Địa-thể của Việt Nam

18 Oct

Địa-thể của Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Năm 1983, Benedict Anderson, trong cuốn Các cộng đồng tưởng tượng: Suy ngẫm về nguồn gốc và sự lan truyền chủ nghĩa dân tộc, cho rằng các quốc gia đã được “tưởng tượng ra” và rằng một trong những cách chúng được tưởng tượng ra là thông qua phương tiện in ấn.

ImageImageImage

Chẳng hạn, trước khi có các tờ báo mà ở đó người ta có thể đọc về các sự kiện xảy ra trên đất nước mình, thật khó cho người dân có thể hình dung rằng tất cả dân chúng ở một khu vực xác định lại giống nhau. Người dân cùng chia sẻ đặc tính địa phương của học nhiều hơn bất cứ một thực thể lớn hơn nào.

Được gợi cảm hứng từ luận điểm này, năm 1994, Thongchai Winichakul đã công bố cuốn sách của mình mang tên Vẽ bản đồ Siam: Lịch sử về địa-thể của một quốc gia, trong đó ông lưu ý tầm quan trọng của các tấm bản đồ hiện đại trong việc kiến tạo ý thức dân tộc.

Image

Nói đơn giản, quan điểm của Thongchai là: không có những tấm bản đồ hiện đại mà bằng nó người dân có thể thấy, theo nghĩa đen, nước mình trên một tờ giấy, thì họ khó có thể tưởng tượng ra nó. Do đó, ông tạo ra thuật ngữ “địa-thể” (geo-body) để chỉ hiện tượng này.

Địa-thể của một quốc gia không đơn thuần chỉ 1) lãnh thổ của một quốc gia mà còn chỉ một thực tế rằng 2) hình ảnh về chủ quyền của quốc gia có thể được nhận biết rõ ràng bởi các công dân của quốc gia đó thông qua sự trình bày trên các tấm bản đồ và những hình ảnh về biên giới của quốc gia, và rằng 3) hình ảnh về lãnh thổ của quốc gia đó “là một cội nguồn của niềm tự hào, lòng trung thành, tình yêu, xúc cảm, sự thiên vị, lòng căm thù, lẽ phải, sự vô lối”,v.v… (17)

Một điểm quan trọng khác về địa-thể là: nó đứng một mình và tồn tại không dựa vào bất kì thứ gì khác nằm bên ngoài các đường biên giới của nó. Điều này đặt thuật ngữ địa-thể trong sự đối lập với các khái niệm trước đó về không gian, chẳng hạn, ý tưởng được cổ xúy bởi các nhà sư, những người đã vẽ các tấm bản đồ trong đó nối các khu vực mà ngày nay là Thái Lan với nơi sinh của Đức Phật ở khu vực nay thuộc Ấn Độ.

Gần đây hơn, năm 2010, Momoki Shiro đã công bố một bài báo mang tên “Quốc gia và địa-thể ở Việt Nam thời hiện đại sơ kì: Nghiên cứu sơ bộ qua các nguồn tư liệu về thuật phong thủy” trong cuốn Đông Nam Á ở thế kỉ XV: Nhân tố Trung Hoa. Trong bài báo này, Giáo sư Momoki khảo sát các văn bản hiện còn về phong thủy từ trước thế kỉ XX, và cho rằng những văn bản này “hẳn đã giúp người ta … tưởng tượng ra một loại ‘địa-thể’ (138).

Momoki lí giải, địa-thể này “có lẽ không phải là một bề mặt được giới hạn rõ ràng mà là một mạng lưới mạch và các tiêu điểm”. Tuy nhiên, ông cho rằng “dường như những miêu tả phong thủy giúp người ta tưởng tượng ra địa-thể một cách sâu sắc hơn những tấm bản đồ (cùng thời) bởi vì những tấm bản đồ thời Lê, cả bản đồ của quốc gia và địa phương, đều chứa ít các địa danh, chỉ có tên của các đơn vị hành chính trên cấp làng, và không rõ ràng về địa hình, như các dãy núi và con sông” (138-139).

Chẳng hạn, hãy nhìn vào “tấm bản đồ” lấy từ một cuốn sách có tên An Nam phong thủy này. Vòng khoanh ở giữa của tấm bản đồ này thể hiện cái rốn của năng lượng phong thủy trong khu vực. Từ rốn này, năng lượng tỏa ra ngoài ở các cấp độ sức mạnh khác nhau, và trong quá trình các vương quốc thuộc các cấp độ năng lượng và kích cỡ khác nhau được tạo ra, chẳng hạn lãnh thổ được gắn mác trên tấm bản đồ này là “Nước ta” (Ngã quốc).

Image

Nguồn năng lượng phong thuỷ này không được bao hàm bên trong các đường biên giới của Đại Việt. Vì vậy, từ một nhãn quan phong quỷ, Đại Việt chỉ có thể được hiểu là một phần của một cái gì đó lớn hơn. Nó không đứng một mình.

Sự kết nối với một cái gì đó nhiều quyền năng hơn cũng được phản chiếu trong các ý tưởng về cội nguồn của các văn bản phong thuỷ của Việt Nam.

Như Momoki Shiro đã chỉ ra, nhiều văn bản phong thuỷ của Việt Nam tán thành một tuyên bố chung về nguồn gốc của chúng. Chúng khẳng định rằng chúng đã được viên Tiết độ sứ nhà Đường là Cao Biền viết ra đầu tiên.

Câu chuyện kể rằng Đường Ý Tông đã sai Cao Biền đến An Nam để yểm trừ những [long] mạch phong thuỷ chứa đầy năng lượng, cái có thể dẫn đến sự xuất hiện của Thiên tử. Sau đó, khi nhà Minh xâm chiếm đất này, Tướng Hoàng Phúc đem theo bảo thảo của Cao Biền sang An Nam. Rồi nó đến tay người Việt khi quân Minh bị đánh bại.

Vậy là các văn bản phong thuỷ Việt Nam đã tán thành một diễn ngôn nói rằng có một nguồn năng lượng trong cảnh sắc nước Việt, nhưng rằng nó chỉ có thể được nhận diện bởi những cá nhân nào đó đến từ phương Bắc (Trung Hoa). Ý tưởng tương tự cũng được tìm thấy trong những câu chuyện ở thế kỉ XVIII và XIX trong đó, như Momoki lưu ý, “có nhiều đoạn nói về các hoạt động chôn yểm được tiến hành bởi người phương Bắc hoặc những khách nhân phương Bắc… việc đó ảnh hưởng đến vận mệnh đời sống người Việt xung quanh vùng có chôn yểm (129).

Nói cách khác, các văn bản phong thuỷ Việt Nam đã chứng minh rằng năng lượng phong thuỷ đến từ bên ngoài vương quốc, và hiểu biết về năng lượng này cũng đến từ bên ngoài vương quốc.

Điều này rất khác với ý niệm về một địa-thể. Địa thể, như người ta cho một quốc gia là đại diện cho nó, đứng một mình và mang tính độc lập. Tri thức phong thuỷ của người Việt đều nói về những sự kết nối với một nguồn năng lượng bên ngoài vương quốc. Vì vậy, khi địa-thể ấy xuất hiện, những mối liên hệ đó đã bị cắt đứt.

Các quá trình cắt rời những sợi dây liên hệ này bắt đầu ở đầu thế kỉ XX trong các văn bản của các trí thức cải cách, những người đã được tiếp cận các quan niệm phương Tây. Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong dòng mở đầu của một cuốn sách có tên Nam quốc địa dư, một văn bản có chủ đích là dùng trong giáo dục cộng đồng. Cuốn sách bắt đầu như sau:

Image

“Nước ta nằm ở phía Nam lục địa châu Á [Á tế á]. Phía Bắc giáp với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc. Phía Tây tiếp giáp với Lào (Ai Lao) và Cam pu chia (Cao Miên). Phía Nam đến biển Trung Hoa. Phía Đông tiếp giáp với biển Trung Hoa và tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc. Đất nước được thiết lập cách đây 4767 năm. Tổng diện tích của đất nước là 311.000 km (cơ-lư-miệt) (Bắc kì là 119.200km. Trung Kì 135.000km. Nam Kì là 56.900km). Lãnh thổ của nước [ta] không phải là tầm thường [nghĩa đen, “không nhỏ”].

Từ việc dùng các thuật ngữ nước ngoài mới trong đoạn văn này – Á Tế Á, Chi Na, cơ-lư-miệt – chúng ta có thể thấy rằng tác giả đang viết về một không gian bằng cách thức mới sau khi đã đọc trước tác của các nhà cải cách vốn chịu ảnh hưởng từ các quan niệm của phương Tây về không gian.

Giống như trong các công trình địa lí về các nước phương Tây lúc bấy giờ, không có chỗ cho các điểm rốn phong thuỷ trong Nam quốc địa dư. Cũng không thể chấp nhận được việc coi không gian Việt Nam có liên hệ với một nguồn năng lượng nào đó vượt qua các đường biên giới của đất nước/vương quốc.

Trong văn bản này, không gian địa lí bị cắt đứt khỏi nguồn năng lượng trước đây của nó. Bây giờ, nó đứng một mình. “Nước ta” nằm ở “châu Á” và rộng “311.100km”.

Những văn bản như thế này bắt đầu tạo ra một địa-thể cho Việt Nam. Rồi khi thông tin này được giảng dạy thông qua hệ thống nhà trường hiện đại, nơi các lớp học có những tấm bản đồ hiện đại treo ở trên tường như chúng ta thấy trong bức ảnh dưới đây, thì địa-thể ấy bắt đầu hiện diện.

 Image

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/03/13/the-geo-body-of-vietnam/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: