Archive | November, 2013

Kinh Dịch và những thông điệp lạc lõng

30 Nov

Kinh Dịch và những thông điệp lạc lõng

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Gần đây có người chuyển tiếp cho tôi một bài báo xuất hiện trên một tờ báo điện tử giật tít “Kinh Dịch là của người Việt”.

Image

Đã có một nỗ lực trong nhiều năm nay trong bộ phận một nhúm người để chứng minh rằng văn bản cổ ấy do người “Việt” sáng tạo ra. Đó là một nỗ lực rất đậm chất dân tộc chủ nghĩa nhằm cố nói lấy được rằng tri thức và văn hoá “Việt” có trước tri thức và văn hoá “Tàu” và rằng Trung Quốc do đó đã vay mượn từ “Việt”, và không có điều ngược lại, như vẫn thường được tin là vậy.

Tôi cần phải đọc nhiều hơn nữa các công trình của Kim Định, nhưng tôi tin rằng nỗ lực nhằm cho thấy “phương Nam” đã sáng tạo ra nền văn hoá mà giờ đây “phương Bắc” ca ngợi đã bắt đầu từ ông ấy (nhưng có lẽ có những ví dụ sớm hơn về tuyến lập luận này chăng?).

Tôi đã băn khoăn từ lâu về cái gì đã thúc đẩy người ta duy trì nỗ lực tạo ra luận điểm này, khi mà hầu hết mọi người không tin vào những gì họ nói. Có phải nó chỉ là chủ nghĩa dân tộc? Liệu lòng tự ái dân tộc chủ nghĩa có thực sự mạnh mẽ đến thế?

Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng kinh ngạc, một người bạn của tôi làm việc cho NASA đã gửi cho tôi một file âm thanh vào sáng nay về một loại thông điệp mà các máy ghi âm không gian của NASA đã thu thập được từ một nơi nào đó bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Bạn tôi nghĩ kiểu âm thanh đó nghe giống tiếng Việt, nên anh ấy gửi cho tôi.

Có một chút khó nghe, nhưng tôi nghĩ họ đang nói…

“Kinh Dịch là của người Việt”!!!

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/29/the-yijing-kinh-dich-and-alien-messages/

Victor Goloubew và sự biến mất của những người tạo tác trống đồng gốc Indonesien

29 Nov

Victor Goloubew và sự biến mất của những người tạo tác trống đồng gốc Indonesien

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Năm 1929,  Victor Goloubew, một học giả gốc Nga làm việc cho Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, đã xuất bản một bài báo trong đó ông khảo sát một số tư liệu được Louis Pajot phát hiện trong cuộc khai quật ở Đông Sơn.

Lúc bấy giờ, các học giả vẫn chưa rõ khởi nguồn ai đã làm ra trống đồng. Hirth cho rằng chúng được người Hoa tạo ra trong suốt những cuộc chinh phục người man ở phương Nam của họ vào thế kỉ đầu sau Công lịch, trong khi đó De Groot lại cho rằng trống đồng được chính những người bị người Hoa chinh phục họ tạo ra.

Image

Trong bài báo của mình, Goloubew ít hay nhiều chiết trung 2 thuyết nói trên và cho rằng trống đồng đầu tiên được tạo ra ở khu vực ngày nay là Bắc Trung Bộ Việt Nam, nhưng là người Hoa đã dạy cho cư dân ở vùng “văn minh nguyên thủy này” cách chế tác kim loại.

Bổ sung vào lập luận về nơi và thời điểm trống đồng được tạo ra lần đầu tiên, Goloubew cũng đưa ra nhưng tuyên bố về một thế giới văn hóa của những người tạo ra trống đồng. Goloubew cho rằng những người đầu tiên tạo ra trống đồng là “người Indonesiens”.

Ông xác quyết như vậy bằng cách so sánh một số di vật khảo cổ mà Pajot khai quật và những hình ảnh trên một trống đồng đã lưu giữ tại bảo tào của Viện Viễn Đông bác cổ tại Hà Nội, chiếc trống đồng Ngọc Lũ, được tìm thấy ở tỉnh Hà Nam năm 1903, với những thông tin dân tộc học về người Dayak ở Borneo và người Mọi ở Tây Nguyên.

Từ những so sánh đó, Goloubew xác định rằng người tạo ra trống đồng chia sẻ những thực hành văn hóa chung nào đó với những người Indonesien,  và rằng họ do vậy mà hẳn cũng là người Indonesien.

Trên trống đồng Ngọc Lũ, chẳng hạn, Goloubew tìm thấy một nhạc cụ giống với cái khèn mà người Lào hay chơi. Tuy nhiên, ông lập luận rằng nhạc cụ ấy còn giống hơn với keluri của người Dayak, cái cũng giống về hình thức với một loại nhạc cụ mà người Mọi hay chơi.

Những con dao găm mà Pajot tìm thấy cũng giống với những con dao găm người Dayak dung. Một mối liên hệ khác với người Dayak nữa là kiểu tóc của người đúc trên trống đồng ngọc lũ, cái kiểu mà Goloubew cho rằng gồm tóc buộc thành một búi, và dung một dải băng cuốn quanh đầu và thả về phía sau lưng.

Image

Goloubew từ đó kết luận rằng trống đồng ngọc lũ hiện than cho một nền văn minh tiền sử, một số dấu tích của nó vẫn có thể tìm thấy giữa cộng đồng người Dayak ở Borneo. Ông cho rằng, một kết luận như thế không quá sửng sốt khi biết rằng H.Kern đã chứng minh năm 1917 mối liên hệ gần gũi giữa người Malay-Polonesians và một số tộc người ở Đông Dương, trong khi vào năm 1925 Henri Mansuy và Madeline Colani đã khám phá ra rằng họ tìm thấy sọ của người Indonesien ở các tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình.

Image

Tuy nhiên, Goloubew vẫn cảm thấy bí ẩn ở việc dường như những nhà tạo tác trống đồng người Indonesien đã biến mất. Ông đoán rằng một số họ có lẽ đã bị hút vào dân Mường hoặc Chăm, trong khi đó, số khác, ông suy luận, có vẻ đã lắp buồm lên các con thuyền mang các hình ảnh tín ngưỡng vật tổ của họ, và hoặc là do nhu cầu hoặc do máu phiêu lưu, đã chinh phục và định cư ở những vùng đất mới.

[Victor Goloubew, “L’Âge du Bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam” [The Bronze Age in Tonkin and Northern Annam], Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient29 (1929): 1-46.]

http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/29/victor-goloubew-and-the-disappearance-of-the-indonesien-creators-of-the-bronze-drums/

Việt ngữ và Anh ngữ ở trường Đại học Huế

27 Nov

Việt ngữ và Anh ngữ ở trường Đại học Huế

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Thế giới học thuật ở nhiều phần của Á châu đã trở nên “cuồng Anh ngữ” trong những năm gần đây. Trong một nỗ lực nhằm “quốc tế hoá” nền giáo dục, các trường đại học ở những nơi mà Anh ngữ không phải là tiếng sở tại đang đưa ra những chương trình học bằng Anh ngữ, và chính phủ ở các nước đó cũng đang mở rộng việc giảng dạy Anh ngữ ở các trường từ mầm non đến lớp 12.

Image

Hôm nay tôi đã đọc qua một tập sách mỏng quảng bá về Đại  học Huế từ đầu thập niên 1960s, và có phần ngạc nhiên khi thấy đoạn văn dưới đây:

“Mặc dù tiếng Việt được dùng làm phương tiện để dạy học ở Đại học này, nhưng tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ số một của nó. Bởi quá thiếu các sách giáo khoa tiếng Việt vào thời điểm này, nên tri thức về một ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, được cho là cần thiết đối với tất cả sinh viên.

“Điều này sẽ cho phép họ có thể tiến hành các nghiên cứu của riêng họ và cũng có thể tiếp tục nghiên cứu sau này. Hi vọng rằng sẽ không có cử nhân nào của trường đại học này không thể đọc được sách Anh ngữ và theo được các bài học bằng Anh ngữ.

“Các khoá học bằng Anh ngữ, ở một cấp độ thực tiễn, đang được cung cấp cho toàn bộ sinh viên của trường đại học này”.

Image

Vậy là 50 năm trước đây, trường Đại học Huế đang cố gắng làm cái việc mà nhiều trường đại học ở đây ngày hôm nay đang cố làm.

Điều đó thật ấn tượng, nhưng người ta cũng thấy những vấn đề tiềm tàng ở tình huống được miêu tả trong tập tài liệu này, Họ không có nhiều tài liệu bằng Việt ngữ, vì vậy họ dùng các tài liệu Anh ngữ, nhưng họ lại dạy bằng Việt ngữ.

Trong một môi trường học thuật “trộn lẫn” như vậy, cái gì sẽ được tạo ra, và người ta sẽ giỏi cái gì? Có phải mọi người đều có khả năng như nhau về Anh ngữ và Việt ngữ? Ngôn ngữ nào được dùng để tạo ra tri thức? Hay cả hai?

Có một sự “thiếu thốn lớn các sách giáo khoa Việt ngữ” lúc bấy giờ bởi gì Việt Nam vừa mới thoát khỏi thời kì thuộc địa khi một lượng lớn những “tri thức nâng cao” đã được tạo ra bằng Pháp ngữ. Người ta tự hỏi chính sách của Đại học Huế sẽ dẫn đến đâu? Phải chăng cách tiếp cận “quốc tế” này sẽ dẫn đến sự kiến tạo tri thức băng 2 ngôn ngữ? Hay phải chăng Anh ngữ đã hiện diện như một dạng ngôn ngữ “tân-thuộc địa” (tức là, là một ngôn ngữ mà bằng nó “tri thức nâng cao” được tạo ra, như tiếng Pháp đã từng là trong suốt thời kì thuộc địa)?

Đây đều là những câu hỏi mà sẽ là thú vị khi dành để hỏi những ai đã công tác ở Đại học Huế ở thập kỉ 1960s và đầu thập kỉ 1970s, bởi họ hẳn đã đối mặt với những vấn đề tương tự như những gì mà nhiều trường đại học ở khu vực này đang bắt đầu phải đối diện ngày nay.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/26/missing-voices-in-vietnamese-history/

Những tiếng nói bị lãng quên trong lịch sử Việt Nam

26 Nov

Những tiếng nói bị lãng quên trong lịch sử Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Học giả trong thế giới nói tiếng Anh thực sự không bắt tay vào nghiên cứu và viết về lịch sử Việt Nam cho đến tận thập kỉ 1960s-1970s. Lúc bấy giờ, Việt Nam đã giành được độc lập từ tay thực dân Pháp, vì vậy điều dễ hiểu là các học giả muốn tìm hiểu xem việc đó diễn ra như thế nào/

Chúng ta có thể thấy điều này trong một công trình thuộc loại sớm của một người như David Marr với Phong trào chống thực dân của người Việt Nam, 1885 -1925 Truyền thống được thử thách, 1920-1925 trong đó dẫn tài liệu về các nhân vật và sự kiện góp phần vào những tình huống rốt cuộc cho phép Việt Nam trở thành độc lập (mặc dù cuốn sách sau của ông Việt Nam năm 1945, đưa ra một bức tranh phức tạp hơn).

Trong khi tất cả những công trình này, và những công trình của nhiều học giả khác về cùng giai đoạn này, cực kì có giá trị, thì chúng đều có xu hướng bỏ qua một tiếng nói quan trọng – tiếng nói của “giới viên chức/quan lại” người Việt.

Tôi nhớ nhiều năm trước dã xem những “truyện tranh chính trị” trên các tạp chí như Phong Hoá vào thập kỉ 1930s trong đó châm biếm các quan lại triều Nguyễn, và tôi ngạc nhiên khi thấy điều này, bởi nó cho tôi thấy rằng: 1) Các quan lại triều Nguyễn vẫn còn quan trọng vào thời điểm ấy và 2) tôi chẳng biết gì về điều này, bởi chúng không được thảo luận chi tiết trong các công trình viết về các nhân vật như của Marr và bất kì ai đã từng viết về lịch sử Việt Nam thế kỉ XX.

Image

Vì vậy nếu các biên tập viên của tờ Phong Hoá không thích các quan lại triều Nguyền, thì tại sao lại như vậy? Việc các quan lại triều Nguyễn làm gì/nói gì lúc bấy giờ là như thế nào? Tôi chẳng biết gì hết.

Tuy nhiên, gần đây, tôi có đọc qua một tờ báo có tên Thanh Nghệ Tịnh tân văn bắt đầu được phát hành năm 1930. Tờ báo này rõ ràng phản ánh quan điểm của các quan lại triều Nguyễn làm việc dưới sự “bảo hộ” của Pháp.

Trong tờ báo này, tôi tìm thấy một tư liệu dài từ một quan chức triều Nguyễn với những lời bình luận sau đây:

“Nước Đại Pháp gần đây đã đưa ra nhiều tri thức có chất lược cho đất Nam ta [Nam Thổ]. Mọi người đều rõ rằng điều này sẽ khiến những người trẻ tuổi đang theo đuổi Tân học có được một quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa yêu nước, và họ thực tâm tìm kiếm sự dẫn đường của nước Pháp khiến cho người dân trong nước có thể bước lên con đường văn minh và tiến bộ.

Các quốc gia vĩ đại có các tác giả vĩ đại, các chính trị gia vĩ đại, các nhà nghiên cứu vĩ đại [cách trí gia 格致家, tôi nghĩ thuật ngữ này muốn chỉ “các nhà khoa học”], và các nhà quân sự nổi tiếng thế giới. Nếu nước Đại Nam có thể tiếp bước nước Đại Nam thì sẽ không tổn hại gì đến thanh danh của nó”.

Tờ Thanh Nghệ Tịnh tân văn được phát hành bằng cả tiếng Việt lẫn chữ Hán. Tư liệu trên đây vốn được viết bằng chữ Hán sau đó được dịch sang tiếng Việt.
Điều được thể hiện ở đây là đến tận năm 1930, vẫn có các quan chức triều Nguyễn cảm thấy thoải mái khi viết chữ Hán hơn là viết bằng tiếng Việt.

Image

Nó cũng cho thấy rằng có những tiếng nói trong quá khứ Việt Nam mà các sử gia không xem xét và thảo luận.

Lịch sử Việt Nam hiện đại không hoàn toàn là “sự phản kháng”. Có nhiều người Việt đã “cộng tác”, và sau 1945, những người Việt đó có lẽ có một ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam hơn là những người phản kháng (và bị bắt giữ).

Vì vậy để hiểu xã hội Việt Nam ở thế kỉ XX, chúng ta cần lắng nghe những tiếng nói của những người đã phát ngôn qua các phương tiện như tờ Thanh Nghệ Tịnh tân văn.

ImageImage

Đó là những tiếng nói mà các học giả (cả trong lẫn ngoài Việt Nam) chưa nghe thấy.

[[T]ẩu dịch]

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/26/missing-voices-in-vietnamese-history/

Lịch sử cổ đại của phần Đông lục địa Đông Nam Á (Việt Nam cổ đại: Lịch sử, nghệ thuật và khảo cổ)

23 Nov

Lịch sử cổ đại của phần Đông lục địa Đông Nam Á

(Việt Nam cổ đại: Lịch sử, nghệ thuật và khảo cổ)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi vừa nhận được bản sao một cuốn sách mới có tiêu đề Việt Nam cổ đại: Lịch sử, Nghệ thuật và Khảo cổ (Ancient Vietnam: History, Art and Archaeology) của Anne-Valérie Schweyer, một học giả người Pháp chuyên nghiên cứu văn khắc Chăm. Nó được nhà River Books xuất bản tại Bangkok.

Image

Nhà River Books đã xuất bản nhiều tập sách hay mà về cơ bản là những “sách hướng dẫn du lịch dành cho người có học”. Chúng là những cuốn sách được minh hoạ đẹp trong đó chứa những thông tin về lịch sử và văn hoá về các vùng đất ở Đông Nam Á, và chúng thường bao gồm những chú thích và một bảng thư mục khiến cho ngay cả các học giả cũng có thể thấy chúng hữu ích.

Tác phẩm của Shweyer thật không may lại không có những chú thích hay một bản thư mục. Nó cũng chứa một số thông tin lạc hậu đến ngỡ ngàng, chẳng hạn như nhận định rằng “khái niệm Việt chỉ một nhóm sắc tộc, có lẽ đến từ Hoa Nam vào khoảng đầu kỉ nguyên Ki Tô”. Vì thế mà cuốn sách có những yếu kém của nó.

Tuy nhiên, nó cũng có một sức mạnh lớn lao, và đó chính là đặc điểm “lấy Chăm làm trung tâm” (Chăm tâm).

Đây là cách mở đầu cuốn sách:

“Cái tên Việt Nam, như hiện dùng, thường được dùng để diễn tả vùng lãnh thổ nằm trên cái mà sử học cổ đại giữa người Chăm và người Việt thể hiện, nhưng nó là một khái niệm quá mới đối với sử học cổ đại, cái không thừa nhận một ý tưởng về một quốc gia hay những nhóm sắc tộc. Nằm ở ngã tư của lục địa và biển Đông Nam Á, khu vực này là một nơi diễn ra sự giao lưu văn hoá giữa ba họ ngữ hệ chủ yếu: Austro-Asiatic, Austronesian và Sino-Tibetan. Những nhân tố chính yếu trong lịch sử Việt Nam cổ đại là người Chăm, những người thuộc về ngữ hệ Austronesian, và người Việt, thuộc về ngữ hệ Austro-Asiatic”.

Bạn có thấy mô hình gì ở đây không? Đó là Chăm thứ nhất, rồi sau đó mới đến Việt. Chăm đầu tiên, sau là Việt. Và đây chính là cách trình bày thông tin trong suốt cả cuốn sách.

Tôi phải thừa nhận rằng điều này khiến tôi dừng lại và suy nghĩ. Vâng, tại sao khá nhiều sách sử lại bắt đầu với các Hùng Vương có trong huyền thoại và không đề cập gì đến Bhadravarman có trong lịch sử? Và dù thế nào, liệu có bao nhiêu sử gia về “Việt Nam” ít nhất có thể đọc được các bi kí thế kỉ V của Bhadravarman viết bằng tiếng Phạn? Và còn việc đọc tất cả những bi kí ở đất Chăm thì thế sao? Nhiều bi kí được viết ra từ bao thế kỉ trước khi chúng ta có bất kì minh chứng gì về các văn bản viết của người Việt.

Nếu chúng ta xem văn bản viết là sự khởi đầu của sử học, thì sử học ở phần ấy của thế giới bắt đầu với người Chăm, khi mà họ bắt đầu viết lách trước người Việt khá lâu. Trong trường hợp này, tại sao lại nói về lịch sử cổ đại của “Việt Nam”? Schweyer lưu ý rằng khái niệm đó vô nghĩa với sử học cổ đại, vậy tại sao lại chỉ toàn sử dụng nó?

Cuốn sách của Schweyer có mục đích dành cho độc giả phổ thông nhưng sự trình bày mang tính “Chăm tâm” của nó cũng là một hồi chuông thức tỉnh cho các học giả. Đã đến lúc phải đặt lại khái niệm và viết lại lịch sử cổ đại của phần phía Đông lục địa Đông Nam Á. Một nỗ lực như thế sẽ đòi hỏi rất nhiều việc phải làm và nhiều trí trưởng tượng, nhưng bước đầu tiên là rõ ràng – loại bỏ khái niệm “Việt Nam”. Nó hoàn toàn không thích hợp về niên đại.

Namo bhagavato mahadevaya bhadresvarasvaminah!!

Kính ngưỡng Mahadeva Bhadresvarasvami uy nghi!!

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/03/04/the-early-history-of-the-eastern-part-of-the-southeast-asian-mainland/

Đầu bay, đồng cốt “xăng pha nhớt” và Đông Nam Á như một lĩnh vực nghiên cứu về Đông Nam Á

22 Nov

Đầu bay, đồng cốt “xăng pha nhớt” và Đông Nam Á như một lĩnh vực nghiên cứu về Đông Nam Á

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Hôm nay, có người hỏi tôi gợi ý cho họ một số công trình về lịch sử đại cương Đông Nam Á, và điều này nhắc tôi về một “vấn đề” lớn hơn mà tôi đã và đang nghĩ lâu nay, tức là, câu hỏi “Đông Nam Á là gì?”.

Chúng ta biết rõ rằng nỗ lực nghiên cứu Đông Nam Á “như một khu vực” chỉ thực sự bắt đầu từ sau Thế chiến II, và rằng nó là một lĩnh vực rộng trong thế giới nói tiếng Anh.

Image

Các công trình như Lịch sử, văn hoá và Tôn giáo trong các bối cảnh Đông Nam Á (History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives) của O.W.Wolters và bộ Đông Nam Á trong thời đại Giao thương (Southeast Asia in the Age of Commerce) 2 tập của Anthony Reid là những đóng góp chủ yếu cho nỗ lực này nhằm xác định Đông Nam Á như một khu vực, và mặc dù người ta nghi ngờ những ý tưởng cá nhân trong các công trình này, tuy nhiên chúng vẫn tiếp tục đóng vai trò những “xuất phát điểm” cho nhiều người để hiểu Đông Nam Á.

Đó là cái đã làm tôi khó chịu, và để tôi lấy một ví dụ xem vì sao nó lại như thế.

Năm 1993, O.W.Wolters, người lúc bấy giờ là nhân vật chủ yếu trong lĩnh vực Đông Nam Á học ở Hoa Kỳ, và là người đã giảng dạy ở một trường đại học Mỹ ưu tú (Cornell), đã có một cuộc nói chuyện tại một hội thảo của các sử gia Đông Nam Á ở Jakarta, sau đó được xuất bản trên tạp chí Indonesia với tên “Đông Nam Á như một lĩnh vực nghiên cứu Đông Nam Á” (bài báo có thể download ở here).

Trong bài phát biểu của mình, O.W.Wolters nói về 8 “khía cạnh hoặc kiểu văn hoá nổi bật gắn với quá khứ của khu vực [Đông Nam Á]. Đây là những điều ông nói:

1) Khía cạnh đầu tiên là thời điểm duy nhất có ý nghĩa là “bây giờ”…

2) Bởi vì “bây giờ” là thời điểm có ý nghĩa, sự quan trọng kèm theo là nó phải “cập nhật” hay “đương đại”.

3) Khả năng được “cập nhật” thường được nối với và duy trì bởi cảm giác là một bộ phận không thể thiếu của chỉnh thể “thế giới” đã biết hơn là đơn thuần thuộc về khoảnh chủ quyền của riêng ai đó.

4) Cái đem lại nét khác biệt đối với đời sống công khai trong phạm vi chính Đông Nam Á là một sự nhấn mạnh về văn hoá vào “con người” và “thành tựu” hơn là vào “nhóm” hay địa vị “cha truyền con nối”.

5) Trong nền văn hoá hướng về thành tựu này, nhân lực là một nguồn kinh tế chủ đạo của một lãnh tụ và đặc biệt cần thiết cho việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp thặng dư để củng cố triều đình, các công trình công cộng, các cuộc phiêu lưu quân sự, và ngoại thương.

6) Không ngạc nhiên trong bối cảnh văn hoá này, các lãnh tụ được lí tưởng hoá và thậm chí được sùng kính như là các bậc thầy về ứng xử giỏi, thường xuyên được khái niệm hoá thành hành vi tôn giáo tốt.

7) Nhưng mặc dù có những niềm hi vọng cao về vương quyền, không có việc được kéo dài hoặc, có lẽ, bất kì thời kì trung ương tập quyền mạnh.

8) Bởi vì những tổ chức chính phủ được thư giãn, các căn cước chủng tộc ở các lề biên của những chính thể chủ yếu được để yên và thường được tái hiện bằng những lớp sinh thái học kề nhau trên tấm bản đồ vật lí. Không có “các đường biên” theo nghĩa hiện đại mà chỉ có những ngoại biên “xôi đỗ”Image.

Điều đầu tiên cần phải làm rõ về 8 điểm này là: chúng đều tích cực. Hễ khi nào các viện sĩ nói về khu vực nghiên cứu/tìm tòi “của họ” dưới ánh sáng tích cực như thế, điều đó với tôi luôn là một dấu hiệu trực tiếp cho thấy vị viện sĩ này đã rời bỏ thế giới học thuật và tiến vào một địa hạt khác, phải chăng là địa hạt của tuyên truyền viên, đĩ điếm học thuật, kẻ tự yêu mình,v.v…bởi vì chẳng có khu vực nào của thế giới là nơi mọi thứ đều tốt.

Điều thứ hai cần làm rõ là những điểm đó chẳng có gì đặc biệt cho Đông Nam Á cả. Nếu chúng đặc biệt, thì có nơi nào trên thế giới người ta không đánh giá là “có cập nhật”?? Tôi nghĩ đó là đặc trưng nhân loại phổ biến. Nó chẳng đặc biệt với bất kì khu vực nào của thế giới. Vậy tại sao lại nói như thế?

Tôi nghĩ có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến một người như O.W.Wolters lại phát triển một cái nhìn tích cực về Đông Nam Á như thế. Tuy nhiên, những nguyên nhân đó ít có liên quan gì đến bản thân Đông Nam Á, và nó liên quan nhiều đến đời sống chính trị lúc bấy giờ, phải chăng đó là đời sống chính trị của sự giải thực dân hoá trong khu vực hoặc đời sống chính trị của việc kiến tạo một không gian cho ngành Đông Nam Á học ở các trường đại học Mỹ.

Image

Ngày nay Đông Nam Á đang thay đổi nhanh và có một niềm hứng thú không ngừng với khu vực này, một phần bởi những sáng kiến ASEAN, nhằm học và dạy về Đông Nam Á. Trong quá trình đó, có những người đang hướng tới cái mà họ thừa nhận là các nguồn tư liệu đáng tin cậy (“nền học thuật phương Tây”), và họ đang đọc những công trình của những người như O.W.Wolters…

“Vấn đề” là ở chỗ một số cái mà Wolters nói không đủ tin cậy. Những tuyên ngôn như trên là thiên lệch, và phi-học thuật.

Khi tôi giảng dạy về Đông Nam Á, tôi không dùng bất kì khái niệm nào mà Wolters đã dùng ở đây hoặc một nơi nào khác. Thay vào đó, tôi theo đuổi những ý tưởng riêng của mình về những nhân tố văn hoá gì đã gắn kết khu vực lại với nhau, và trước hết giữa chúng là những cái đầu bay và những đồng cốt đồng bóng.

Suốt phần lớn khu vực mà hiện nay chúng ta xác định là Đông Nam Á, chúng ta có thể tìm thấy một loại ma chung. Được biết đến là krasue ở Thái, aap ở Khmer, penanggalan ở Mã Lai và mananaggal ở Tagalog, đây là một phụ nữ có đầu có thể tách khỏi thân, và sau đó bay trong không trung với nội tạng treo lủng lẳng dưới cái đầu cắt lìa.

Image

Cô ta làm vậy vào ban đêm, và lùng sục những người đàn bà đẻ, vì cô ta thích ăn máu tươi, bào thai, nhau thai,v.v…

Người Việt không có tín ngưỡng này, và điều đó là quan trọng, bởi Việt Nam trong nhiều con đường không “thuộc về” Đông Nam Á, mặc dù về mặt lịch sử người Việt đã biết về những con ma như thế bởi sự tiếp xúc của họ với những láng giềng Đông Nam Á khác.

Rồi trong khu vực đều có những đồng cốt “xăng pha nhớt”. Từ những đồng cốt trong Đạo Mẫu Việt Nam đến nat kadaw ở Burma, rồi bisu ở Sulawesi, có một tính phổ quát trong cả khu vực ở chỗ người ta có thể thấy những đồng cốt có đặc tính đồng bóng.

Những đồng cốt như thế không thường xuyên chỉ là những người trở thành đồng cốt, mà họ hay được xem là có quyền lực nhất.

Với tôi, đây là những đặc trưng của Đông Nam Á.

Image

Giờ đây khi mà có một xu hướng đang lên ở Đông Nam Á là muốn tìm hiểu khu vực này, thì nơi nào người ta sẽ nhìn vào để xây dựng tri thức về khu vực này? Liệu có phải họ chỉ theo đuổi những ý tưởng của riêng mình? Hay liệu họ sẽ quay sang những nguồn tri thức “khả tín” như những nguồn tri thức đến từ các trường đại học phương Tây ưu tú?

Nếu họ nhìn vào những gì những người ở các trường đại học phương Tây ưu tú đã làm, thì họ sẽ cảm thấy hay, bởi O.W.Wolters tuyên bố rằng người dân ở Đông Nam Á đã luôn “cập nhật”. Nhưng liệu đó thực sự có phải là cái riêng biệt của Đông Nam Á?

Gần cuối bài nói chuyện, Wolters khẳng định rằng, “giờ đây tôi phải nhắc các bạn rằng tôi đã đề xuất những khía cạnh văn hoá này với hi vọng rằng chúng sẽ kích thích sự tự ý thức ở công chúng Đông Nam Á. Mục đích của tôi không phải là áp đặt cái nhìn của tôi lên các bạn”.

Image

??? Mục đích của Wolters không phải là áp đặt các ý tưởng của ông lên người dân Đông Nam Á, mà phải chăng người ta nghĩ rằng ông có thể “kích thích sự tự ý thức”?

Tôi nghĩ cách “kích thích sự tự ý thức” là phải khuyến khích người ta không chú ý gì vào thứ rác rưởi bị chính trị hoá mà các viện sĩ ở Mỹ đôi khi tạo ra, và phải khuyến khích người ta chỉ nghĩ có phê phán về cái thế giới họ đang sống trong đó.

Tuy nhiên, tôi cá rằng, khi càng nhiều nước ở Đông Nam Á giảng dạy về khu vực này trong một nỗ lực để tán dương ASEAN hoà nhập, họ sẽ [càng] giảng dạy về một Đông Nam Á “thống nhất”, biểu tượng của việc “cập nhật” và rằng họ sẽ trích dẫn “tri thức khả tín” của “phương Tây” khi tiến hành việc đó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/21/flying-heads-third-gender-spirit-mediums-and-southeast-asia-as-a-southeast-asian-field-of-study/

Âm nhạc và sự (không) quan trọng của cơ tầng văn hoá Đông Nam Á

22 Nov

Âm nhạc và sự (không) quan trọng của cơ tầng văn hoá Đông Nam Á

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Vào năm 1993, cùng năm O.W.Wolters phát biểu ở Jakarta về Đông Nam Á mà tôi đã đề cập ở bài viết trước, học giả Việt Nam Đinh Gia Khánh đã xuất bản một cuốn sách có tên Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (Vietnamese Folk Culture in the Context of Southeast Asian Culture).

Image

Đinh Gia Khánh nói thẳng trong dòng đầu của lời tựa cuốn sách rằng: “Với nhan đề “Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á,” chuyên luận này nhằm mục đích trước hết là xác định tọa độ văn hóa dân gian Việt Nam trong văn hóa dân gian Đông Nam Á nói riêng và văn hóa Đông Nam Á nói chung”.

Image

Để làm điều này, Đinh Gia Khánh dựa vào công trình trước đó của học giả Pháp George Coedès [trong đó khẳng định] rằng có một “cơ tầng văn hoá” toàn khu vực này. Trong công trình Các nhà nước Ấn hoá của Đông Nam Á (The Indianized States of Southeast Asia), Coedès mô tả cơ tầng văn hoá này như sau (Tôi đã đính kèm ảnh chụp từ văn bản của Đinh Gia Khánh ở dưới cho những ai đọc tiếng Việt. Ông ấy đã đưa ra nhiều luận điểm tương tự):

“… về văn hoá vật thể, là việc trồng cấy lúa nước, việc thuần hoá trâu và bò, bước đầu sử dụng kim loại, tri thức về hàng hải; về hệ thống xã hội, là vai trò quan trọng được trao cho người phụ nữ và những mối quan hệ dòng mẹ, và trong các tổ chức do nhu cầu của nền nông nghiệp lúa nước; về tôn giáo, là tín ngưỡng vật linh, tín ngưỡng thờ tổ tiên và thần đất,…”

Vậy là năm 1993, O.W.Wolters và Đinh Gia Khánh đều lập luận (như Coedès đã làm trước đó và như nhiều người tiếp tục làm vậy ngày nay) rằng có “cái gì đó” gắn Đông Nam Á với nhau, và trong khi Wolters và Đinh Gia Khánh tập trung vào các luận điểm khác nhau, họ đều nhất trí rằng “cái gì đó” này có những cội rễ lịch sử rất sâu xa.

Đặt sang một bên cái thực tế là nhiều nhân tố mà những học giả này nhận dạng có thể được tìm thấy ở những phần khác của thế giới, và vì vậy không khu biệt được khu vực Đông Nam Á, chúng ta hãy tạm thừa nhận rằng có một cơ tầng văn hoá từng tồn tại từ lâu trong quá khứ.

Điều đó có quan trọng không? Nếu có, thì quan trọng thế nào?

Image

Tôi được gợi lại những câu hỏi này khi tôi đọc qua một cuốn sách của sử gia người Thái Sujit Wongthes, Âm nhạc Thái đến từ đâu? (Where Does Thai Music Come From?). Bất kì ai quen với lịch sử Đông Nam Á sẽ ngay lập tức nhận ra rằng hình ảnh trên bìa cuốn trách này là từ trống đồng “Đông Sơn”.

Những chiếc trống đồng đó ngày nay được sử dụng để chứng minh cho tình trạng cổ xưa của một truyền thống văn hoá ở khu vực ngày nay là Việt Nam, và trong những công trình như Tìm về bản sắc văn hoá của Trần Ngọc Thêm, hình ảnh tương tự được sử dụng để lưu ý sự tồn tại sớm của âm nhạc tại “Việt Nam”.

Image

Tuy nhiên, có một vấn đề với cả hai cuốn sách. Sujit Wongthes cho rằng âm nhạc “Thái” là một phần của “dòng họ” (krua yaat เครือญาติ) âm nhạc đến từ toàn bộ Đông Nam Á lục địa, hay cái mà ông gọi là Suvarnabhumi, trong khi Trần Ngọc Thêm ngụ ý rằng nhạc cụ mà chúng ta thấy có người chơi trên mặt trống đồng (cái khèn) là một phần của truyền thống âm nhạc “Việt Nam”.

Cả hai người đều đang khẳng định với tư cách là đại diện của các truyền thống văn hoá của các quốc gia/dân tộc hiện đại từng tồn tại lâu dài trước khi lần lượt mỗi quốc gia hiện đại xuất hiện.

Phải nói là, ngày nay khèn có thể được nghe khá rộng rãi ở Thái Lan. Bạn không nghe thấy nó trong nền âm nhạc “chủ lưu”, nhưng nó đã được sáp nhập vào nền âm nhạc Lào, và có nhiều tộc người Lào ở miền Đông Bắc Thái Lan, và nhiều người trong số đó đã chuyển tới Bangkok làm việc, vì vậy loại âm nhạc dùng khèn có thể dễ dàng được nghe thấy.

Ở Việt Nam, trái lại, khèn không phải là một bộ phận của bất kì một truyền thống âm nhạc chủ lưu nào. Có lẽ có một số người ở miền núi chơi nó, nhưng nó không còn “duy trì” và bảo lưu phần nào trong xã hội rộng hơn.

Vậy thì phải chăng điều này có nghĩa là nền văn hoá âm nhạc Thái có liên hệ chặt với “cơ tầng văn hoá Đông Nam Á” hơn là truyền thống văn hoá “Việt Nam”? Sau hết, ngày nay chúng ta có thể dễ dàng nghe trên đài phát thanh ở Thái Lan âm thanh của cây khèn, một nhạc cụ được thể hiện trên các trống đồng Đông Sơn từ thời đại mà “cơ tầng văn hoá Đông Nam Á” được hình thành.

Hay có lẽ ý tưởng về “cơ tầng văn hoá Đông Nam Á” đơn giản không phải là một khái niệm quá hữu ích. Nếu nó hữu ích, thì nó giúp lí giải cái gì?

ImageImageImage

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/21/music-and-the-unimportance-of-a-southeast-asian-cultural-substratum/

%d bloggers like this: