Bách Việt và sự thiếu vắng sử học hậu thuộc địa ở Việt Nam

8 Dec

Bách Việt và sự thiếu vắng sử học hậu thuộc địa ở Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Không lâu sau khi nhiều dân tộc bị thuộc địa toàn cầu giành được độc lập ở giữa thế kỉ XX, một số học giả bắt đầu lưu ý rằng nhiều nhiều cách chủ nghĩa thực dân vẫn tồn tại, và rằng nơi nó vẫn tồn tại là trong đầu óc người ta. Mặc dù người dân đã được tự do về chính trị, nhưng đầu óc họ vẫn bị thuộc địa.

Image

Trong suốt kỉ nguyên thuộc địa, những kẻ thực dân bắt kịp với những ý tưởng về dân thuộc địa và lịch sử của họ. Sauk hi kỉ nguyên thực dân kết thúc, người dân từ các nước thuộc địa trước đây “kháng cự” lại những kẻ thực dân trước đây bằng cách “viết lại” những gì những kẻ thực dân viết về họ.

Tuy nhiên, điều thú vị là trong khi “viết lại” để chống những ý tưởng mà những kẻ thực dân đã tạo ra, người dân thuộc địa cũ đã sử dụng chính những khái niệm mà những kẻ thực dân đã tạo ra, mà chỉ đơn giản là đảo ngược chúng lại, biến mình thành ưu việt còn những kẻ thực dân cũ thì thấp kém hơn.

Đây là hiện tượng mà các học giả gọi là “sự thực dân trong tinh thần”. Bởi vì người dân thuộc địa cũ vẫn dùng những khái niệm mà những kẻ thực dân trước đây đã tạo ra. Những người không thể vượt qua được những khái niệm mà những kẻ thực dân tạo ra vẫn đang “bị thuộc địa về tinh thần”.

Image

Một ví dụ tốt cho trường hợp này có thể thấy trong một bài báo cũ của Keith Taylor. Mặc dù Taylor không phải là thành viên của một dân tộc thuộc địa, tuy nhiên, một bài báo mà ông công bố năm 1980 là một ví dụ hoàn hảo của việc “viết lại” chống một kẻ thực dân bằng cách sử dụng những ý tưởng mà kẻ thực dân đó tạo ra.

Trong một bài báo có tiêu đề “Một đánh giá về thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam” ((Journal of Asiatic Studies 23, no. 1:139-63), Taylor phản ứng lại một tuyên bố mà Henri Maspero đã đưa ra ở đầu thế kỉ XX.

Maspero cho rằng trước khi người Hoa đến, người Việt đã không được thống nhất, và rằng chính người Hoa đã dạy cho người Việt cách thống nhất và xây dựng một nhà nước mạnh.

Taylor phản ứng quan điểm đó bằng cách nói về những nhân vật như Hùng vương để lập luận rằng đã từng tồn tại một truyền thống chính trị mạnh mẽ trước khi người Hoa đến, và rằng vì vậy người Hoa chẳng dạy người Việt cách thống nhất và tạo dựng một nhà nước mạnh.

Vậy là việc Taylor làm trong bài báo này là nắm lấy những ý tưởng mà Maspero đề xuất và phản bác lại chúng. Nhưng khi phản bác lại chúng, Taylor đã dùng chính những khái niệm mà Maspero đưa ra.

Maspero có đúng không? Liệu có lí không khi nói về một sự thống nhất chính trị cách đây 2000 năm? Hay phải chăng đó là một khái niệm không thực sự thích hợp với giai đoạn lịch sử đó? Có một quốc gia thống nhất mạnh mẽ ở bất kì đâu trên thế giới lúc bấy giờ không?

Có lẽ không, và dường như đây là điều mà Taylor đã rút ra được, bởi trong công trình gần đây viết về lịch sử Việt Nam, ông thậm chí còn không nói gì về Hùng vương.

history

Vậy thì làm thế nào một học giả có thể đi từ việc dùng Hùng vương làm chứng cứ để chống lại ý tưởng của Henri Maspero đến việc viết một cuốn sách về lịch sử Việt Nam trong đó không hề nói gì đến Hùng vương?

Tôi cho rằng cái đã xảy ra là Taylor đã “giải thực dân” đầu óc mình. Ông hẳn đã rút ra kết luận rằng những khái niệm mà Maspero dùng để xem xét quá khứ là không chính xác, và rằng vì vậy tốt hơn là nên bỏ qua những gì Maspero nói và bắt kịp với một cách nhìn mới về quá khứ, cách nhìn do chính ông tự tạo ra.

Đây là cái vẫn chưa xảy ra ở Việt Nam. Và gần đây khi đọc một số bài báo nơi tôi thấy người ta nói về “Bách Việt”, tôi có thể thấy rất rõ điều này.

Image

Khái niệm “Bách Việt” được sử dụng bởi một số người nào đó ở khu vực mà ngày nay gọi là Trung Hoa hơn 2000 năm trước để chỉ những người sống ở phương Nam. Người “Trung Hoa” lúc bấy giờ xem “Bách Việt” là “mọi rợ”.

Ngày nay có những người Việt đang “viết lại” để chống cái nhìn này, và họ đang lập luận rằng “Bách Việt” thực sự bằng nhiều cách khác nhau là “văn minh” hơn về nguồn gốc so với “người Hoa”.

Đây là một ví dụ kinh điển của kiểu học thuật được tạo ra bởi những người bị thuộc địa về tinh thần. Những học giả này làm học thuật để bác lại những tuyên bố mà người Trung Hoa đã đưa ra cách đây hơn 2000 năm. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ đã dùng chính những khái niệm và phạm trù tinh thần mà người Hoa đã dùng hơn 2000 năm trước.

Điều khác biệt duy nhất là họ đảo ngược tầm quan trong của những phạm trù đó, và cho “Bách Việt” là quan trọng còn “người Hoa” thì không. Nhưng họ vẫn đang dùng chính các phạm trù mà “người Hoa” tạo ra.

Đây là sự thuộc địa về tinh thần, và đó là kiểu học thuật Hoa tâm. Khi bạn nắm lấy những ý tưởng Trung Hoa và đảo ngược chúng, bạn vẫn đang sử dụng các ý tưởng Trung Hoa, và học thuật của bạn do đó vẫn mang tính Hoa tâm.

Chỉ khi bạn vượt qua những khái niệm và phạm trù mà người khác tạo ra, lúc đó bạn mới trở nên độc lập thực sự. Đây là điều mà các nhà sử học Việt Nam vẫn chưa hoàn thành.

Cho đến nay, như tôi được biết, chưa có lí thuyết gia hậu thuộc địa người Việt nào xuất hiện. Không giống như ở Ấn Độ và ở Thái Bình Dương nơi lí thuyết hậu thuộc địa đã phát triển rất tốt, ở Việt Nam, đây vẫn là vùng đất chưa được khám phá.

Kết quả là, những cái đầu thuộc địa tiếp tục sản sinh ra học thuật thuộc địa. Bằng cách đảo ngược lại những gì thực dân đã nói, họ nghĩ rằng họ đang làm cái mới, nhưng bằng việc đi theo chính những khái niệm do những kẻ thực dân tạo ra, họ vẫn bị thuộc địa về tinh thần và học thuật của họ vẫn mang tính thuộc địa.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/12/08/the-bach-viet-and-the-absence-of-postcolonial-history-in-vietnam/

Advertisements

10 Responses to “Bách Việt và sự thiếu vắng sử học hậu thuộc địa ở Việt Nam”

  1. Winston Phan December 9, 2013 at 10:15 pm #

    Thưa giáo sư Kelley, tôi rất đồng ý với lập luận của giáo sư là người Việt quả đã dùng học thuật của Trung Quốc để viết lại lịch sử mình! Nhưng cũng khó mà trách họ vì đó là tất cả những gì họ biết! Nếu không dùng phương pháp đó thì dùng phương pháp nào khác đây? Việt Nam đâu phải là vùng có nhiều nền văn hóa giao tiếp để có thể tiếp thu một nền văn minh hay học thuật khác một cách dễ dàng! Nhất là sau 1000 năm Bắt thuộc.

    Điểm thứ hai mà tôi muốn bàn là chữ dùng của giáo sư: “thực dân” “hậu thuộc địa” hình như là những từ mà người Việt dùng để chỉ người Pháp hơn là người Tàu (Hoa). Vì vậy, nếu dùng những từ này thì ta nghĩ ngay đến thời gian gần đây hơn là thời trung đại của các ông Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu … Và do vậy, sự so sánh giữa “hậu thuộc địa VN” với một “hậu thuộc địa Ấn Độ” có chính xác chăng?

    W. Phan

    • leminhkhai December 10, 2013 at 6:06 am #

      Cảm ơn bạn!! Tôi xin giải thích một chút.

      Tôi nghĩ rằng học giả VN bây giờ đang đối diện với một vấn đề rất to lớn. Một mặt, họ muốn “hội nhập vào thế giới,” nhưng mặt khác họ không thích những gì các học giả Bắc Mỹ nghĩ.
      Hơn năm mươi năm qua, khoa học phát triển mạnh mẽ ở Bắc Mỹ, đồng thời nó suy thoái ở Pháp và Liên Xô/Nga. Như vậy có rất nhiều thứ mà học giả ở Bắc Mỹ đã nghiên cứu rồi, và khoa học đã tiến bộ rất nhiều, nhưng học giả ở Nga và Việt Nam không biết đến (người Pháp biết nhưng 1) nhành sử học ở Pháp bảo thủ một chút, và 2) không có nhiều người làm sử ở Pháp như ở Mỹ).
      Như vậy học giả VN hội nhập vào thế giới của học gỉa Pháp và Nga không khó, nhưng hòa nhập vào thế giới của học gỉa Bắc Mỹ thì khó lắm.
      https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2013/04/20/su-hoc-viet-nam-hoi-nhap-voi-cai-gi/

      Nhưng học gỉa VN chỉ nói về sự “hội nhập vào thế giới” thôi. Nếu đây là thật thì xin lỗi nhưng học giả VN phải chịu khó và cố gắng học những gì mà học giả ở Bắc Mỹ đã nghiên cứu trong 50 năm qua. Nhưng nếu không muốn “hội nhập vào thế giới” đó thì cứ nói đi!! Không sao đau.
      Nhưng không được nói “muốn hội nhập” và sau đó khi nghe những gì không thích thì nói không thay đổi được bởi vì có 1000 năm Bắt thuộc v.v.
      Tôi gặp rất nhiều trường hợp như vậy ở VN. Rất là mâu thuẫn.

      Ở phương Tây có một nhành khoa học rất thịnh vào các tập kỷ 1980 và 1990 gọi là “nghiên cứu hậu thuộc địa” (post-colonial studies). http://en.wikipedia.org/wiki/Postcolonialism
      Nhành khoa học này bao gồm nhiều điều, nhưng mục đích chính của nó là để kiểm tra ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.
      Bạn nói “khó mà trách họ vì đó là tất cả những gì họ biết” – đây chính là một vấn đề mà những học giả ở nhành nghiên cứu hậu thuộc địa đã nghiên cứu rất nhiều, bởi vì những người mà đã bị thuộc địa cũng vậy.
      Ở trong bài này tôi sử dụng lý luận của học gỉa nghiên cứu hậu thuộc địa để xem ý tưởng của Keith Taylor và một số học giả ở VN bởi vì tôi nghĩ rằng tư tuỏng của họ rất giống tư tưởng của những người mà đã bị thuộc địa.
      Ở trong những học gỉa nhành nghiên cứu hậu thuộc địa có rất nhiều học gỉa Ân Độ. Nếu đọc bài nghiên cứu của họ sẽ hiểu ngay Ân Độ và VN 100% so sánh được.

    • Hoa Quoc Van December 10, 2013 at 12:15 pm #

      GS Kelley dùng những khái niệm này cho cả thời cổ trung đại và hiện đại. Chúng ta thường hiểu “thuộc địa”, “thực dân”,v.v… hơi hẹp. Ở thời cổ trung đại, về bản chất cũng có những hiện tượng đó, cho nên không nên lấy làm lạ về điều đó, và không vì ta chưa có mà cho rằng những khái niệm đó không chính xác. Có lẽ điều chúng ta cần làm là học hỏi nhiều hơn nữa. Các ý tưởng của GS Kelley là một “kênh” để chúng ta nhìn ra xem các học giả phương Tây họ đang làm gì, nghĩ gì, nghiên cứu như thế nào… Đây cũng là mục đích tôi dịch những bài của GS. HQV

      • leminhkhai December 10, 2013 at 3:25 pm #

        Cảm ơn bạn Hoa Quốc Văn. Những gì tôi viết ở trên chắc không rõ làm. Vấn đề là thế này – rất khó dịch một bài nói về khoa học ở phương Tây sang tiếng Việt. Nếu dịch các từ ở trên bài tiếng Anh sang tiếng Việt thì có thể dịch được, nhưng đọc gỉa sẽ không hiểu bởi vì đọc gỉa không quen với những tư tưởng hay là lý thuyết các ở trên bài tiếng Anh nhắc đến.

        Tất nhiên bạn biết cùm từ “hậu thuộc địa” có ý nghĩa “sau thuộc địa,” nhưng ở phương Tây khi học gỉa nghe hay đọc cùm từ đó họ sẽ nghĩ đến một nhành khoa học chuyên môn về việc nghiên cứu chủ nghĩa thực dân và ảnh hưởng của ảnh chủ nghĩa thực dân. Và cũng sẽ biết những lý luận và lý thuyết học gỉa ở nhành khoa học này đã đặt ra có khi có thể sử dụng để nói về những trường hợp khác.

        Có những người sẽ nói thời xưa VN bị TQ thuộc địa. Tôi không đồng ý bởi vì nghĩ rằng điều kiện 2000 năm trước rất khác với thế kỷ 19 và 20 khi VN bị Pháp thuộc địa. Nhưng có khi có thể nghìn thấy khái niệm mà người TQ thời xưa tạo ra có một ảnh hưởng ở trong óc của học gỉa VN rất giống ảnh hưởng của khái niệm kẻ thực dân tạo ra có ảnh hưởng ở trong óc của học gỉa ở những nước mà đã bị thuộc địa.

        Tức là ở hay trường hợp, người ta không thóat ra được cách suy nghĩ của người trước. Và nếu theo cách lý thuyết của học gỉa ở nhành nghiên cứu hậu thuộc địa, vấn đề này không đơn giản chỉ là vì người ta quen với các khái niệm này mà là vì các khái niệm này có liên quan đến sự uy quyền.

        Thời xưa đối với học gỉa VN tư tưởng của người TQ có uy tín nhiều nhất. Đầu thể ký 20 thì trờ thành tư tưởng của người Tây có uy tín nhiều nhất, nhưng tôi nghĩ rằng sự uy tín của các khái niệm TQ vẫn còn.

        Theo cách lý thuyết của học gỉa ở nhành nghiên cứu hậu thuộc địa, bởi vì sự uy tín của kiến thức kẻ thuộc địa rất mạnh, mặc dù người thuộc địa chống lại kẻ thuộc dân, khi chống lại họ sẽ sử dụng khái niệm/tư trưởng của kẻ thuộc dân để chống lại.

        Ví dụ, có những nước Tây lấy lý do có những nước “chưa văn minh” để làm cho nhỡng nước ấy thuộc địa của mình. Nhưng sau đó, khi có người chống lại kẻ thuộc dân Tây thì họ sử dụng khái niệm “văn minh” để chống lại (nói “mình văn minh rồi”), và bây giờ hầu như ở khắp mọi nơi trên thế giới khái niệm về “văn minh” rất liên quan đến khái niệm văn minh của người Tây.

        Các học gỉa ở nhành nghiên cứu hậu thuộc địa khuyến khích người ta suy nghĩ về hiện tượng này, và muốn người ta tự hỏi mình về kiến thức của mình. Có những khái niệm chắc là không thóat ra được, nhưng có cách suy nghĩ có thể thay đổi.

        Thời xưa khái niệm “Hoa Di” rất có uy tín. Người Việt nghĩ rằng mình là Hoa nhưng người TQ nghĩ rằng người Việt là Di. Tôi nghĩ rằng những người mà muốn nói người “Bách Việt” có “văn minh” trước người Hoa vẫn theo mô hình “Hoa Di” nữa. Họ chỉ làm nó ngược lại, và bây giờ Bách Việt là Hoa và Hoa là Di.

        Nhưng khái niệm này vẫn có uy tín không? Không thóat ra được không? Tôi nghĩ rằng thóat ra được, vì không có uy tín gì nữa đâu. 🙂

        • Hoa Quoc Van December 10, 2013 at 5:30 pm #

          Cảm ơn GS Kelley đã giải thích cho bản thân tôi và nhiều độc giả khác hiểu thêm về những khái niệm này một cách hết sức chặt chẽ, nghiêm nhặt theo đúng tinh thần học thuật phương Tây. Điều đó rất bổ ích để hiểu cả học thuật phương Tây lẫn cách nghĩ của các nhà khoa học phương Tây. Điều đó cũng đưa tôi đến một suy nghĩ rằng: Chừng nào “phương Đông” chưa thoát khỏi “uy quyền” học thuật phương Tây và xây dựng được nền học thuật tương đương về vị thế thì phương Đông vẫn còn “mental colonization” trong đầu khi tham gia tạo ra học thuật. Sự giải trung tâm hình như bao giờ cũng dẫn đến một sự hình thành trung tâm mới ở mức độ nào đó vì cấu trúc “tâm – biên” là hình thái tồn tại phổ biến của phần lớn các thực thể, trong đó có cả học thuật. Tâm hoá – giải tâm có lẽ không bao giờ kết thúc và đó là quy luật của cuộc sống thì phải?

          • leminhkhai December 10, 2013 at 7:10 pm #

            Câu hỏi rất tốt! Cảm ơn bạn Hoa Quốc Văn!!
            – Chừng nào “phương Đông” chưa thoát khỏi “uy quyền” học thuật phương Tây và xây dựng được nền học thuật tương đương về vị thế
            Nói thật, tôi không tin rằng có gì có thể gọi là “phương Đông” nữa. Ở thế kỷ 19 vẫn còn, vẫn còn những người ở “phương Đông” có thế giới quan (? không biết dịch “world view” thế nào) rất khác với người ơ “phương Tây,” nhưng bây giờ không còn nữa. Cho tôi xem bài nào của học gỉa nào ở “phương Đông” và tôi có thể giải thích kỹ nó khác với tư tưởng của người “phương Đông” thế kỷ 19 thế nào và đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây thế nào.
            Bây giờ không có Đông và Tây nữa, chỉ có thế giới thôi, nhưng mà. . . thế giới đó đã bị Tây hóa rôi. . . và không có ai thoát khởi được, giống như bao nhiều thế kỷ trước đây người ta ở “phương Đông” không thóat khởi “thế giới quan TQ” (the “Chinese world view” được).
            Bây giờ không có gì có thể thay thế “học thuật phương Tây” nữa bởi vì ai cũng tham gia “học thuật phương Tây” rồi. Bây giờ sự khác biết là giữ những người mà biết đến những tiến bộ trong giới khoa học mà đã có ở “một số nơi” từ khoảng năm 1960 đến 2000 và những người không biết đến. Từ năm 1960 đến 2000 có rất nhiều tiến bộ ở giới khoa học dặc biệt ở Bắc Mỹ, nhưng cũng ớ Anh và Ức và một ít ở nơi khác, nhưng phần lớn là ở “thế giới tiếng Anh”). Tôi nghĩ rằng cái quan trọng nhất là ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại.
            Giải thích chủ nghĩa hậu hiện đại là gì là quá khó, nhưng ảnh hưởng của nó có thể hiểu rất dễ dàng. Nó làm cho mỗi người tự hỏi: Tại sao tôi biết những gì tôi biết? Cách suy nghĩ của tôi lấy từ đâu? Đã chịu ảnh hưởng gì? Địa vị xã hội của tôi ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của tôi thế nào? Giới tính của tôi ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của tôi thế nào? vv có rất nhiều câu hỏi như vậy, nhưng tôi nghĩ rằng kết quả rất tốt bởi vì nó làm cho người ta suy nghĩ rõ hơn nhiều.
            Vậy thì bây giờ có những người ở trên thế giới đã trải qua kinh nghiệm này và có những người chưa, nhưng không phải sự khác biệt giữa Đông và Tây, vì có học gỉa ở “phương Tây” chưa biết đến các điều (ví dụ ở Nga) và có những người ở “phương Đông” biết giỏi rồi (ví dụ ở Đài Loan).
            Như vậy tôi nghĩ rằng không “xây dựng được nền học thuật tương đương về vị thế” được, chỉ được “tham gia học thuật thế giới,” và đối với khoa học gần đây (tức năm 1960-2000) Bắc Mỹ/Anh/Ức cũng là một bộ phận quan trọng của thế giới.
            Đối với vấn đề “tâm – biên,” tôi nghĩ rằng học gỉa tạo ra “tâm” khi sử dụng tính cảm ở trong khoa học của mình. Dân tộc chủ nghĩa dựa vào tính cảm nhiều vì mục đích của nó là làm cho mọi người có tính cảm với nhà nước. Như vậy nếu lịch sử chịu ảnh hưởng của dân tộc chủ nghĩa, dĩ nhiên nó sẽ tạo ra một “tâm” là nhà nước và dân tộc.
            Nhưng tôi có đồng nghiệp cũng dựa vào tính cảm khi viết về Đông Nam Á. Cái gì ở ĐNA cũng tốt nhất. Như vậy họ tạo ra một “tâm” là ĐNA.
            Để không làm như thế thì trước hết thì phải bỏ tính cảm đi và cố gắng chỉ sử dụng logic. Khi làm như vậy phải rất cẩn thận với ngôn ngữ. Những cùm từ như “nước ta,” “sử ta,” “Việt Nam,” vv đều có tính cảm. “Lịch sử đồng bằng sông Hồng thế kỷ” có ít tính cảm hơn và logical hơn.
            Để liên kết với nội dung của bài trên, nếu nói về “Bách Việt” trước hết phải hỏi minh, Tại sao tôi nghĩ rằng Bách Việt có thật? Bằng chứng là gì? Có những bài nghiên cứu về Bách Viết rồi không? Oh, có bài nay nói rằng cùm từ “Bách Việt” không giải thích sự thật mà là một cùm từ người “TQ” thời xưa đặt ra để nói chung về người “khác” mình thôi, và qua cùm từ này chúng mình không thể biết gì về tư tưởng hay là suy nghĩ của các người ấy.
            http://www.ihp.sinica.edu.tw/~asiamajor/pdf/2003a/03%20brindley.pdf%5D
            Bàng chứng của tắc gỉa là gi? Có nhiều người đồng ý với tắc giả này không? Là hợp lý hơn quan điểm của tôi?
            Nếu hỏi nhiều thế và cố gắng để biết những gì mà học giả này đã viết thì tôi nghĩ rằng người ta sẽ rất nghì ngờ về cùm từ này, và sẽ muốn tạo ra một khái niệm khác và hợp lý hơn để nói về quá khứ.
            Nhưng nết vẫn sử dụng, ngay sau khi sử dụng tính cảm với cùm từ đó và nói Bách Việt là giỏi hay tốt thì đã tạo ra một “tâm” nữa.
            Hỏi nhiều và bỏ tính cảm đi và học thuật sẽ tiến bộ.

            • Hoa Quoc Van December 11, 2013 at 6:02 am #

              Cảm ơn GS Lê Minh Khải! Quả thật, cho đến bây giờ tôi cũng chưa hình dung được có nền học thuật nào có thể thay thế, hay vượt qua được học thuật phương Tây (đặc biệt là thế giới nói tiếng Anh), bằng chứng là mọi người ở mọi nơi trong đó có bản thân tôi đang phải cố để học tiếng Anh và nắm được phần nào thế giới đó; và tôi nghĩ điều quan trọng là vì phương Tây có “tự do học thuật” nên luôn có thể tự làm mới mình và tiệm cận dần với khoa học đích thực. Nhưng hãy thử hình dung, ở thế kỉ XIX, các học giả (phương Tây) cũng nói không gì có thể thay thế được; hay lùi hơn một chút ở thế kỉ 18 các học giả nhà Thanh cũng nói không có gì thay thế được (Hán học); rồi tất cả cũng đều được thay thế bằng cái mới hơn. Chỉ có điều phương Tây bị thay thế bởi phương Tây, còn phương Đông thì bị/được Tây hóa. Những điều GS nói về chủ nghĩa hiện đại là có thể hình dung được, đặc biệt phải nhấn mạnh đến những phát hiện có tính cách mạng về ngôn ngữ (bước ngoặt ngôn ngữ) của học thuật phương Tây (chúng ta tư duy bằng ngôn ngữ; diễn đạt bằng ngôn ngữ, làm học thuật bằng ngôn ngữ – tóm lại là các loại discourse)… Hiện tại, tôi cũng chưa hình dung được cái gì có thể thay thế được những “siêu kiến thức” đó. Nhưng biết đâu đấy! Tôi có nghe nói đến chủ nghĩa hậu hiện đại (thực ra nền tảng của nó vẫn là chủ nghĩa hiện đại phải không ạ?), xin Giáo sư có thể nói một chút về chủ nghĩa hậu hiện đại không ạ? Nhưng tôi có cảm giác điểm cuối của trào lưu ấy (hậu hiện đại) biết đâu lại gặp những tư tưởng của Lão Tử, của Thích Ca Mâu Ni, của Thiền tông…ở “phương Đông” khi mà ngôn ngữ có thể tỏ ra bất lực?
              Như giáo sư từng viết về Mẫu hình Nidhi (https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2013/11/10/mau-hinh-nidhi-trong-the-gioi-phang-cua-chung-ta/), tôi cũng rất băn khoăn về việc làm của Nidhi. Phải chăng Nidhi đang cố gắng làm một cái gì đó tương đối độc lập với những gì ông học ở phương Tây (tất nhiên điều này như GS đã nói là không ai thoát được). Nhưng hành động bỏ viết tiếng Anh của ông phải chăng là một động tác giảm bớt sự lệ thuộc đó (vì viết bằng tiếng Anh sẽ phải tư duy bằng các khái niệm phương Tây – như colonial, colonize… chẳng hạn)? Dĩ nhiên, phải đạt đến trình độ (hiểu biết về phương Tây, khả năng Anh ngữ…) của Nidhi thì mới nên mà mới có bản lĩnh làm như vậy. Trong Phật giáo, người ta gọi là “đắc đạo”! Tôi đoán như vậy.
              Dù sao, đây cũng là một vấn đề hết sức thú vị, mà tôi cảm thấy mình đã quá “lộng ngôn” khi bàn đến vấn đề quá lớn với khả năng của mình. Xin Giáo sư lượng thứ và chỉ bảo thêm cho ạ!

              • leminhkhai December 11, 2013 at 3:43 pm #

                – phát hiện có tính cách mạng về ngôn ngữ (bước ngoặt ngôn ngữ) của học thuật phương Tây (chúng ta tư duy bằng ngôn ngữ; diễn đạt bằng ngôn ngữ, làm học thuật bằng ngôn ngữ – tóm lại là các loại discourse)

                Đây là chủ nghĩa hậu hiện đại!! Có thể nói nó bất đâu với Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương của Ferdinand de Saussure. Ở trong cuốn sách này Sassure nói về “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt,” có thể hiểu đơn giản là “cùm từ” và “ý nghĩa.” Quan hệ giữa “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” không ổn (not stable).

                Ví dụ năm 1776 trong tuyên ngôn độc lập Mỹ Thomas Jefferson đã viết “All men are created equal.” (HCM đã dịch là “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.”) Khi đó Thomas Jefferson có nô lệ, và khi đó chỉ có đàn ông hữu đất được tham gia bầu cử.

                Như vậy chúng ta bây giờ hiểu câu này khác với Thomas Jefferson. Và HCM đã hiểu câu này một cách khác nữa và đã nói “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng.”

                Vấn đề là quan hệ giữa cái biểu đạt (“man”) và cái được biểu đạt (cách mà người ta hiểu nó) không ổn.

                Đối với Thomas Jefferson thì “man” là đàn ông (màu da trắng) hữu đất. Đối với chúng ta bây giờ là tất cả mọi người. Và năm 1945 HCM đã “suy rộng ra” và hiểu “man” là dân tộc (cũng make sense).

                Tại sao người ta hiểu một câu đơn giản như này khác nhau? Đó là vì xã hội của Mỹ năm 1776 và 2013 và xã hột VN năm 1945 đều khác nhau và quan hệ quyền lực ở trong mỗi xã hội cũng khác nhau.

                Chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ ra vấn đề này và khuyến khích người ta kiểm tra cái quan hệ quyền lực đàng sau văn bản và câu nói.

                Thú vị, phải không? 🙂

                • Hoa Quoc Van December 11, 2013 at 5:34 pm #

                  Điều GS nói về quyền lực – văn bản – câu nói hình như được những người như M.Foucault, J.Derrida, J. Lacan,v.v… bàn đến nhiều thì phải. Điều thú vị là họ đều là người Âu châu lục địa (nhiều người Pháp). Vậy thì người Pháp (và châu Âu) đẻ ra những lí thuyết gia vĩ đại, nhưng thực hành và phát triển những lí thuyết này thành công nhất là người Mỹ, phải không ạ?

                  • leminhkhai December 12, 2013 at 12:33 am #

                    Đúng, nhưng nếu nói “ở Mỹ” chắc là chính sác hơn (nói “người Mỹ) vì có nhiều người nước ngòai làm việc ở đại học Mỹ. 😉

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: