

7 Sep

Các vị vua ngoại lai của triều Lý và Trần

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Có một lí thuyết đã phát triển được vài thập kỉ qua ở các nhà nhân chủng học và sử học và được mệnh danh là “lí thuyết về ông vua ngoại lai”. Điều lí thuyết này cố gắng lí giải là tại sao trên thế giới, trong lịch sử, chúng ta có thể thấy rất nhiều ví dụ về những con người có nguồn gốc ở một nơi lại trở thành người cai trị ở những nơi khác, tức là, tại sao có những người “ngoại lai” đối với một cộng đồng xác định, lại có thể trở thành “vua” của các cộng đồng kia.

Image

Đại khái, các học giả đã thực hiện hai hướng tiếp cận để trả lời câu hỏi này. Một số nhấn mạnh nến những tín ngưỡng văn hoá trong quyền lực (bí ẩn, thần thánh) của những kẻ lạ mặt, trong khi số khác nhấn mạnh vai trò thực tiễn mà những người xa lạ có thể đóng. Chẳng hạn, ở một số vùng nơi các nhóm đang có chiến tranh với nhau, đôi khi có một người từ ngoài tới có thể thành công hơn trong việc duy trì hoà bình qua vị trí trung gian (được ý thức) của ông/bà ta.

David Henley, đã thảo luận về giá trị của lí thuyết vị vua ngoại lai đối với Sulawesi, một khu vực ngày nay là miền Đông Indonesia, và năm 2006 ông là người đồng tổ chức của một hội thảo chuyên đề trong đó có mời các học giả kiểm chứng trường hợp này ở các phần khác của Đông Nam Á và thế giới. Một bài thông báo về hội thảo của Mary Somers Heidhues có thể tìm thấy ở đây. Hai năm sau đó một số bài của hội thảo đã được xuất bản trong một đặc san của tờ Indonesia and Malay World, tập 36 (2008).

Trong bài thông báo của mình về hội thảo, Mary Somers Heidhues viết: “David Henley đã nghiên cứu rằng tính dễ tiếp nhận của người dân Bắc Sulawesi đối với chủ nghĩa thực dân Hà Lan hẳn được thúc đẩy bởi một dạng hiện tượng vua-người nước ngoài, một ý chí cho phép chấp nhận sự cai trị và những người cai trị ngoại quốc bởi những người bên ngoài đã hành động như những vị quan toà vô tư trong nhiều cuộc tranh chấp đặc thù trước đó vốn đã dẫn đến sự bùng nổ bạo lực. Năng lực siêu nhiên là đặc tính có thể khác của những vị vua ngoại lai, trong khi những vị khác có thể vượt lên trên được đám người ủng hộ bởi điều kiện thuận lợi về mậu dịch hay sự tiếp cận đặc biệt với kĩ thuật – công nghệ của họ”.

Image

Lí thuyết vị vua ngoại lai đặc biệt được sử dụng để nói về cách thức người châu Âu giành được sự kiểm soát thực dân ở những phần nhất định của thế giới. Lí thuyết đó cho rằng ở một mức độ nào đó, và bởi những nguyên nhân khác nhau, những nhóm cư dân bản địa đã cho phép “các vị vua ngoại lai” châu Âu nắm quyền.

Như Ian Caldwell và David Henley đã lưu ý trong phần dẫn nhập của họ cho đặc san của tờ Indonesia and Malay World, lí thuyết này không thể được nói ra trong thập kỉ 1950s-1970s “khi một làn sóng nhấp nhô của chủ nghĩa dân tộc bài thực dân… khiến cho ngay cả các học giả bảo thủ cũng hạ thấp vai trò của người nước ngoài”, nhưng mà “trong thời đại của chủ nghĩa đa văn hoá, toàn cầu hoá và sự uể oải của những ý tưởng bình quân chủ nghĩa của chúng ta, dường như việc khẳng định tầm quan trọng lịch sử của những ảnh hưởng và các giới tinh hoa ngoại lai sát sườn sự đoàn kết và thiên tài bản địa đã trở nên dễ dàng hơn”.

Có lẽ ngày ngay, đã dễ dàng hơn cho một số học giả trong việc “khẳng định tầm quan trọng lịch sử của những ảnh hưởng và các giới tinh hoa ngoại lai”, vậy mà hầu hết các công trình học thuật hiện nay về lịch sử Việt Nam vẫn viết về “sự đoàn kết và thiên tài bản địa”, bởi “làn sóng của chủ nghĩa dân tộc bài thực dân” vẫn không động đậy.

Quả là quá tệ vì đó là sự thật, và quá tệ trước thực tế là không có ai nghiên cứu về Việt Nam (hay bất kì vùng nào ở khu vực đại lục) có mặt ở hội thảo chuyên đề này bởi tôi nghĩ rằng những khu vực như Đồng bằng sông Hồng rất hợp với mô hình vịa vua ngoại lai.

Như đã biết, những người sáng lập của hai triều đại trung đại quan trọng ở đồng Bằng sông Hồng, triều Lý và Trần, đều hoặc là đến từ, hoặc là những thành viên của các dòng họ đến từ “Trung Hoa”, và khu vực mà ngày nay là một phần của tỉnh Phúc Kiến.

Trong khi điều đó đã quá rõ, có một nỗ lực rất lớn được dùng vào việc cố gắng thanh minh cho tính ngoại lai của những con người đó và nhấn mạnh rằng hoặc là họ đã trở thành người địa phương, hoặc là mặc dù họ đến từ Phúc Kiến, họ không phải là “người Hoa” bởi những người sống ở Phúc Kiến là “phi Hoa”,v.v…

Quan điểm sau là đúng, nhưng có một sự thật là một trong những vương quốc sớm nhất ở Phúc Kiến, vương quốc Mân, được thiết lập bởi một trong những “người Hoa” đã đến đây từ phương Bắc – một “vị vua ngoại lai”.

Tôi nghĩ quả là là quá hợp lí khi cho rằng triều Lý và Trần cũng được thành lập bởi những “vị vua ngoại lai”. Thêm vào đó, chúng ta có thể so sánh tình hình ở Đồng bằng sông Hồng với vô vàn các ví dụ khác về những vị vua ngoại lai trên thế giới trong lịch sử để biết xem những vị ấy thuộc kiểu vị vua ngoại lai nào và họ hợp với “mô hình” hiện tượng vị vua ngoại lai nào.

Các nền sử học dân tộc chủ nghĩa cố gắng chỉ ra rằng một nhóm nào đó là đặc biệt. Các nền sử học phi-dân tộc chủ nghĩa nhận diện hiện tượng phổ biến đối với tồn tại nhân loại. Những vị vua ngoại lai là một trường hợp phổ biến, và Đồng bằng sông Hồng không phải là một phần ngoại lệ của thế giới.

Những người sáng lập triều Lí và Trấn là một dạng vị vua ngoại lai, và vì vậy nó là “tính chất ngoại lai” một phần tạo điều kiện cho họ trở thành “các vị vua”. Chúng ta đã có thể học được thêm nhiều điều về lịch sử khu vực này  [như là một bộ phận không thể tách rời] thế giới nếu chúng ta khảo sát nó theo cách thông thường.

Image

Ở đây, tôi đăng các bức ảnh lấy từ những bộ phim mà ở Hoa Kì được xem là “phim miền Tây” bởi thể loại đó dựa nhiều vào một biến thể của ý tưởng về vị vua ngoại lai, chủ đề “người lạ mặt đến thị trấn”. Bạn có một thị trấn, nơi đang có một dạng vấn đề nào đó. Một người lạ mặt đến thị trấn. Ông ta rốt cuộc can dự vào sự việc, gặp người đã thực sự gây ra vấn đề, và “đem lại công lí” cho thị trấn.

Về mặt lịch sử, có nhiều nơi trên thế giới xảy ra việc một “người xa lạ” đem lại hoà bình và công lí cho một vùng đất. Và thực tế là bằng nhiều cách, “tính chất ngoại lai” (có thể là quyền năng bí ẩn, nhãn quan vô tư, hay một sự hoà trộn nào đó các nhân tố ấy) đã giúp ông ta thực hiện điều đó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/09/07/the-stranger-kings-of-the-ly-and-tran-dynasties/

Bonus:

Liem Vu:
Ở đây, ông đã đưa ra một quan điểm thú vị. Ông có thể gợi ý, những hoàn cảnh nào cho phép những vị ngoại lai ấy đạt được quyền lực ở Đồng bằng sông Hồng? Đâu là lí giải thích đáng cho một loạt những sự kiện sau đây:
1009: Lí Công Uẩn, một kẻ xa lạ, được [người ta] đưa lên ngai vàng. Rồi, sáu mươi năm sau, cũng những người đó nói về “Nam quốc sơn hà, nam đế”.
Và rồi, những kẻ xa lạ khác từ “phương Bắc” trở thành vua của “phương Nam”. Dạng giá trị và căn cước nào những người xa lạ đó tuyên xưng và đại diện cho? Và tại sao họ có thể vượt qua được nỗi sợ hãi của người dân Đồng bằng sông Hồng đối với “phương Bắc”?
Xin cảm ơn ông!
LeMinhKhai:

Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là: “những người đó” anh đề cập đến là ai?
Ngày nay ở Việt Nam (và nhiều nơi ở phần còn lại của thế giới), chúng ta có nền giáo dục đại trà (bằng một ngôn ngữ duy nhất), số đông tạo ra những cuốn sách giáo khoa (với nội dung được chính quyền trung ương quyết định ở phạm vi lớn), và truyền thông đại chúng, và tất cả đều mang tính dân tộc chủ nghĩa.
1000 năm trước, KHÔNG tồn tại những thứ đó (bao gồm các khái niệm về “quốc gia” và “nhân dân”). Vâng, bài thơ mà ngày nay chúng ta gọi là “Nam quốc sơn hà” được chép ở các văn bản cổ như Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (mặc dù tôi nghĩ mỗi một cuốn sách này đặt bài thơ vào một giai đoạn khác nhau – cần trở lại kiểm tra việc này). Tuy nhiên, không văn bản nào trong số đó được xuất bản. Bài thơ cũng có trong Đại Việt sử kí toàn thư, nhưng chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy một bài thơ như thế được đọc rộng rãi. Và rồi có một sự thực là trong những văn bản ấy, bài thơ được dâng lên cho một vị thần, chứ không phải cho người.
Vì vậy, bài Nam quốc sơn hà quan trọng ra sao ở khoảng 1000 năm trước đây? Tôi đồ rằng không quá quan trọng. Bao nhiêu người biết bài thơ này? Tôi đồ rằng không quá nhiều.
Hơn nữa, nếu có bất kì cảm giác nào về sự “là phương Nam”, thì nó cũng được chia sẻ bởi những người có học ở các khu vực nay là các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (những tác phẩm như Bách Việt tiên hiền chí thời Minh chứng minh điều này).
Cuối cùng, tôi nghĩ sự khác biệt mà chúng ta tưởng tượng là nó tồn tại giữa Ngô Quyền và Lí Công Uẩn (nếu chúng ta chấp nhận rằng ông đến từ Phúc Kiến) chính xác là: một sự khác biệt mà chúng ta đang tưởng tượng. Từ Lí Bí trở về trước, tôi đoán rằng những người mà chúng ta xem như là giới tinh hoa ở khu vực này chính là những người mà nếu không phải là thông gia với những người đến khu vực bên ngoài (tức, một nơi nào đó ở “Trung Hoa”), thì cũng là khá giống về mặt văn hoá đối với những người như thế đến nỗi chẳng có sự khác biệt có thể nhận biết nào giữa bất cứ nhóm dân cư nào trong đó với nhau. Trong khi đó, sự khác biệt giữa giới tinh hoa ở Phúc Kiến và dân thường ở đó cũng rất lớn giống như giữa giới tinh hoa ở Đồng bằng sông Hồng và dân thường ở khu vực này.
Nói như vậy, thì nhóm tinh hoa nhỏ xíu đang cai trị một vương quốc ở Đồng bằng sông Hồng có muốn bị lật đổ hay không? Không bao giờ, cũng giống như không kẻ cai trị bất kì thể chế nào ở bất cứ đầu từng muốn bị lật đổ. Vì vậy, cảm giác mong muốn duy trì quyền lực chắc chẳn cũng có ở đây, nhưng cảm giác ấy hướng vào không phải chỉ “Trung Hoa” (như bắt đầu từ thế kỉ 20, người ta được dạy cho tin như thế), mà vào bất cứ kẻ tranh giành quyền lực nào, bản địa hay “ngoại lai”.
Vậy thì những kẻ ngoại lai làm thế nào để giành được quyền lực trong những điều kiện ấy. Vâng, đó chính xác là điều mà “lí thuyết ông vua ngoại lai” cố gắng lí giải, và có thể có nhiều sự lí giải. Và tôi nghĩ triều Lí và triều Trần có lẽ khá khác nhau.
Tôi cho rằng khi nhà Đường sụp đổ, có nhiều “ông vua ngoại lai” tiềm năng ở khu vực này. Tuy nhiên, từ khi giới tinh hoa ở Đồng Bằng sông Hồng được tạo dựng từ những người có mối thông gia với người ở Phúc Kiến/Quảng Đông,… và/hoặc khá giống về mặt văn hoá với giới tinh hoa đến từ Phúc Kiến/Quảng Đông,v… một “ông vua ngoại lai” như Lí Công Uẩn không hoàn toàn thực sự là “xa lạ”. Nó chỉ là vấn đề mức độ.
Trong bất kì trường hợp nào, lí thuyết ông vua ngoại lai nhấn mạnh hai “sứ hút” chính từ một ông vua ngoại lai: 1) một cảm giác rằng ông ta có quyền năng bí ẩn/thần thánh/đặc biệt; hoặc 2) một niềm tin rằng với tư cách một người bên ngoài, ông ta sẽ trị dân công bằng.
Rồi thêm vào tất cả thứ đó là một thực tế, ông vua ngoại lai cũng có thể sử dụng sức mạnh nào đó. Nhưng lí do người ta tìm đến với lí thuyết ông vua ngoại lai là họ không tin rằng một mình sức mạnh có thể giải thích vì sao những ông vua đó lại giảnh được quyền lực (những kẻ thực dân châu Âu không giành được quyền lực đơn thuần vì sức mạnh – người dân địa phương cũng luôn giữ một vai trò rất quan trọng, và vì nhiều nguyên nhân khác nhau).
Vì vậy, Lí Công Uẩn hẳn được xem là đặc biệt bởi … những liên hệ gần gũi hơn với khu vực văn hoá đầy quyền năng đối với phương Bắc. Hoặc ông có thể được xem là một người, với tư cách một người bên ngoài, có thể điều hành công bằng hơn các nhóm ganh đua quyền lực ở vùng đất này (và hoàn toàn rõ ràng là đồng bằng sông Hồng đã bị chia rẽ rất nhiều cho đến thời điểm ấy). Và dĩ nhiên, sức mạnh có lẽ cũng là một nhân tố.
Hai trăm năm sau, làm thế nào điều tương tự lại xảy ra? Tôi nghĩ rằng Trần là một dòng họ nằm trong một nhóm lớn hơn các cư dân đã bắt đầu phát triển các khu vực ven biển của đồng bằng sông Hồng trong suốt nhiều năm dưới thời Lí. Những mối liên hệ mậu dịch, và việc khai phá các vùng đất với đã đem lại cho họ sự giàu có cũng như có lẽ một dạng “vốn văn hoá” nào đó, ai mà biết được, có lẽ nhiều sư tăng từ các nơi như Quảng Đông và Phúc Kiến đang đến các vùng ven biển, và điều đó cũng cung cấp quyền lực tinh thần cho khu vực này.
Vì thế, trong khi Lí Công Uẩn có thể là một “mẫu hình cổ điển” hơn của một ông vua ngoại lai (tôi không nghĩ chúng ta có thể nghĩ về ông như một cá nhân thôi, bởi ông được cho là có những tuỳ tòng đến từ Phúc Kiến), thì tôi cho Trần là một dòng họ đứng đầu một cái gì đó lớn hơn thế, và một cái gì đó đã và đang phát triển ở khu vực này trong một quãng thời gian dài hơn. Tuy nhiên, có lẽ vẫn có một điều gì đó về họ có thể được xem là có liên hệ đến yếu tố “ngoại lai” và nó là cái quyền lực/liên hệ mà dường như đã dẫn nhà Lí đến việc liên kết với Trần (nhưng kế hoạch đó sau này đem lại kết quả ngược với mong đợi).
Vậy thì nhà Trần có lẽ không phù hợp với kiểu mẫu “ông vua ngoại lai” như Lí Công Uẩn (hay Thục Phán), nhưng tôi vẫn nghĩ rằng “tính chất ngoại lai” của nhà Trần vẫn quan trọng, và với ý nghĩ đó, nó vẫn có thể được liên hệ với mô hình ông vua ngoại lai ở một mức độ đại khái hơn.

Liêm Vũ:

Tôi sinh ra trong lòng sử trường dân tộc chủ nghĩa…  Tuyệt vời, cảm ơn vì ông đã trả lời. Tôi không nhận thức đầy đủ về diễn tiến lịch sử trước và sau thế kỉ X ở Đồng bằng sông Hồng. Đọc sách của Charles Holcombe về đế chế Nam Hán ở thời Đường và cố gắng kết nối với những gì xảy ra ở Bắc Việt với cùng hiện tượng xảy ra ở những trung tâm nằm ở ở bên lề nhà Đường và Tống, sự việc có thể hiểu được dễ dàng. Tôi nghĩ Liam C.K (sic) cũng đã có một số so sánh trong bài Hồng Bàng thị truyện của ông. Từ đó, một điều khác xuất hiện trong tâm trí tôi. Có một quá trình “tạo Hán” trong lịch sử của “các vương quốc trung tâm”. Người dân ở vùng biên, nếu không đào tẩu thì trở thành “người Hán” theo ccon người bành trướng của đế chế. Ông có thấy mô hình tương tự trong lịch sử Việt Nam: quá trình “tạo Việt”? Và nếu như thế, lần ngược trở lại, hãy nói trước 1500/1880, điều gì chúng ta có thể tưởng tượng được và những căn cước tập thể nào biện minh cho “người Việt”?

Cảm ơn ông!

LeMinhKhai:

Liam C.K? Đó có phải là Liam Calvin Klein không? Đó có phải là một nhà thiết kế thời trang không? Có phải ông ta cũng viết về lịch sử Việt Nam không? Ồ! Thật là ấn tượng!

Trong trường hợp Vương quốc Trung tâm, chúng ta có thể thấy những nhóm dân phi-Hán trở thành Hán ((Jacob Tyler Whittaker, “Yi Identity and Confucian Empire: Indigenous Local Elites, Cultural Brokerage, and the Colonization of the Lu-ho Tribal Polity of Yunnan, 1174-1745” Căn cước Y và Đế chế Khổng giáo: Các giới tinh hoa bản địa địa phương, Môi giới văn hóa và Sự thực dân hóa của thể chế tộc người Lu-ho của Vân Nam (Ph.D. dissertation, University of California Davis, 2008) bởi họ để lại những chứng cớ trên văn bản về quá trình ấy).

Ở Việt Nam, tôi nghĩ rằng có một số chứng cớ văn bản có thể cho thấy điều đó xảy ra ở một mức độ nào đó với giới tinh hoa cầm quyền người Chăm, nhưng về mặt chính trị tôi không nghĩ rằng đó là một chủ đề mà ai đó muốn đụng vào lúc này.

Một cách khả thi để xem xét vấn đề này có lẽ là chọn lấy một văn bản như Đại Việt sử kí toàn thư rồi cố gắng “phác ra” địa điểm xuất hiện của người Man. Khi người Man được đề cập đến ở thế kỉ XII, họ ở đâu? Khi người Man được đề cập đến ở thế kỉ XV, họ ở đâu?

Kiểu này có lẽ khó làm bởi các địa danh đã thay đổi (mặc dù Khâm Định Việt sử thông giám cương mục đã thực hiện tốt việc quy đổi địa danh được dẫn ở ĐVSKTT với các địa danh ở thế kỉ XIX), nhưng đó sẽ là một dự án “lịch sử số hóa” hay. Học cách tạo ra những tấm bản đồ với các phần mềm như Quantum GIS (QGIS), và “vẽ bản đồ người Man”. Sẽ thực sự rất thú vị khi xem xem liệu cái này có chỉ ra một “đường biên người Man” thay đổi theo thời gian hay không.

Đối với những căn cước tập thể, những căn cước tập thể duy nhất trước thế kỉ XX nằm trong giới tinh hoa. Nếu chúng ta quay trở lại nói về thế kỉ XVIII, thì điều duy nhất mà một nông dân ở Làng A có thể biết là anh ta đến từ làng A (và điều này là sự thực ở khắp nơi trên toàn thế giới).

Vì sao giới tinh hoa có một căn cước tập thể? Tôi nghĩ Benedict Anderson đã nói về điều này trong cuốn Các cộng đồng tưởng tượng. Để trở thành quan lại, giới tinh hoa phải học nhiều tri thức chung – bao gốm ngôn ngữ – và một khi họ trở thành quan lại, họ .

Tôi cho rằng nếu bạn trộn lẫn điều đó với điều mà A.O’Conner nói về cách thức những dạng nông nghiệp nhất định tạo ra những đặc trưng về văn hóa (Agricultural Change and Ethnic Succession in Southeast Asian States: A Case for Regional Anthropology,” [Biến đổi  về nông nghiệp và sự tiếp nối tộc người ở các quốc gia Đông Nam Á: Một trường hợp của Nhân chủng học khu vực] Journal of Asian Studies 54.4 (1995): 968-996), thì bạn có thể thấy cách thức một căn cước tập thể có thể xuất hiện trong giới tinh hoa.

Nếu bạn đọc Đồng Khánh dư địa chí, bạn có thể thấy rằng những người soạn công trình này không gặp phải vấn đề gì khi xác định ai là “Hán” hay không “Hán” trong vương quốc của họ. Vì vậy, giới tinh hoa có để đạt được một cảm quan tập thể về việc ai là người Hán, bởi vì họ có thể thấy những người ít hay nhiều giống bản thân họ (những người đó trở thành như vậy thông qua sự can dự của họ vào các tập quán nông nghiệp [với các nghi lễ kèm theo của họ, và hệ thống thuế, rồi sự tiếp xúc với các quan chức chính quyền] điều mà O’Conner đã bàn đến). Nhưng với những người sống ở các làng quê được các quan chức xem là “Hán”, có lẽ họ chỉ biết rằng họ là người dân làng A hoặc làng B.

Tôi có một đồng nghiệp nghiên cứu về Ấn Độ. Khi anh ấy vào các ngôi làng ở thập kỉ 1980s (hoặc có thể là 1970s), người dân ở đó không biết “Ấn Độ” là gì. Họ chưa bao giờ nghe từ đó. Tôi nghĩ điều đó là quy tắc. Những người nông dân ở “nước Pháp” không biết “nước Pháp” là gì cho đến khi một hệ thống giáo dục hiện đại được thiết lập ở đầu thế kỉ XX và họ được dạy “họ là ai”.

Tuy nhiên, giới tinh hoa có thể có cảm quan nào đó về một căn cước tập thể, mà đó là cái duy nhất họ chia sẻ với nhau.

Anh Tây Bụi:

Tôi thích ý tưởng về ông vua ngoại lai này, và nghĩ sẽ rất thú vị nếu phát triển ý tưởng về cái vai ông vua ngoại lai của thực dân Pháp. Trong khi các công trình lịch sử nhấn mạnh rằng có sự nổi dậy liên tục của dân địa phương từ khi Pháp nắm quyền, và cứ theo toàn bộ kiểu này, sự kháng cự bị giới hạn và rời rạc trong nhiều năm. Phần lớn người dân cố gắng để bảo toàn thân mình và gia quyến – một điều có lẽ đủ khó khăn trước và sau khi người Pháp đến.

Sức mạnh đặc biệt, thần thánh, bí ẩn liệu có phải là cái dần được gọi là Khoa học?

Người Pháp cũng đã tạo ra nếu không chính xác một kiểu công bằng trong luật lệ của họ, một dạng an ninh hay trị an. Người ta cho rằng ở thế kỉ XIX, có những kẻ cướp và những đội quân ăn cướp thỉnh thoảng cướp bóc và trấn lột, và đại khái là bổ sung thêm vào toàn bộ cảnh khốn khổ. Nhưng tất nhiên luật lệ của người Pháp không hoàn toàn công bằng – quan trọng là cần phải công bằng nhằm lợi dụng thuộc địa phục vụ cho lợi ích kinh tế trong toàn bộ thời kì này. Tôi cho là nó thiếu sự công bằng, đi đôi với thông điệp dân tộc chủ nghĩa vốn được hỗ trợ bởi hạ tầng kiến trúc mà người Pháp xây dựng (tàu thuyền, đường sắt, đường rải nhựa, báo chí, công nghiệp xuất bản, đài phát thanh,v.v…) đã mở đường cho một lực lượng địa phương mạnh tiến đến trận đọ súng mà rốt cuộc đã đẩy ông vua ngoại lai ra khỏi cỗ xe sang trọng (Dodge?).

Và liệu quốc cộng có phải cũng là một ông vua ngoại lai mà xã hội ấy phải tiêu hóa? Khoa học, dân tộc và biện chứng là công cụ cho quyền lực của họ. Và ý tưởng về độc lập, tự do là gợi ý về tính công bằng. Và cũng giống với những kẻ thực dân, họ đầy sức mạnh.

LeMinhKHai:

Đó quả là những luận điểm thú vị. Tôi nghĩ lí thuyết ông vua ngoại lai được phát triển để bàn về các giai đoạn thực sự chỉ một người đi đến một nơi nào đó và trở thành vua ở đó. Tôi cho lí thuyết đó có thể được mở rộng, nhưng như vốn có, chúng ta phải nghĩ nhiều về những thuật ngữ trừu tượng. Như chúng ta đang làm, tôi mường tượng rằng chúng ta sẽ chỉ đi đến việc bàn về cách thức ai đó giành được quyền lực.

Một trong những điều mà lí thuyết này cố gắng chỉ ra là: người dân phục tùng theo kẻ bản thân họ đã chinh phục được. Và họ không tuân theo một cách đơn giản quyền lợi bản thân, tức là, chúng ta không thể đơn giản gắn cho họ cái mác “những kẻ ủng hộ” hay “những kẻ cộng tác”. Họ chấp nhận bị cai trị vì nhiều nguyên dân khác nhau.

Tôi đang xem xét một số thứ về vùng Bắc Borneo và đang suy nghĩ về điều này. Người Anh đã xóa bỏ những nguyên nhân họ muốn kiểm soát khu vực này. Chúng bị xóa bỏ bằng nhiều cách thức người dân bản địa “cho phép” làm điều này (mặc dù một số chống lại), nhưng họ không có bất kì một ý tưởng nào về cái mà người Anh đang nghĩ (rằng họ muốn khai thác khu vực này về kinh tế). Một vài điều mà người Anh truyền đạt (và tôi chắc nhiều thứ thực sự thay đổi qua quá trình chuyển ngữ) đã đôi khi khiến dân chúng hiểu cái gì đó, nhưng tôi không chắc họ thực sự hiểu cái gì. Tôi nghĩ rằng sự lan truyền của quốc cộng cũng có phần giống với sự lan truyền ở một số nơi nào đó (Shawn McHale có viết một chút về điều đó trong sách của ông)

JDR:

“Trước hết, chúng ta phải cố tách mình ra khỏi hiện tại, tức là, chúng ta phải cố gắng nhận diện sự khác biệt trong cách ngày nay chúng ta nghĩ, và chúng ta phải cố gắng không dùng những ý tưởng hiện hành để nghĩ và lí giải quá khứ”.

Điều này không biện hộ được cho nền sử học/sự tuyên truyền lỗi thời được bịa ra bởi não trạng vị chủng, mà là sự đả phá thánh tượng của phương Tây, và cũng chẳng phải là kết quả của thời thượng học thuật những ngày này, một phó phẩm của một môi trường mang tính chuyên nghiệp và tính xã hội nhất định vốn đòi hỏi những chuyên khảo mang tính “địa chấn, cách mạng, lật đổ” cứ hai ba năm lại xảy ra hay sao? Chẳng phải đó là sự nguỵ biện của mọi cuộc cách mạng; rằng họ tin là họ thuộc về sự chiếm hữu tri thức thuần khiết, thanh cao và không bị ràng buộc bởi những sự hiểu lầm bên dưới điều mà bất kì ai khác cũng đang lao động [để đạt đến]? Có phải thuyết tương đối và chủ nghĩa quốc tế không được bao hàm trong đó nếu chúng ta sẽ tự giải thoát cho mình khỏi những [l]ý tưởng thực tại luận.

Tôi thấy cái giả thiết rằng không hề tồn tại một dạng “tình cảm dân tộc” nào đó cũng mơ hồ, biệt tăm tích cho đến khi được chứng minh. Vấn đề có lẽ nằm ở câu hỏi về cái cần được xem là một dân tộc/quốc gia đúng nghĩa. Liệu có bất kì chứng cứ xác thực nào cho giải thiết rằng những người dân sống ở Đồng bằng sông Hồng không có một ý tưởng về việc [họ] được kết nối [với cộng đồng] vì một lí do chưa xác định, ngay cả nếu họ không hề biết gì về bản thân nhau?

Hãy lấy một ví dụ thâm chí còn xưa cũ hơn: có phải người Hy Lạp và La Mã, từ Nguyên lão viên đến anh lính quèn, không xem họ là đang sống trong một cộng đồng khác biệt với các cộng đồng (mang tính sắc tộc) khác?

Có lẽ có những trường hợp cực đoan nào đó như những ví dụ được đề cập về người Ấn Độ và người Pháp. Nhưng tôi tin điều đó là một sự khái quát hoá không thể chấp nhận được khi nó gợi ý rằng điều đó mà sự thật ở mọi nơi mọi lúc.

Tất nhiên, có người có thể lập luận rằng giới tinh hoa và trí thức  xem họ là những thành viên của một khối dân cư hấp thụ tính chất Hán nhiều hơn [những giới khác]. Nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là những người dân thường không cảm thấy xa cách bởi những quý ngài “ngoại lai”. Nói rằng giới tinh hoa có thể không quan tâm hoặc thậm chí không nghĩ về sự khác biệt văn hoá và vì vậy những sự căng thẳng khá thấp là để gạt sang một bên những cảm xúc tiêu cực có thể có về “nhân dân” thay vào đó là cảm xúc về “Nhân dân mới là vấn đề”, có phải không?

Advertisements

3 Responses to “Các vị vua ngoại lai của triều Lý và triều Trần”

  1. Hoa Quoc Van September 8, 2013 at 3:25 am #

    Liem Vu:
    Ở đây, ông đã đưa ra một quan điểm thú vị. Ông có thể gợi ý, những hoàn cảnh nào cho phép những vị ngoại lai ấy đạt được quyền lực ở Đồng bằng sông Hồng? Đâu là lí giải thích đáng cho một loạt những sự kiện sau đây:
    1009: Lí Công Uẩn, một kẻ xa lạ, được [người ta] phò lên ngai vàng. Rồi, sáu mươi năm sau, cũng nhữn người đó nói về “Nam quốc sơn hà, nam đế”.
    Và rồi, những kẻ xa lạ khác từ “phương Bắc” trở thành vua của “phương Nam”. Dạng giá trị và căn cước nào những người xa lạ đó tuyên xưng và đại diện cho? Và tại sao họ có thể vượt qua được nỗi sợ hãi của người dân Đồng bằng sông Hồng đối với “phương Bắc”?
    Xin cảm ơn ông!
    LeMinhKhai: Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là ai là “những người đó” mà anh đề cập ở trên.
    Ngày nay ở Việt Nam (và nhiều nơi ở phần còn lại của thế giới), chúng ta có nền giáo dục đại trà (bằng một ngôn ngữ duy nhất), số đông tạo ra những cuốn sách giáo khoa (với nội dung được chính quyền trung ương quyết định ở phạm vi lớn), và truyền thông đại chúng, và tất cả đều mang tính dân tộc chủ nghĩa.
    1000 năm trước, KHÔNG tồn tại những thứ đó (bao gồm các khái niệm về “quốc gia” và “nhân dân”). Vâng, bài thơ mà ngày nay chúng ta gọi là “Nam quốc sơn hà” được chép ở các văn bản cổ như Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (mặc dù tôi nghĩ mỗi một cuốn sách này đặt bài thơ vào một giai đoạn khác nhau – cần trở lại kiểm tra việc này). Tuy nhiên, không văn bản nào trong số đó được xuất bản. Bài thơ cũng có trong Đại Việt sử kí toàn thư, nhưng chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy một bài thơ như thế được đọc rộng rãi. Và rồi có một sự thực là trong những văn bản ấy, bài thơ được dâng lên cho một vị thần, chứ không phải cho người.
    Vì vậy, bài Nam quốc sơn hà quan trọng ra sao ở khoảng 1000 năm trước đây? Tôi đồ rằng không quá quan trọng. Bao nhiêu người biết bài thơ này? Tôi đồ rằng không quá nhiều.
    Hơn nữa, nếu có bất kì cảm giác nào về sự “là phương Nam”, thì nó cũng được chia sẻ bởi những người có học ở các khu vực nay là các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (những tác phẩm như Bách Việt tiên hiền chí thời Minh chứng minh điều này).
    Cuối cùng, tôi nghĩ sự khác biệt mà chúng ta tưởng tượng là nó tồn tại giữa Ngô Quyền và Lí Công Uẩn (nếu chúng ta chấp nhận rằng ông đến từ Phúc Kiến) chính xác là: một sự khác biệt mà chúng ta đang tưởng tượng. Từ Lí Bí trở về trước, tôi đoán rằng những người mà chúng ta xem như là giới tinh hoa ở khu vực này chính là những người mà nếu không phải là thông gia với những người đến khu vực bên ngoài (tức, một nơi nào đó ở “Trung Hoa”), thì cũng là khá giống về mặt văn hoá đối với những người như thế đến nỗi chẳng có sự khác biệt có thể nhận biết nào giữa bất cứ nhóm dân cư nào trong đó với nhau. Trong khi đó, sự khác biệt giữa giới tinh hoa ở Phúc Kiến và dân thường ở đó cũng rất lớn giống như giữa giới tinh hoa ở Đồng bằng sông Hồng và dân thường ở khu vực này.
    Nói như vậy, thì nhóm tinh hoa nhỏ xíu đang cai trị một vương quốc ở Đồng bằng sông Hồng có muốn bị lật đổ hay không? Không bao giờ, cũng giống như không kẻ cai trị bất kì thể chế nào ở bất cứ đầu từng muốn bị lật đổ. Vì vậy, cảm giác mong muốn duy trì quyền lực chắc chẳn cũng có ở đây, nhưng cảm giác ấy hướng vào không phải chỉ “Trung Hoa” (như bắt đầu từ thế kỉ 20, người ta được dạy cho tin như thế), mà vào bất cứ kẻ tranh giành quyền lực nào, bản địa hay “ngoại lai”.
    Vậy thì những kẻ ngoại lai làm thế nào để giành được quyền lực trong những điều kiện ấy. Vâng, đó chính xác là điều mà “lí thuyết ông vua ngoại lai” cố gắng lí giải, và có thể có nhiều sự lí giải. Và tôi nghĩ triều Lí và triều Trần có lẽ khá khác nhau.
    Tôi cho rằng khi nhà Đường sụp đổ, có nhiều “ông vua ngoại lai” tiềm năng ở khu vực này. Tuy nhiên, từ khi giới tinh hoa ở Đồng Bằng sông Hồng được tạo dựng từ những người có mối thông gia với người ở Phúc Kiến/Quảng Đông,… và/hoặc khá giống về mặt văn hoá với giới tinh hoa đến từ Phúc Kiến/Quảng Đông,v… một “ông vua ngoại lai” như Lí Công Uẩn không hoàn toàn thực sự là “xa lạ”. Nó chỉ là vấn đề mức độ.
    Trong bất kì trường hợp nào, lí thuyết ông vua ngoại lai nhấn mạnh hai “sứ hút” chính từ một ông vua ngoại lai: 1) một cảm giác rằng ông ta có quyền năng bí ẩn/thần thánh/đặc biệt; hoặc 2) một niềm tin rằng với tư cách một người bên ngoài, ông ta sẽ trị dân công bằng.
    Rồi thêm vào tất cả thứ đó là một thực tế, ông vua ngoại lai cũng có thể sử dụng sức mạnh nào đó. Nhưng lí do người ta tìm đến với lí thuyết ông vua ngoại lai là họ không tin rằng một mình sức mạnh có thể giải thích vì sao những ông vua đó lại giảnh được quyền lực (những kẻ thực dân châu Âu không giành được quyền lực đơn thuần vì sức mạnh – người dân địa phương cũng luôn giữ một vai trò rất quan trọng, và vì nhiều nguyên nhân khác nhau).
    Vì vậy, Lí Công Uẩn hẳn được xem là đặc biệt bởi … những liên hệ gần gũi hơn với khu vực văn hoá đầy quyền năng đối với phương Bắc. Hoặc ông có thể được xem là một người, với tư cách một người bên ngoài, có thể điều hành công bằng hơn các nhóm ganh đua quyền lực ở vùng đất này (và hoàn toàn rõ ràng là đồng bằng sông Hồng đã bị chia rẽ rất nhiều cho đến thời điểm ấy). Và dĩ nhiên, sức mạnh có lẽ cũng là một nhân tố.
    Hai trăm năm sau, làm thế nào điều tương tự lại xảy ra? Tôi nghĩ rằng Trần là một dòng họ nằm trong một nhóm lớn hơn các cư dân đã bắt đầu phát triển các khu vực ven biển của đồng bằng sông Hồng trong suốt nhiều năm dưới thời Lí. Những mối liên hệ mậu dịch, và việc khai phá các vùng đất với đã đem lại cho họ sự giàu có cũng như có lẽ một dạng “vốn văn hoá” nào đó, ai mà biết được, có lẽ nhiều sư tăng từ các nơi như Quảng Đông và Phúc Kiến đang đến các vùng ven biển, và điều đó cũng cung cấp quyền lực tinh thần cho khu vực này.
    Vì thế, trong khi Lí Công Uẩn có thể là một “mẫu hình cổ điển” hơn của một ông vua ngoại lai (tôi không nghĩ chúng ta có thể nghĩ về ông như một cá nhân thôi, bởi ông được cho là có những tuỳ tòng đến từ Phúc Kiến), thì tôi cho Trần là một dòng họ đứng đầu một cái gì đó lớn hơn thế, và một cái gì đó đã và đang phát triển ở khu vực này trong một quãng thời gian dài hơn. Tuy nhiên, có lẽ vẫn có một điều gì đó về họ có thể được xem là có liên hệ đến yếu tố “ngoại lai” và nó là cái quyền lực/liên hệ mà dường như đã dẫn nhà Lí đến việc liên kết với Trần (nhưng kế hoạch đó sau này đem lại kết quả ngược với mong đợi).
    Vậy thì nhà Trần có lẽ không phù hợp với kiểu mẫu “ông vua ngoại lai” như Lí Công Uẩn (hay Thục Phán), nhưng tôi vẫn nghĩ rằng “tính chất ngoại lai” của nhà Trần vẫn quan trọng, và với ý nghĩ đó, nó vẫn có thể được liên hệ với mô hình ông vua ngoại lai ở một mức độ đại khái hơn.

  2. leminhkhai September 7, 2013 at 5:27 pm #

    Một bài điểm tin hội thảo có thể tìm thấy ở đây (???). . .
    Trong báo cáo của mình trước hội thảo,

    Xin loi, bo phan do khong ro. I changed it to this:

    A report on the symposium by Mary Somers Heidhues can be found here. A couple of years later some of the papers from the conference were published in a special issue of Indonesia and the Malay World 36 (2008).

    In her report on the symposium, Mary Somers Heidhues wrote

    Co nghia la Mary Somers Heidhues da tham gia hoi thoi do, va sau do viet mot bao cao de cho nguoi ma khong duoc tham gia noi dung cung hoi thao.

    “về lịch sử các (?) khu vực của thế giới”

    yea, o day cung khong ro. Bay gio I changed it to this:

    enabled them to become “kings” IN THE RED RIVER DELTA. We could learn a lot more about the history of that region of the world [tuc la dong bang song Hong] if we examined them as such.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: