Phản hồi những bình luận của Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor

4 Dec

Phản hồi những bình luận của Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor

By Liam C Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi muốn chân thành cảm ơn Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor vì đã dành thời gian đọc và bình luận bài viết của tôi, “Hồng Bàng thị truyện như một truyện thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại”. Một độc giả ẩn danh của bài viết đã chỉ ra rằng chủ đề này bị bỏ qua trong một thời gian dài vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Như những bình luận của cả hai vị học giả đã làm rõ, điều đó không phải bởi có ít cái để nói về chủ đề này. Ngược lại, có rất nhiều điều có thể và vẫn cần phải nói đến. Vấn đề là tìm một cách thức hiệu quả để làm điều đó.

kelley_liam[PGS. TS Liam Christopher Kelly]

Từ cuối thập kỉ 1950 đến đầu thập niên 1970s, có nhiều vấn đề có liên quan đến cổ sử Việt Nam đã được các học giả người Việt, Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Hoa thảo luận. Như Tạ Chí Đại Trường, Keith Taylor và tôi đều chỉ ra bằng những cách thức khác nhau, những tranh cãi này đã kết thúc trên quy mô rộng ở thập kỉ 1970s, nhưng vẫn để lại nhiều điều chưa được nói. Ngày nay, sau khoảng 30 năm, quay trở lại những vấn đề này là không dễ. Ở Việt Nam, chính trị và chủ nghĩa dân tộc, giữa các nhân tố khác, đã làm tất cả nhưng lại đi vào ngõ cụt. Ở Mỹ, kiểu học thuật dựa vào ngữ văn học cần thiết cho việc quan tâm đến chủ đề này đã trở nên lạc hậu và số người can dự vào kiểu học thuật này bị hạn chế(1). Tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng nhiều nhà xuất bản ngày nay có thể hứng thú với việc xem xét một bản thảo đặt lên bàn họ như kiểu cuốn Việt Nam khai quốc của Keith Taylor, với 15 phụ lục kèm theo văn bản 300 trang. Tuy nhiên, cực kì khó tìm thấy một cách nào tốt hơn để đối phó với những sự phức tạp của chủ đề này, đặc biệt là với tất cả những vấn đề liên quan với nó và những tranh cãi bên trong.

Với những vấn đề như vậy trong tâm trí, khi tôi viết bài báo này, tôi cố gắng một cách thận trọng để  tìm một cách thức nhắm vào những vấn đề cốt lõi nào đó bằng một cung cách hạn chế và tập trung. Tôi cố viết một bài báo mà độc giả không quen thuộc với những chi tiết vụn vặt của cổ sử Việt Nam vẫn có thể theo dõi, và là một bài báo không cố gắng bao phủ toàn bộ các vấn đề cần được trở lại. Một số trong những chủ đề đó hàm chứa những ý tưởng của Jean Przyluski, người mà Keith Taylor đã đề cập đến, và có công trình mà các học giả tập trung vào các khu vực và các vấn đề khác hơn là vào Việt Nam và các truyền thống của nó đã phê phán(2). Tôi quyết định, giải pháp là phải tập trung vào một văn bản đơn lẻ quan trọng và cố gắng chứng minh rằng văn bản này không chứa những thông tin đã được truyền lại từ thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên, và rằng, do đó nó không nói về các thủ lĩnh có thực từ giai đoạn đó. Vấn đề rõ ràng tiếp theo cần xem xét là tại sao những thông tin đó lại được tạo ra vào thời trung đại. Điều này rõ ràng là một trong những vấn đề mà Tạ Chí Đại Trường đã chỉ ra trong tiểu luận của ông, và tôi rất cảm ơn ông vì đã hoàn thành việc đó(3).

Tạ Chí Đại Trường đã cung cấp một số thông tin cốt lõi về cái mà tôi cho là những nghiên cứu tiếp theo cần được định hướng. Giữa chúng, nên chăng là một nghiên cứu đào sâu hơn vào bối cảnh lịch sử mà ở đó những văn bản này được sản sinh và bối cảnh mà dựa vào đó các thế hệ học giả cũng như các nhân vật chính trị sau đó đã thao túng các thông tin về “Hùng vương” vì nhiều mục đích khác nhau. Điều này là nơi, cái mà Taylor gọi là “sự hỗn độn của đời thực”, cần được đưa [hướng nghiên cứu đó] vào áp dụng. Và trên thực tế, tôi nghĩ đời sống ở Việt Nam thời trung đại, không phải đề cập đến Việt Nam của những năm 1950s-1970s, hoàn toàn hỗn loạn.

Tôi nhận ra rằng chủ điểm có giới hạn của bài tiểu luận có thể đã dẫn ai đó đến ức đoán rằng tôi nghĩ những câu chuyện như “Hồng Bàng thị truyện” là, theo thuật ngữ của Taylor, “những động thái thuần túy tưởng tượng hay sự mơ màng tối tăm tách biệt”. Nhưng trên thực tế, không gì có thể tách xa sự thực, và tôi đáng bị khiển trách vì không làm cho điều đó trở nên rõ ràng hơn. Thay vào đó, tôi cho rằng nhiều câu chuyện từ giai đoạn này dứt khoát có liên hệ với các vấn đề đời sống hiện thực, như sự ngoại biên hóa và sự thống trị.

Tạ Chí Đại Trường lưu ý rằng trong một nguồn tư liệu có tên An Nam chí nguyên chứa các tư liệu tồn tại suốt thời Minh thuộc ở đầu thế kỉ XV, người Hoa thời Minh lưu ý đến sự tồn tại của “Cung Lạc Vương” và một vị thần Núi Tản Viên có tên Mỵ Nương, con gái của Hùng vương. Đoạn văn về Cung vua Lạc như sau:

Một ghi chép cũ nói rằng, “Xưa chưa có quận huyện, đã có Lạc điền. Chúng theo thuỷ triều lên xuống. Người ta cấy cày ruộng đó gọi là Lạc dân. Người quản lĩnh ruộng đó gọi là Lạc vương. Những người giúp rập gọi là Lạc tướng. Họ đều đeo ấn đồng và dây thao xanh. Nước đó gọi là Văn Lang. Phong tục khá thuần phác, và sự cai trị là bằng cách thắt nút dây(4). Sauk khi truyền được 18 đời thìThục vương tiêu diệt. Nay nền cũ cung vua Lạc vẫn còn”(5).

Điều thú vị về đoạn văn này là ở chỗ nó có vẻ như cho thấy một “truyền thống về Hùng vương: trong quá trình sáng tạo thời trung đại của nó. Đoạn văn bắt đầu cơ bản bằng cách dẫn theo văn bản sớm hơn, Giao Châu ngoại vực chí, văn bản mà dĩ nhiên là không đề cập gì đến HÙng vương. Rồi sau đó nó đưa vào các thông tin rốt cuộc trở nên gắn bó với truyền thống Hùng vương trong suốt thời trung đại, chẳng hạn như quốc hiệu Văn Lang và 18 đời kế trị của các thủ lĩnh. Nói khác đi, có vẻ như người Việt trong thời trung đại đã bắt đầu sáng tạo ra một truyền thống Lạc vương, và rồi sau đó, ở một thời điểm nào đó, có lẽ là ở thế kỉ XV, nó trở thành [truyền thống] Hùng vương.

Đồng thời với những tàn tích của Cung vua Lạc, lại ngay trong văn bản đó cho chúng ta biết rằng ở Núi Tản Viên có một vị thần gọi là Mỵ Nương, được cho là con gái của Hùng vương. Đoạn văn này sau đố tiếp tục nói về cái mà ngày nay t rở thành câu chuyện nổi tiếng ở Việt Nam về việc Hùng vương kén rể cho con gái và tổ chức một cuộc thi tài trong đó Sơn Tinh đã đánh bại Thủy Tinh và đón tân nương về sống trên núi Tản Viên. Văn bản này, được biên soạn từ các nguồn mà người Hoa thời Minh đã thu thập trong giai đoạn xâm lược, rồi tiếp tục lưu ý rằng “Mị Nương cũng là một linh quái. Bà thường hiển thân thành một nguời phụ nữ tóc dài, mặc áo choàng dài, và trông giống một mĩ nhân”(6).

Thông tin này về Mị Nương xuất hiện ở đoạn cuối của An Nam chí nguyên trong một mục về “những ghi chép tạp nhạp” (tạp chí), và một cuốn địa phương chí được trích lẫn làm nguồn tư liệu. Trong khi đó, thông tin về Cung Vua Lạc xuất hiện ở giữa văn bản ở một phần có nội dung kính cẩn về “những di tích xưa” (cổ tích). Kể từ đây, người Trung Hoa viết văn bản này đã đặc trưng hoá thông tin về Mỵ Nương, Hùng Vương, và Núi Tản Viên thành cái gì đó ngoài lề và xa lạ. Các mục từ viết về núi Tản Viên trong Đại Việt sử kí toàn thư cũng cho một cảm giác tương tự. Một mặt, chúng ta thấy rằng các thủ lĩnh Việt Nam cổ xưa rõ ràng nghĩ núi Tản Viên sở hữu một dạng lực lượng siêu nhiên. Trong suốt đợt mưa không ngớt năm 1073, chẳng hạn, Hoàng đế Lý Nhân Tông đã cho rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân lên kinh đô nhờ đó ông có thể tìm kiếm sức mạnh của nó nhằm cầu cho trời tạnh, và cũng dâng cúng lên Núi Tản Viên. Rồi vào năm 1145, một ngôi đền được dựng ở núi Tản Viên. Mặt khác, sau những mục từ ở Toàn thư, chúng ta lại thấy những sự đề cập khác về khác đến Núi Tản Viên có nói đến “dân man” sống xung quanh đó. Năm 1207, “dân man miền núi” Tản Viên cướp bóc các làng trong khu vực, và năm 1226, họ đánh nhau với những dân man lân cận.

Ai là những dân man đó? Khó mà nói chính xác, nhưng cần lưu ý rằng cái tên Mị Nương là thuộc gốc Tai. “Mae nang” trong ngữ tộc Tai chỉ “quý bà” hoặc “công chúa”. Tuy nhiên, nó là một khái niệm có vẻ như đã được vay mượn bởi những người mà ngày nay chúng ta phân loại là những người nói tiếng Việt cũng như tiếng Mường [Việt-Mường]. Những người này là một bộ phận của thế giới đa sắc tộc và đa ngôn ngữ ở khu vực Đồng bằng sông Hồng rộng lớn hơn trong suốt thời kì trung đại, và tôi cho rằng những người viết Lĩnh Nam chích quái liệt truyện là bộ phận của một nhóm đang nỗ lực kiểm soát thế giới phức tạp và hỗn loạn đó. Đồng thời khi họ làm như vậy, họ dường như đã ngoại biên hóa những nhóm cư dân nào đó mà họ cho là những “dân man”. Tuy nhiên, trong quá trình đó, có lẽ họ cũng đề cao những vị thần nhất định mà những “dân man” kia thờ phượng, và rồi sáp nhập một số câu chuyện hay motif về những vị thần đó vào những câu chuyện mới mà họ tạo ra về những quyền lực mà họ đã thuần hóa. Theo quan điểm này, tôi băn khoăn liệu có phải quan niệm coi Mị Mương như một linh quái trong một văn bản thời Minh là tàn dư của một giai đoạn trước khi người Việt sáp nhập “người man” ở Núi Tản Viên vào địa hạt của họ, khi mà họ biết vị thần này nhưng miêu tả nó bằng những khái niệm tiêu cực khi họ cố ngoại biên hóa và sau đó thống trị người dân ở khu vực ấy. Trong bất kì trường hợp nào, tôi đồng ý với Keith Taylor rằng chúng ta cần phải nhìn vào “cái cách văn hóa được tạo ra bởi sự tương tác giữa những câu chuyện của giới tinh hoa và phi-tinh hoa”, nhưng tôi muốn thêm rằng chúng ta cũng cần phải xem xét vai trò của quyền lực trong những tương tác này, vì có vẻ như không phải mọi sự tiếp xúc giữa giới tinh hoa và phi tinh hoa đều luôn hữu nghị.

Đây là một số quan điểm của tôi. Liệu chúng có giống với quan điểm của Nguyễn Phương như Keith Taylor gợi ý? Không thực sự. Cả Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor đều đưa ra những nhận định tích cực về công trình học thuật của Nguyễn Phương, và những bình luận này được cam đoan. Tuy nhiên, họ không đề cập đến quan điểm chính của Nguyễn Phương. Vâng, Nguyễn Phương chia sẻ với tôi niềm tin rằng những câu chuyện về Hùng vương được sáng tạo ra và rằng Liễu Nghị truyện là một nguồn quan trọng để tạo ra những câu chuyện ấy. Tuy vậy, lập luận chính của Nguyễn Phương về cổ sử Việt Nam là người Việt di cư đến Việt Nam từ Trung Quốc trong những thế kỉ đầu sau Công nguyên và do đó họ khác với những người “Indonesian” đã định cư ở khu vực Đồng bằng sông Hồng(7). Vì vậy, theo Nguyễn Phương, những người tạo ra trống đồng Đông Sơn không phải là người Việt, cũng không phải là chị em bà Trưng. Người Việt, hay sự thực ông gọi là “người Hoa”, đến muộn hơn. Như ông giải thích “dân cư người Hoa, chỉ là một thiểu số lúc ban đầu, trở thành đa số sau những thế kỉ thực dân, và cuối cùng những người định cư ở các làng quê trong toàn bộ vùng lãnh thổ đó là người Hoa”(8).

Rốt cuộc, những gì Nguyễn Phương làm là một gắn sinh học với văn hóa. Ông thấy rằng những người được nói đến ở thế kỉ X khác với những người được mô tả trên trống đồng ở thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên, và ông quy sự thay đổi này cho sự xuất hiện của cư dân mới đến từ Trung Quốc. Khỏi phải nói, công trình học thuật của Nguyễn Phương càng được biết đến nhiều hơn, nó hẳn càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên, sự tiếp cận của ông đã bù đắp cho những gì tư tưởng của ông còn thiếu. Nguyễn Phương bị buộc tội là “lập dị”, “phi dân tộc”, và thậm chí “vô chánh trị”. Tuy nhiên, tôi muốn đồng ý với một trong những người nhận xét về ông rằng cái thực sự làm nên đặc trưng Nguyễn Phương là sự “duy lí khô khan” của ông(9). Nguyễn Phương cố gắng vô tư khi khảo sát quá khứ bằng một cung cách logic. Nếu nhiều học giả hơn nữa chọn cách tiếp cận này lúc bấy giờ, thì bất kể những gì Nguyễn Phương lập luận, hiểu biết của chúng ta về cổ sử Việt Nam ngày nay có lẽ đã rất khác.

Tuy nhiên, những sự kiện lịch sử rộng lớn hơn đã ngăn chặn điều này xảy ra. Kết quả là nhiều học giả không thể khảo sát cổ sử Việt Nam với sự “duy lí khô khan” đó. Sự nghiệp của Tạ Chí Đại Trường với tư cách một nhà sử học bị cắt ngắn bởi cuộc chiến tranh Đông Dương lần 2. Các học giả ở miền Bắc chịu sức ép từ chính phủ của họ buộc phải “chứng minh” sự tồn tại của Hùng vương trong suốt cao trào của cũng cuộc chiến đó. Rồi trong những năm cuối của cuộc chiến và trong những năm tiếp ngay sau đó, cũng như trong một môi trường công sở yêu thích việc lật đổ học thuật thực dân và tạo ra một khoảng trống cho ĐÔng Nam Á học, Keith Taylor, phục vụ ở Việt Nam như một người lính, đã nghiên cứu và viết luận án của mình, sau này trở thành cuốn Việt Nam khai quốc [The birth of Vietnam].

Ngày nay khi tôi nhìn lại nền học thuật của giai đoạn ấy, sự yếu kém của nó không khó nhận ra. Sự đầu tư cá nhân của các học giả vào các công trình của họ lúc bấy giờ, tuy vậy, cũng rõ rệt. Điều ấy, tôi cho rằng, là một nhân tố khác đã dẫn đến sự sao nhãng chủ đề này trong các thập kỉ gần đây. Cuộc đời của những học giả như Tạ Chí Đại Trường, Keith Taylor và nhiều người khác ở Việt Nam ngày nay gắn chặt với tác phẩm của họ. Tìm một con đường để gỡ rối cho học thuật đến từ nền học gần đây và từ cuộc đời của cá nhân các học giả, để từ đó sự “duy lí khô khan” có thể được áp dụng vào đó một lần nữa, là không dễ dàng. Tôi cực kì cảm tạ Tạ Chí Đại Trường và K eith Taylor vì đã làm vậy ở đây. Và giống như người bình luận ẩn danh mà tôi đề cập đến ở phần đầu của tiểu luận ngắn gọn này, tôi hi vọng rằng một ngày gần đây các học giả ở Việt Nam sẽ bắt đầu làm thế.

LIAM C KELLEY là Phó Giáo sư về Lịch sử Đông Nam Á ở Đại học Hawai’I at Manoa. Tác giả muốn tỏ lời cảm ơn đến những nhà phê bình ẩn danh, Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor vì những góp ý và sự sáng suốt của họ.

Chú thích

  1. Nhân đây, tôi muốn cảm ơn Keith Taylor vì đã chỉ ra sự phức tạp của khái niệm “Nhân Hoàng”, với nghĩa “Vua Người”. Có rất nhiều truyền thống liên quan đến Nhân Hoàng. Người ta có thể thấy Nhân Hoàng chỉ một vị thủ lĩnh đơn lẻ, là một thủ lĩnh nằm trong chín anh em, là một tộc của chính an hem. Steven Sage, viết về mối liên hệ tưởng tượng giữa khu Tứ Xuyên và các vị thủ lĩnh Trung Hoa trong huyền thoại cổ mà chúng ta thấy trong Hoa Dương quốc chí, khẳng định rằng “Khởi đầu là Nhân Hoàng, một trong chín người anh em, chia lãnh thổ ra làm chín châu (cửu vực), kế vị Địa Hoàng. Xem Steven F.Sage. Tứ Xuyên cổ và sự nhất thống của Trung Hoa (Ancient Sichuan and the Unification of China) (Albany: State University of New York Press, 1992), 11. Do nhu cầu giản hoá, tôi chọn theo Sage nhưng bỏ bớt chỉ dẫn về những người anh em trai. Công trình của ông là nghiên cứu cơ bản về Tứ Xuyên cổ và là một nguồn tư liệu logic cho những ai muốn tư vấn cho bất cứ ai có ước muốn tìm hiểu thêm về Tứ Xuyên và Hoa Dương quốc chí. Tôi ngờ rằng một quyết định như thế sẽ làm giảm độ tin cậy trong công trình ngữ văn của mình, hoặc trong công trình của Steven Sage.
  2. Xem, chẳng hạn, Richard B.David, Siêu hình học Muang: Nghiên cứu về huyền thoại và Nghi lễ miền Bắc Thái Lan (Muang Metaphysics: A Study of Northern Thai Myth and Ritual) (Bangkok: Pandora, 1984), 2006 và Judy Ledgerwood, “Tính tương đồng Khmer: huyền thoại mang tính mẫu hệ/nữ hệ” (“Khmer Kinship: the Matrilinly/Matriarchy Myth,” Journal of Anthropological Research, 51, số 3 (mùa thu 1995): 251.
  3. Đây là một vấn đề mà Tạ Chí Đại Trường cũng đã khảo sát kĩ càng hơn nhiều trong cuốn sách của ông, Thần, người và đất Việt ([Spirits, People and the Land of the Việt) (Westminster: Văn nghệ, 1989).
  4. Có những mã từ cho thấy xã hội tiền văn tự.
  5. Nguyên văn: “昔未有郡縣時有雒田,隨潮水上下,墾其田者為雒民,統其田者為雒王,副貳者為雒將,皆銅印青綬,號文郎國,以純樸為俗,結繩為治,傳世十八,為蜀王所滅。今雒宮故址猶存.”Xem Léonard Aurousseau, biên tập, An Nam chí nguyên – Ngan-nam tche yuan [Annan zhiyuan](Hà Nội: École Française d’ExtrêmeOrient, 1923), 136.
  6. Như trên, tr.254-255. Trích dẫn trang 255.
  7. Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh[Vietnam at the Time of Its Birth] (Huế: Phòng Nghiên Cứu Sử,Viện Đại Học Huế, 1965).  Tham luận hội thảo ông trình bày ở Hồng Công năm 1964, “Nguồn gốc Trung Hoa của người Việt”(Chinese Origin of the Vietnamese People,” mà Tạ Chí Đại Trường đề cập trong tiểu luận của mình, được đính vào cuốn sách này, và là một bản tóm tắt súc tích những ý tưởng của Nguyễn Phương bằng tiếng Anh.
  8. Như trên, tr.344.
  9. Bùi Hữu Sủng, “Di tích Lạc Việt trong xã hội Việt Nam”[Traces of the LạcViệt in Vietnamese Society], Bách Khoa [Encyclopedia] 201 (1965):28.

Nguồn: Liam C. Kelley, “Response to the Commentaries by Tạ Chí Đại Trường and Keith Taylor”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp. 163-169

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: