Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (I)

7 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (I)

Liam C Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Dẫn nhập

Năm 1479, sử gia Việt Nam Ngô Sĩ Liên soạn cuốn Đại Việt sử kí toàn thư (từ đây gọi là Toàn thư). Dựa vào 2 công trình sử trước đó, một được phác thảo ở thế kỉ XIII, và một được soạn trước khi Ngô Sĩ Liên làm sách của mình một chút, Toàn thư là công trình lịch sử đầu tiên của Việt Nam bắt đầu nói về thời viễn cổ và thảo luận về các nhân vật và sự kiện ở Đồng bằng sông Hồng trước khi có sự cai trị của Trung Hoa tại đây. Đặc biệt, Toàn thư chép rằng trước khi nhà Tần sáp nhập khu vực này vào đế quốc của nó năm 111 trước Công nguyên, đã từng tồn tại một nước gọi là Văn Lang, cai trị bởi các nhân vật được biết đến với danh xưng Hùng vương. Toàn thư cũng miêu tả phạm vi địa lí của nước Văn Lang và chú thích rằng, trước tiên sau khi vua Hùng đời thứ nhất lên ngôi, ông đã:

置相曰貉侯,將曰貉將…王子曰官郎,王女曰媚娘。有司曰蒲正,世世以父傳子,曰父道。世主皆號雄王。

“…. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (…). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, đó gọi là con đường của người cha [phụ đạo]. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương”[1]

Tôi đã phiên âm tiếng Việt cho một số chữ trong đoạn văn này, hơn là dịch thẳng từ Hán văn cổ trong nguyên bản, bởi với bất cứ ai quen với ngôn ngữ đó, rõ ràng chúng không phải là các khái niệm Hán cổ chuẩn mực. Trên thực tế, có một cái gì đó xa lạ với những thuật ngữ này, và nếu chúng ta sẵn lòng tin Ngô Sĩ Liên rằng những từ ngữ đó đã được dùng 2000 năm trước khi ông viết sử, thì rõ ràng tính xa lạ của những thuật ngữ này là kết quả của tính chất cổ xưa của nó.

Dù vậy, làm thế nào Ngô Sĩ Liên biết được các chức danh đã tồn tại 2000 năm trước đó? Đây là câu hỏi dường như đã không gợi được sự quan tâm của các học giả ở Việt Nam trong hàng trăm năm sau khi thông tin này được ghi chép. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi trong nửa cuối của thế kỉ XX khi các học giả người Việt ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (DRV), hay Bắc Việt, cố gắng tạo ra một lịch sử mới cho đất nước họ ở thời hậu thuộc địa. Trong giai đoạn thập niên 1950s và 1960s, các học giả DRV nỗ lực tạo ra một lịch sử thích hợp với những tiêu chuẩn của nền học thuật “khoa học”, và lịch sử đó đòi hỏi giải thích làm thế nào mà những khái niệm đó có thể xuất hiện trong một văn bản muộn hơn khoảng 2000 năm sau khi chúng được cho là đã từng được sử dụng.

Các học giả này lập luận rằng những khái niệm ấy đã được truyền miệng qua nhiều thế kỉ. Trong khi một số người biết rằng sự truyền miệng khó mà chính xác, tuy nhiên họ lại cố củng cố quan điểm của mình với những lí lẽ “khoa học”. Chẳng hạn, sử gia Trần Quốc Vượng, lưu ý đại khái rằng “Có một quy luật tâm lí là những gì nên quên thì đều bị quên, còn những gì được người ta lưu truyền và được ghi nhớ thì sẽ là kí ức sâu sắc([2]). Nhà ngôn ngữ học Hoàng Thị Châu trong khi đó lại có lưu ý cụ thể hơn liên quan đến những thuật ngữ này rằng trong khi thông tin có xu hướng thay đổi khi nó được truyền miệng, thì thực tế rằng những cái tên cổ xưa đã có một cảm giác xa lạ với chúng ở thời điểm mà Ngô Sĩ Liên ghi chép chúng vào thế kỉ XV là một tín hiệu cho thấy thông tin này đã được sưu tập một cách “khách quan” và được ghi chép lại bằng một phương cách “chính xác”([3]).

Các học giả Việt Nam lúc bấy giờ vì thế cho rằng những khái niệm đó dứt khoát có từ trước Công lịch, và đây là một quan điểm đã được duy trì rộng rãi. Hơn nữa, các học giả lúc bấy giờ còn cho rằng những thuật ngữ này bắt nguồn từ “tiếng Việt cổ” được cho là được dùng ở đồng bằng sông Hồng lúc bấy giờ. Như chúng ta sẽ thấy ở dưới, các học giả cho rằng tiếng nói cổ này là ngôn ngữ phổ biến mà ngày nay chúng ta thường cho là thuộc về các họ ngôn ngữ lai tạp như Mon-Khmer, Tai-Kadai, và Austronesian([4]). Gần đây hơn, tuy vậy, có một số học giả đã cho rằng những danh xưng ấy trước hết bắt nguồn từ tiếng Thái mà không giải thích rõ ràng tại sao những thủ lĩnh của một vương quốc cổ ở “Việt Nam” lại dùng các từ ngữ Thái([5]).

Tôi sẽ lập luận trong bài viết này rằng một số khái niệm rõ ràng có thể liên quan đến những từ ngữ được những người nói tiếng Thái sử dụng. Và trong khi có thể có thực tế là ở thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, có một số người “nói tiếng Tiền-Thái” sống ở đồng bằng Sông Hồng hay ít nhất là có tiếp xúc với người dân khu vực đó, tôi cũng sẽ lập luận rằng không có chứng cứ nào cho thấy những khái niệm trong Toàn thư đã dẫn ở trên xuất hiện từ thời đó. Thay vào đó, tôi sẽ khẳng định rằng chúng dường như có từ thế kỉ XV khi Ngô Sĩ Liên viết cuốn biên niên sử của mình. Tôi cũng sẽ xem xét xem vì sao Ngô Sĩ Liên đưa những khái niệm mà người nói tiếng Thái sử dụng vào công trình sử học của mình. Cuối cùng, tôi sẽ lập luận rằng sự thâu nhập các thuật ngữ đó là một chỉ dấu cho thấy sự thay đổi các mối quan hệ giữa người Việt và người Thái lúc bấy giờ, khi người Việt dần thống trị những láng giềng Thái của họ. Những từ ngữ này vì thế phản ánh cái nhìn của giới tinh hoa người Việt về chỗ đứng phù hợp của người Tai trong thế giới Việt ở thế kỉ XV.

Vài thế kỉ sau, ở nửa cuối thế kỉ XX, các học giả cũng dùng các từ ngữ Thái để biện luận cho một chỗ đứng của người Thái trong sử Việt. Chỗ đứng mà họ hình dung về người Tai, tuy vậy, rất khác với những gì Ngô Sĩ Liên đã đề xuất. Những khái niệm này do đó là chủ đề mà bài báo này sẽ khảo sát. Nó sẽ bao gồm cả sự khảo xét những cách các học giả sử dụng, đặc biệt là các học giả Việt Nam, để cố hiểu vị trí của người Thái trong sử Việt qua những khảo sát của họ về những từ ngữ Thái nhất định, và sau đó nó sẽ cố cung cấp một cách lí giải mới dựa trên cùng những chứng cứ ngôn ngữ đó.


[1] Ngô Sĩ Liên 吳士連, Đại Việt sửký toàn thư 大越史記全書 [Complete Book of the Historical Records of Đại Việt], (1697 biên tập.), A.3, Ngoại kỷ 1/3a.

[2] Trần Quốc Vượng, “Vềdanh hiệu ‘Hùng Vương’” [On the title, “Hùng king”], in Hùng  Vương dựng  nước[Hùng kings build the nation], vol. III (Hanoi: Khoa Học  Xã  Hộ i, 1973), 354.

[3] Hoàng ThịChâu, “Vài nét về tổchức của xã hội Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữhọc” [A few comments on the social organization of Văn Lang as seen from linguistic materials], in trong Hùng Vương dựng  nước [Hùng kings build the nation], Vol. 1 (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1970): 147.

[4] Chẳng hạn, xem Hoàng ThịChâu, “Tìm hiểu từ‘phụ đạo’ trong truyền thuyết vềHùng Vương” [Understanding the word “phụ đạo” in legends about the Hùng Kings], Nghiên cứu lịch sử, 102 (1967): 22-28.

[5] Điển hình, xem Hoàng Lương, “Historical Evidence and the Legacy of the Traditional Tai Socio-Political System in Vietnam,” (Chứng cứ lịch sử và di sản của hệ thống chính trị xã hội Thái truyền thống ở Việt Nam), Tai Culture, số 17 (2004): 43-47. Trong khi nói về những người nói tiếng Thái, các học giả Việt Nam sử dụng khái niệm “Tày Thái”. “Tày” chỉ một nhóm người nói các tiếng miền Trung Thái như Nùng, và những người sống dọc theo vùng biên giới Trung Việt ngày nay, trong khi “Thái” chỉ những người nói các ngôn ngữ miền Nam Thái, như Thái Đen, và sống ở vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay. Trong bài viết này, tôi dùng khái niệm “Thái” như một khái niệm chung chỉ những người nói bất kì ngôn ngữ nào trong họ ngôn ngữ Thái. Tuy nhiên, trong khi thảo luận công trình của các học giả Việt Nam, tôi sẽ đôi khi áp dụng các thuật ngữ của họ đặc biệt là khi họ phân biệt giữa Tày và Thái.

[Còn nữa]

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84

Tiếp theo:

Người Thái vùng ngoại biên trong quá khứ Việt Nam

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: