Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (II)

10 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (II)

Liam C Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Người Thái ở vùng ngoại biên trong quá khứ Việt Nam

Các học giả Việt Nam hiện đại từ lâu đã nhận ra rằng  về mặt lịch sử có sự tiếp xúc đáng kể giữa những người nói tiếng Thái với những người mà ngày nay chúng ta gọi là người Việt. Ngay từ năm 1912, nhà Hán học người Pháp Henri Maspero đã thấy nhiều chứng cứ về sự tiếp xúc ngôn ngữ khiến ông cho rằng tiếng Việt là một chi ngôn ngữ Thái. Maspero nghĩ rằng tiếng Việt hẳn được cấu thành trong một khu vực địa lí ở những ranh giới của các khu vực mà người ta thấy có những người nói tiếng Mon-Khmer, Thái và tiếng Trung, và rằng tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tất cả các thứ tiếng đó, và có lẽ cả những thứ tiếng khác nữa. Tuy nhiên, Maspero quy vai trò đặc biệt quan trọng cho tiếng Thái và kết lại nghiên cứu của mình bằng lưu ý rằng “thứ ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đem lại dạng thức hiện đại cho tiếng An Nam (tức tiếng Việt), theo tôi là một ngôn ngữ Thái, và tôi nghĩ tiếng An Nam hẳn được gắn với ngữ tộc Thái”[1].

Bổ sung thêm cho việc coi tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái, Maspero cũng xem những tộc người Thái nhất định là những đại diện cho cái mà chúng ta gắn mác là Đông Nam Á cổ. Trong một tiểu luận có tên “Xã hội và Tôn giáo của người Trung Hoa cổ và của người Thái hiện đại”, Maspero so sánh đời sống, lễ hội, tôn giáo, huyền thoại và tục tang ma của người Thái Đen với Thái Trắng sống ở những vùng núi giữa Việt Nam và Lào vào đầu thế kỉ XX với những nhân tố tương tự của Trung Hoa cổ. Rốt cuộc, Maspero cho rằng cái thế giới mà chúng ta có thể thấy trong các văn bản Hán cổ như Kinh Thi rất giống với thế giới của người Thái Đen và Thái Trắng, và rằng hai tộc người này vì vậy đại diện cho một thế giới chung của thời cổ đại đã dần dần bị quên lãng trên phạm bi rộng bởi sự phát triển văn hoá xã hội khác nhau[2].

Nói khác đi, đối với Maspero người Thái là một tộc người quan trọng, nhưng sự quan trọng đó nằm ở đâu đây trong quá khứ xa xôi. Sự song hành mà chúng ta thấy giữa đời sống của người Thái Đen và Thái Trắng ở vùng núi bán đảo Đông Dương với lối sống của người Hoa cổ như đươc thể hiện trong Kinh Thi là một chỉ dấu rõ ràng về tính cổ của họ. Hơn nữa, nghiên cứu của ông về ngôn ngữ cũng chỉ cho ông thấy rằng ngữ tộc Thái đã đem lại sự phát triển cho tiếng Việt. Tuy nhiên, Maspero không thể lịch sử hoá một cách rõ ràng quá trình này. Hệ quả là, ông đặt người Thái trong lịch sử Việt Nam, nhưng vị trí của họ nằm ở một nơi bất định nào đó trong quá khứ.

Cảm giác chung của Maspero về vai trò của người Thái trong quá khứ của người Việt được hưởng ứng trong các công trình của các nhà sử học người Hoa là Xu Songshi (Từ Tùng Thạch) và Chen Jinghe (Trần Kinh Hòa). Xu Songshi là một học giả tham gia vào việc nghiên cứu lịch sử về người Quảng Đông nói riêng và cao hơn là miền Nam Trung Hoa nói chung. Ở nửa đầu thế kỉ XX, các học giả đều nhận thức rõ rằng ở Nam Trung Hoa thời cổ có nhiều chủng tộc, và một trong những nhóm xuất hiện ở đó có những người nói tiếng Thái([3]). Xu Shongshi đóng góp cho nhận thức đó bằng một công trình năm 1946 có tên Nghiên cứu về Thái, Tráng và Việt (Việt ở đây ông chỉ người Quảng Đông). Trong công trình này, Xu Songshi chỉ ra rằng cho nhiều địa danh khác nhau từ Nam Trung Hoa cho đến tận Bắc Việt bắt nguồn từ tiếng Tráng, một ngôn ngữ Thái. Chẳng hạn, ông khẳng định rằng có nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ “Gu” (古) hay “cổ” trong tiếng Việt, một khái niệm mà ông cho là đến từ tiếng Tráng và đã dược lí giải bằng nhiều cách , từ nghĩa là “Tôi” đến nghĩa là một loại từ, rồi chỉ một ngọn núi không có cây cối trên đó. Ông cũng lưu ý rằng những địa danh như thế có thể được tìm thấy trong quá khứ từ tỉnh An Huy, nay là miền Trung Trung Hoa, đến tỉnh Quảng Tây ở phía Tây Nam, một khu vực mà ông cho là người Thái đã sinh sống trong lịch sử[4].

Xu Songshi cũng trích dẫn một công trình xuất bản năm 1877, Việt Nam tập lược của Xu Yanxu (Từ Diên Húc), được cho là có chứa một bản đồ về các quận ở Việt Nam khi nó nằm dưới sự cai trị của Trung Hoa vào đầu thế kỉ XV[5]. Bản đồ này rõ ràng liệt kê những địa danh nằm ở Bắc Việt ngày nay như: Cổ Bàng (古榜), Cổ Lão (古老), Cổ Lễ(古禮), Cổ Dũng (古勇), Cổ Long (古龍), Cổ Phí , (古費), Cổ Đằng (古藤), Cổ Hồng [Hoằng] (古宏), Cổ Lôi (古雷), Cổ Bình (古平), Cổ Đặng (古鄧), Cổ Xã (古社), and Cổ Nông (古農). Thêm vào đó, Xu Songshi khẳng định rằng những chữ như tư/si (思), đô/du (都), đa/duo (多), na/na (那), bố/bu (布), và điều/diao (調) cũng thể hiện các từ Tráng, và rằng ở Việt Nam thế kỉ XV cũng có  những địa danh chứa những chữ đó như: Na Ngạn (那岸), Lục Na (陸那), Đa Cẩm (多錦), Đa Dực (多翌), Tư Dung (思容), Điều An (調安) và Bố Chân (布真)[6]. Thật không may, Xu Songshi không cho biết những khái niệm khác đó có nghĩa là gì trong tiếng Tráng, mặc dù bất kì ai quen với tiếng Thái cũng có thể nói rằng “na/na” là khái niệm chỉ một cánh đồng.

Vì vậy, trong khi Xu Songshi chỉ ra rằng có một sự hiện diện mạnh mẽ của người Thái trong lịch sử ở đồng bằng sông Hồng, ông không cung cấp một lí giải lịch sử rõ ràng về cách thức diễn ra hiện tượng đó. Ông lưu ý rằng lúc bấy giờ, năm 1946, có khoảng 200.000 người nói tiếng Thái ở Việt Nam, và ông nói rằng nhiều người trong số đó đã bắt đầu di cư vào khu vực này ngay từ triều Hán[7]. Tuy nhiên, năm 1946, những tộc Thái này sống chủ yếu ở miền núi, trong khi đó những địa danh Thái mà Xu Shongshi liệt kê đến từ các khu vực ở Đồng bằng sông Hồng kéo dài về Nam đến miền Trung Việt Nam. Do đó, Xu Songshi đã để lại một lượng lớn những vấn đề chưa được lí giải về sự hiện diện của người Thái trong lịch sử Việt Nam.

Ngay sau khi Xu Songshi công bố nghiên cứu trên đây, một học giả trẻ học tại Nhật đến từ Đài Loan có tên Chen Chinghe đã theo đuổi vấn đề có vẻ như là địa danh Thái ở Việt Nam. Chen Chinghe đã bổ sung thêm nhiều địa danh bắt đầu bằng cổ/gu, hay những chữ có âm thanh tương tự, như cự/ju (巨), vào danh sách của Xu Songshi bằng việc khảo sát một văn bản của người Việt năm 1335 là cuốn An Nam chí lược. Văn bản này liệt kể một số làng ở khu vực Bắc Trung Bộ ngày nay, trong đó có những cái tên như: Cổ Đằng (古藤), Cổ Hoằng (古弘), Cổ Chiến (古戰), Cự Lại (巨賴), and Cự Lam (巨藍)[8].

Sau đó, Trần đi đến một sự thảo luận chi tiết về khái niệm này, “cổ” hoặc “cự”, và rốt cuộc cho rằng nó có nghĩa là “người” hay “dân”. Rồi ông khảo sát bảng ngữ vựng của các ngôn ngữ Thái khác nhau, cũng như Chàm, Khmer và Mon, và nhận thấy rằng trong nhiều ngôn ngữ Thái, có những từ chỉ “người” bắt đầu với âm “k” như “khon” trong tiếng miền Trung Thái hiện đại. Từ quan sát này, Trần cho rằng khái niệm “cổ” hay “cự” là một phiên bản Việt Nam của một khái niệm chung thời cổ[9]. Ông không nói rằng người Thái hiện hiện ở đồng bằng sông Hồng, mà rằng người Việt Nam mang khái niệm này theo khi họ di cư về phía Nam vào khu vực này, kèm theo một hiểu biết được chấp nhận lúc bấy giờ rằng người Việt vốn di cư về phía Nam vào khu vực này từ những khu vực ở Nam Trung Hoa. Nói khác đi, cũng như Maspero, Chen Chinghe hình dung sự kết nối quan trọng giữa người Thái và người Việt, nhưng đó là một sự kết nối nằm ở đâu đó trong quá khứ xa xôi, trước khi lịch sử Việt Nam thực sự bắt đầu.

Ý tưởng rằng có một mối liên hệ cực kì gần gũi giữa ngôn ngữ Thái và tiếng Việt này, như Maspero lập luận, là một quan điểm mà rốt cuộc đã bị nghi ngờ ở thập niên 1950s bởi một học giả Pháp là André-Georges Haudricourt. Điều Haudricourt đề xuất, và điều các học giả từ thời đó đã đi đến nhất trí là tiếng Việt là thứ tiếng Mon-Khmer[10]. Tiếng Việt và Thái do vậy là những ngôn ngữ rất khác nhau. Tuy nhiên, tiếng Việt cho thấy những chỉ dấu không thể chối cãi về sự tiếp xúc với các ngôn ngữ Thái, và vì vậy phát hiện của Haudricourt vẫn để lại những câu hỏi mở về bản chất và lịch sử của sự tiếp xúc ấy.


[1] Henri Maspero, “Études sur la phonétique historique de la langue Annamite: les initiales,” Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient12 (1912): 118.

[2] Henri Maspero, Taoism and Chinese Religion, dịch bởi Frank A. Kierman, Jr. (Amherst: University of Massachusetts Press, 1981), 199-247.

[3] Chẳng hạn, xem: Wolfram Eberhard, The Local Cultures of South and East China, dịch bởi Alide Eberhard (Leiden: E.J. Brill, 1968). Cuốn này được xuất bản lần đầu năm 1942.

[4] Xu Songshi 徐松石, Daizu, Zhuangzu, Yuezu kao 泰族徨族粵族考[Research on the Tai, Zhuang and Yue] (Yongning, Zhonghua shuju, 1946), 208-9.

[5] Xu Yanxu 徐延旭Yuenan jilue 越南輯略[Brief Compilation on Vietnam], (1877)..

[6] Xu Songshi, 131

[7] Xu Songshi, 132..

[8] Chen Jinghe 陳荊和, “Yuenan Dongjing difang zhi techeng ‘kẻ’” 越南東京地方之特稱“Kẻ” [The unique name “kẻ” in the Tonkin region of Vietnam], Guoli Taiwan daxue wen shi zhe xuebao 國力臺灣大學文史哲學報1 (1950): 223-224. Lê Tắc 黎崱, An Nam chí lược 安南志略 [Brief treatise on An Nam], (Siku quanshu ed., orig. comp., 1333) 1/2b-5a.

[9] Chen Jinghe, 225-229.

[10] Để có một cái nhìn tổng quan về công trình học thuật và các cuộc tranh luận về nguồn gốc ngôn ngữ học của tiếng Việt, xem Mark Alves, “Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language: An Overview,” Journal of Vietnamese Studies1.1-2 (2006): 104-130.

[Còn nữa]

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84

Tiếp theo: Sự hỗn hợp Thái – Việt

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: