Mẫu hình Nidhi trong thế giới phẳng của chúng ta

10 Nov

Mẫu hình Nidhi trong thế giới phẳng của chúng ta

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Hôm qua, tôi có một cuộc nói chuyện khá lâu về tri thức với một người bạn, và hôm nay tôi thức dậy với ý nghĩ về sử gia và học giả Thái Lan Nidhi Aeusrivongse.

Cuộc nói chuyện ngày hôm qua là về “vấn đề” của những dạng tri thức thức khác biệt mà các học giả ở các nước “châu Á” và “phương Tây” đang có và câu hỏi về việc, bất cứ việc gì, cần làm để giải quyết vấn đề này.

Một điều chúng tôi đồng ý với nhau là đây không phải là một câu hỏi về một sự khác biệt giữa các dạng tri thức của “châu Á” và “phương Tây”. Không hề có cái gọi là các dạng tri thức của “châu Á” hay “phương Tây” như thế. Sự tiếp xúc mạnh mẽ giữa các cư dân từ các xã hội khác nhau trong suốt quá khứ 200 năm qua đã thay đổi cách nghĩ của mọi người trên khắp địa cầu.

Và trong khi những sự biến đổi đó không dẫn đến sự đồng thuận, thì những sự khác biệt không đơn thuần có thể được lí giải bằng cách viện dẫn đến những thứ như các dạng tri thức “châu Á”.

Image

Chẳng hạn, ở Bắc Kinh năm nay là năm 2013, còn ở Đài Bắc là năm 102 [?].

102 năm trước, triều Thanh đã bị lật đổ và Cộng hoà Trung Hoa được hình thành. Giống như các chính phủ Trung Hoa “truyền thống”, chính phủ mới này cũng lấy mốc thời gian khởi đầu cho sự thành lập của nó [tức đặt niên hiệu “Trung Hoa dân quốc” – HQV], nhưng chính phủ được thiết lập lúc bấy giờ là một kiểu chính phủ mới, một kiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ý tưởng về sự cai trị có nguồn gốc từ “phương Tây”.

Về quyết định áp dụng nghị trình phương Tây trong Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tôi không biết chi tiết nhưng tôi ngờ rằng điều này có liên quan đến những sự tương tác với Liên Xô và sự nhấn mạnh quyết liệt vào tri thức “khoa học” của nó.

Vì vậy luận điểm của tôi là muốn nói rằng nguyên nhân những nơi như Đài Loan và Hoa lục trở thành như ngày nay là bởi những sự tương tác toàn cầu.

Vậy điều này có tác động thế nào đến “vấn đề” tôi đề cập ở trên? “Vấn đề” là khi các học giả từ các nước “châu Á” và “phương Tây” bất đồng, hay không hiểu nhau, thì nguyên nhân không còn là bởi họ có những cách nghĩ khác nhau. Thay vào đó, nguyên nhân là bởi những người ở những khu vực nhất định đã khảo xét những ý tưởng nào đó xa hơn những người ở các nơi khác.

Image

Hãy xét chủ điểm mà tôi ưa thích là chủ nghĩa dân tộc. Vào thập kỉ 1950s, hiểu biết về chủ nghĩa dân tộc khá là thống nhất. Lúc bấy giờ, các nền học thuật ở Liên Xô, Trung Quốc, Philippines, Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam,… đều có thể nói chuyện với nhau và có một cuộc tranh luận lành mạnh. Và họ có thể làm điều này bởi những tương tác toàn cầu trong suốt nhiều thập kỉ trước (xảy ra rộng rãi bởi chủ nghĩa thực dân và đế quốc) đã thay đổi thế giới và tạo ra một lối nghĩ chung cho các học giả (vẫn còn những sự chia rẽ và khác biệt, nhưng cách nghĩ của các học giả trên toàn cầu lúc bấy giờ thống nhất hơn so với 50 năm trước đó).

Rồi ở thập kỉ 1980s, có sự bùng nổ hứng thú với chủ đề chủ nghĩa dân tộc ở những nơi như Anh quốc và Hoa Kì, và đến lúc ấy một thập kỉ hay đại loại như thế đã trôi qua, các học giả ở những nơi đó không còn có một cuộc tranh luận lành mạnh với các học giả ở những nơi [khác] như Liên Xô hay Trung Quốc.

Image

Giờ đây, ở cuối thập kỉ 1980s, nếu các học giả Xô Viết và Mỹ không đồng tình hay hiểu nhau thì nó không còn thực sự quan trọng bởi những sự chia rẽ của Chiến tranh Lạnh cách li họ với nhau. Họ thực sự đã không nói chuyện với nhau.

Điều đó bây giờ (về mặt lí thuyết) đã thay đổi. Với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và với sự quốc tế hoá giáo dục, hàng nghìn người đang học tập và nghiên cứu ở nước ngoài và đang được chứng kiến những ý tưởng phát triển ở đó xa hơn những gì họ có ở nước nhà. Trong khi đó, “các hội thảo quốc tế” đã và đang được tổ chức ở mọi xó xỉnh của thế giới đang đưa mọi người với những thực thể tri thức khác nhau lại gần nhau.

Và với toàn bộ những sự phát triển đó, chúng ta có những người như Thomas Friedman nói cho chúng ta biết rằng thế giới đang trở nên “phẳng”. Trong khi điều đó có lẽ đúng với những thứ như sự phát triển của công nghệ thông tin (là một trong những chủ đề mà ông tập trung vào), thì tri thức học thuật trong Khoa học nhân văn và ở phạm vi hẹp hơn là khoa học xã hội vẫn còn xa mới phẳng. Một lần nữa, trong lĩnh vực những dạng thức tri thức, tôi cho rằng thế giới ở thập kỉ 1950 còn phẳng hơn nhiều ngày nay.

Vậy là sau đó điều này dẫn tôi đến chủ đề mà tôi và bạn tôi thảo luận. Điều gì cần làm để giải quyết vấn đề này. Hay có thứ gì nên làm cho nó hay không? Chúng tôi chưa đi đến một đáp án, nhưng chúng đã tôi đồng ý với nhau rằng chúng tôi đã nhận thấy 2 cách thức nổi bật mà các học giả ở/từ châu Á đã và đang phản ứng với sự mất cân bằng tri thức trong kỉ nguyên “phẳng toàn cầu” này – đó là, bác bỏ hoặc chấp nhận (hoàn toàn) tri thức “phương Tây” và chúng tôi không nghĩ rằng một trong hai cách tiếp cận đó là lí tưởng.

Image

Vì vậy, tôi đi ngủ mà trong đầu vẫn miên man suy nghĩ về vấn đề này, rồi tôi thức dậy với ý nghĩ về Nidhi Aeusrivongse.

Ajarn (tức Giáo sư) Nidhi là một học giả và sử gia Thái Lan, người đã đạt được học vị Tiến sĩ ở trường Đại học Michigan năm 1976. Luận án của ông có tên là Hư cấu như một lịch sử: Nghiên cứu về Tiểu thuyết và các tiêu thuyết gia Indonesia tiền chiến 1920 – 1942.

Image

Rồi tôi nghĩ chúng ta có thể thấy cái gì đó nhất quán ở Ajarn Nidhi. Khá nhiều nghiên cứu sinh lấy bằng Tiến sĩ ở nước ngoài bằng cách nghiên cứu về xã hội quê nhà của họ. Ajarn Nidhi không chọn làm như vậy, và điều này đòi hỏi phải học thêm một ngoại ngữ – tiếng Indonesia.

Những giáo sư hướng dẫn của ông là một số trong những học giả chủ công trong lĩnh vực lịch sử Đông Nam Á ở Bắc Mỹ lúc bấy giờ – John Whitmore, Benedict Anderson,v.v.. – và Đại học Michigan là một đại học hạng ưu, vì vậy tôi ngờ rằng nếu Ajarn thực sự muốn, ông đã có thể có cách ở lại nước ngoài.

Tuy nhiên, ông đã không làm thế. Trên thực tế, không chỉ không ở lại nước ngoài, ông còn dừng viết bằng tiếng Anh. Tôi biết một chương ông viết về Campuchia [bằng tiếng Anh?] trong một tập sách (biên soạn chứ không phải chuyên luận) từ (tôi nghĩ) cuối thập kỉ 1970s, nhưng về ở bản từ sau khi ông hoàn thành luận án Tiến sĩ trở đi, ông chỉ viết bằng tiếng Thái.

Và ông viết nhiều, và công trình học thuật của ông được đề cao bởi các học giả Thái Lan và nước ngoài – những người có thể đọc được tiếng Thái.

Trên cả việc tạo ra các công trình học thuật tin cậy, Ajarn Nidhi cũng trở thành kiểu mà chúng ta có thể gọi là “trí thức của công chúng” và viết báo cho các tạp chí, và sau đó lập ra một nhóm và một trang web được biết đến dưới cái tên “Đại học nửa đêm” (Midnight University) để chia sẻ các ý tưởng và công trình học thuật có tính chất phê phán với công chúng.

Một lần nữa, tất cả được viết bằng tiếng Thái.

Vậy là, về cơ bản những gì Ajarn Nidhi làm là học từ chính xã hội quê nhà, học từ giai đoạn ông nghiên cứu ở Hoa Kỳ, và rồi sau đó đi theo một lối đi nhất quán của riêng mình. Ông không bác bỏ thế giới bên ngoài, nhưng ông cũng không tôn sùng nó hay bác bỏ chính xã hội quê nhà.

Ông chỉ học cả hai và tạo ra công trình học thuật có thể được cả người trong và ngoài nước tôn trọng.

Thật lạnh lùng [Thật tuyệt!]. Và với tôi nó dường như là một lối đi hay để xuyên qua những thực thể tri thức không bình đẳng trong thế giới phẳng của chúng ta.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/09/the-nidhi-model-in-our-flattening-world/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: