Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (VI)

20 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (VI)

Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Mô hình văn hóa xã hội lúa nước

Một ví dụ hoàn hảo của điều này là công trình của nhà ngôn ngữ học Phạm Đức Dương. Năm 1982, Phạm Đức Dương viết một vài báo hết sức quan trọng về vai trò của những người nói tiếng Thái trong lịch sử cổ đại Việt Nam mang tên: “Cội nguồn mô hình văn hoá – xã hội lúa nước của người Việt qua cứ liệu ngôn ngữ”. Trong bài báo này, Phạm Đức Dương đã khám phá ra rằng có một “cơ cấu” chung về từ vựng được chia sẻ giữa những người ông gọi là Tày Thái và Việt Mường gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước và những thực hành văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị gắn liền với việc canh tác lúa nước. Cụ thể, ông lưu ý rằng nhiều từ trong tiếng Việt có liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước đều bắt nguồn từ tiếng Tày Thái. Chẳng hạn, cả hai chia sẻ một từ chung về gạo: gạo/khẩu [BT, khảu], và họ cũng cùng phân biệt giữa hai loại: gạo nếp = khẩu dếp (Tày)/khẩu niêu(Thái) [BT, khảu ón] và: gạo tẻ = khẩu te (Tày)/khẩu xẻ (Thái) [BT, khảo sẻ][1].

Để trồng lúa nước, người ta cần phải kiểm soát được nguồn nước cần thiết. Phạm Đức Dương nhận thấy rằng từ Việt Mường liên quan đến vấn đề này như mương phai (“irrigation canal”) [BT, mương = irrigation ditch, phai = dam] và guồng (“waterwheel”) [BT, cuống], bắt nguồn từ tiếng Tày Thái. Dựa trên thông tin này, ông cho rằng Việt Mường hẳn đã học tập nền nông nghiệp lúa nước và việc kiểm soát nguồn nước từ người Tày Thái. Ông cũng chỉ ra rằng người Tày Thái đã tạo ra các thực thể chính trị (baan và muang) được tập trung xung quanh việc kiểm soát nguồn nước ở một khu vực xác định, và cho rằng người Việt Mường dường như đã học cách thiết lập quyền kiểm soát chính trị một khu vực từ người Tày Thái, mặc dù không có sự chia sẻ từ vựng chung nào ủng hộ tuyên bố này[2].

Trong khi Phạm Đức Dương cung cấp những chứng cứ vững chắc về từ vựng chung giữa người Tày Thái và người Việt Mường liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước, những nỗ lực nhằm lí giải bản chất sự tương tác giữa hai nhóm người này trong quá khứ của ông lại có vấn đề nhiều hơn. Nhiều lần ông khẳng định rằng người Việt Mường học nền nông nghiệp lúa nước và các cấu trúc chính trị xã hội của người Tày Thái ở vùng đồi thấp, và rồi sau đó họ di chuyển về phía đồng bằng sông Hồng nơi họ dần dần phát triển bằng nhiều cách khiến cho họ khác với người Tày Thái. Chẳng hạn, với trường hợp gạo, Phạm Đức Dương cho rằng người Việt Mường đã có bước quá độ từ việc ăn gạo dẻo sang ăn gạo tẻ. Không cung cấp bất cứ thông tin nào về thời điểm hay lí do xảy ra việc này, ông khẳng định rằng khi cư dân Việt Mường tăng lên, họ chuyển từ vùng đồi thấp về khu vực đồng bằng và bắt tay trồng lúa tẻ vốn cho sản lượng cao hơn khi nó cho phép thu hoạch 2 vụ một năm. Tuy nhiên, sự thực gạo dẻo vẫn được dùng trong một số nghi lễ, ông lập luận, đã gợi ý rằng vào một thời điểm trong quá khứ xa xôi, gạo dẻo là dạng gạo chính mà tổ tiên của người Việt, tức người Việt Mường, đã ăn[3].

Phạm Đức Dương biện luận cho một sự quá độ tương tự về các dạng ruộng được canh tác trong quá khứ. Ông lưu ý rằng có hai loại ruộng dùng để trồng lúa. Tày Thái gọi đồng ruộng để trồng lúa là “na” [BT, ná] và những thửa ruộng trên núi được dùng trồng lúa cạn là “hãy” [BT: hay]. Trong khi đó, người Mường phân biệt giữa việc trồng lúa nước ở “na”, giống như Tày Thái, và “roọng” cho lúa cạn. Sau đó Phạm Đức Dương lưu ý rằng cả người Tày Thái và người Mường đều xem việc canh tác lúa nước là ưu việt hơn trồng lúa trên ruộng núi, và xem những người trồng lúa nước là văn minh hơn. Tuy nhiên, nhiều người Tày Thái và Mường, đặc biệt là những nguời sống ở độ cao thấp hơn, dùng cả 2 loại ruộng ấy, và thấy ruộng trên rúi là không thể thiếu cho cuộc sống của họ.

Sau đó, Phạm Đức Dương nói thêm rằng, cấu trúc này được tái tạo bởi người Việt ở các khu vực đồng bằng, họ đã kết hợp ruộng lúa nước, hay “ruộng”, với vườn, một khái niệm xuất xứ từ tiếng Trung được Phạm Đức Dương cho là được sử dụng để phân biệt những mảnh ruộng này với ruộng trên núi. Xa hơn, Phạm Đức Dương lưu ý rằng trong khi người Việt không thấy sự đối lập giữa ruộng và vườn thì họ lại phân biệt người canh tác lúa nước ưu việt hơn người sống ở vùng núi và canh tác lúa trên những thửa ruộng bậc thang. Sau đó, luận điểm của Phạm Đức Dương là người Việt Nam đã duy trì một khái niệm “ruộng kép”, nhưng thay đổi nó, ở vẻ bề ngoài, khi họ phát triển độc lập với người Tày Thái sau khi chuyển đến vùng đồng bằng sông Hồng[4].

Cùng lúc Phạm Đức Dương đưa ra quan điểm về việc người Việt Mường học tập người Tày Thái ở vùng núi thấp kĩ thuật canh tác lúa nước và sau đó chuyển về vùng đồng bằng, ông cũng nói về việc người Tày Thái và Việt Mường sống cùng nhau ở đồng bằng sông Hồng trong một bối cảnh mà người Tày Thái sở hữu những tri thức phức tạp hơn người Việt Mường. Phạm Đức Dương lưu ý tầm quan trọng của những con đê đối với người Việt Mường trong nỗ lực chế ngự sông Hồng của họ, và cho rằng việc đắp những con đê phát triển từ việc thực hành xây những con kênh tưới tiêu hay những toà thành, cả hai ông nói đều do người Tày Thái giới thiệu cho. Xa hơn, với tư cách mẫu hình của những toà thành cổ xưa trong khu vực này, ông đề cập đến thành Cổ Loa, nằm ngay trung tâm đồng bằng sông Hồng và Xám Mứn, nằm ở khu vực ngày nay là Điện Biên Phủ, cả hai, ông nói, ban đầu đều được người Tày Thái xây dựng[5]. Tuy nhiên khi đưa ra lập luận như vậy, Phạm Đức Dương không giải thích vì sao từ chỉ “toà thành” trong tiếng Việt Mường (thành) và Tày Thái (chiêng) lại đến từ tiếng Trung (cheng)[6].

Bổ sung thêm cho quan điểm người Tày Thái đã đi đầu trong việc xây dựng các toà thành ở đồng bằng sông Hồng, Phạm Đức Dương cũng cho rằng người Tày Thái là những người đầu tiên thiết lập các cấu trúc chính trị ở khu vực. Ông khẳng định rằng trong khi người Việt Mường và Tày Thái sống cùng nhau ở vùng đồng bằng, họ phải làm việc để quản lí nguồn nước và tự bảo vệ họ chống lại người phương Bắc. Một số thể chế Thái, hay muang, có lẽ xuất hiện trong quá trình này, nhưng thực chất đó là một thể chế được cho là có quyền lực và quan trọng nhất. Các thành viên của dòng họ cai trị trong muang này được cử ra để lãnh đạo các muang khác và với điều này bạn có sự xuất hiện ở vùng đồng bằng của hệ thống baan muang, tức là, cái mà các học giả thừa nhận là cấu trúc chính trị đặc thù của người Thái.

Phạm Đức Dương thêm rằng người đứng đầu của siêu muang mới này được gọi là phò khun trong tiếng Thái. Ở đây ông đồng ý với Trần Quốc Vượng rằng khái niệm “hùng” trong tên “Hùng vương” bắt nguồn từ khái niệm Thái này. Dưới phò khun, Phạm Đức Dương  cho rằng, là những lãnh đạo của các muang phụ thuộc được gọi là “phụ đạo”, một khái niệm mà Phạm Đức Dương căn cứ theo các học giả như Hoàng Thị Châu khi khẳng định rằng nó được bảo tồn trong từ Thái và Mường để chỉ một thủ lĩnh, tương ứng là “tạo” và “đạo”. Cuối cùng, ông nói rằng có vị phò chiềng người trông coi trung tâm hành chính của muang chính, nơi phò khun sống, và nơi toà thành chính, hay “chiềng”, toạ lạc. Toàn bộ hệ thống baan muang này, Phạm Đức Lương cũng lưu ý, rõ ràng là cái mà người Hoa “miêu tả” khi họ lần đầu tiên đặt chân đến khu vực này[7].

Sự thông diễn quá khứ của Phạm Đức Dương là đầy nhầm lẫn và mâu thuẫn. Ông có người Việt Mường học tập nền nông nghiệp lúa nước từ người Tày Thái ở vùng núi thấp và rồi đem kiến thức này về đồng bằng sông Hồng, đồng thời ông lại có việc người Tày Thái ở vùng đồng bằng xây các toà thành. Rồi ông áp dụng các khái niệm mà chúng ta chỉ thấy ở Toàn thư thế kỉ XV để chỉ ra cái thế giới mà ông nói là người Trung Hoa đã “mô tả” trước đó nhiều thế kỉ. Cuối cùng, ông cũng nói rằng những khái niệm trong Toàn thư này hoàn toàn là của Thái, nhưng những công trình này mô tả “tổchức chính trịkiểu xã hội Tày Thái cổ mà người Việt Mường đã áp dụng”.


[1] Phạm Đức Dương, “Cội nguồn mô hình văn hóa – xã hội lúa nước của người Việt qua cứliệu ngôn ngữ” [The Origin of the Wet Rice Socio-cultural Model of the Việt people from Linguistic Evidence], Nghiên cứu lịch sử số 206 (1982): 43. Tôi đặt từ Thái Đen tương ứng ở đây để tham khảo, khi mà Thái Đen là một trong những ngôn ngữ Thái chính ở Việt Nam.

[2] Như trên, 44 và 48.

[3] Như trên, tr.44

[4] Như trên, tr.44 và 51.

[5] Như trên, tr.45.

[6] Cheah Yanchong, “The Ancient Culture of the Tai People: The Impact of the Hua Xia Culture on it and its Implications,” Journal of the Siam Society, số 76 (1988): 232-233.

[7] Như trên, tr.49.

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84

Tiếp theo: Sự dồn đẩy người Thái ra xa ở thế kỉ XV

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: