Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (VII)

21 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (VII)

Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Đẩy người Thái ra xa ở thế kỉ XV

Sự hỗn độn về khái niệm mà chúng ta thấy trong bài báo của Phạm Đức Dương này một phần là bởi thực trạng các học giả Việt Nam không bao giờ xác định rõ ràng những nguồn tư liệu nào có thể chấp nhận được để khảo sát cổ sử Việt Nam còn tài liệu nào thì không thể. Cái gọi là Vương quốc Âu Lạc của An Dương Vương là một trường hợp cụ thể. Sự xuất hiện lần đầu với cái tên Âu Hạc trong một văn bản Việt cách hơn 1500 sau thời An Dương Vương được cho là đã sống là một chỉ dấu mạnh mẽ cho thấy danh xưng này là một sáng tạo thời trung đại. Trên thực tế, hầu hết những thông tin được ghi chép về thời cổ Việt Nam là một sự sáng tạo thời trung đại, vì nó nằm trong giai đoạn mà các học giả Việt Nam đang cố tạo ra một lịch sử linh thiêng cho chính họ. Trong quá trình này, các tộc người Thái đóng một vai trò quan trọng. Để hiểu điều này, chúng ta cần đạt tới một cảm quan về sự tiếp xúc lịch sử thực sự giữa người Việt và các tộc người Thái, cũng như làm thế nào một số người Việt đã tạo ra thời cổ cho chính họ.

Nếu có những chứng cớ ngôn ngữ nhất định cho thấy rằng có sự tiếp xúc giữa người nói tiếng Thái và nói tiếng Mon-Khmer từ rất sớm, thì đó chính là khi người Thái bắt đầu di cư khỏi khu vực Quảng Tây khiến cho những chứng cứ về sự tiếp xúc Thái Việt trở nên rõ ràng[1]. Trong khi đây là một quá trình khó chứng thực, thì chúng ta có thể thấy những dấu vết của sự di chuyển của người Thái trong các ghi chép lịch sử của người Hoa. Với những xung đột xuất hiện trong thập kỉ 860s liên quan đến sự bành trướng của nước Nam Chiếu chẳng hạn, chúng ta có thể thấy những ghi chú về các binh sĩ người Thái đến đồng bằng sông Hồng. Cuốn Man thư đề cập đến một nhóm “Mang Man” (茫蠻), gọi thủ lĩnh của họ là “Chiếu Mang” (詔茫, tức cao muang trong trật tự từ Thái). Nó còn ghi chép nhiều hơn rằng năm 863, một đội chừng 2 đến 3 nghìn người đàn ông của nhóm Mang Man này đã tụ tập ở bờ sông Tô Lịch chảy quanh Hà Nội[2]. Điều gì tiếp theo xảy ra với nhóm người này không được ghi chép, nhưng chúng ta có thể đoán rằng họ có vẻ đã đại diện cho một sự di cư lớn hơn của những tộc người vào thời điểm đó.

Được chứng thực tốt hơn là xung đột giữa nhà Lý Việt Nam và Nùng Trí Cao, một thủ lĩnh Thái đã lập vương quốc của mình ở thế kỉ XI trong khu vực ngày nay là biên giới Quảng Tây-Việt Nam[3]. Người Việt muốn biến Nùng Trí Cao thành một chư hầu, nhưng ông đã nổi dậy và tuyên bố lập một “Nam Thiên quốc”. Mâu thuẫn rõ ràng xảy ra sau đó đã dẫn đến sự tiếp xúc giữa người Việt và Thái, tuy nhiên, biến cố này cũng chỉ ra cái chắc hẳn đã được chia sẻ giữa giới tinh hoa Thái và Việt trong giai đoạn này. Cụ thể, rõ ràng cả hai đã tham gia vào một thế giới của những tín hiệu và ý nghĩa chính trị Hán hoá. Trong khi đồng bằng sông Hồng từ lâu được đặt vào ý tưởng cai trị của người Hoa, trong suốt giai doạn triều Đường và Tống, một số tộc người Thái ở khu vực ngày nay là tỉnh Quảng Tây cũng trải qua một ít thế kỉ mà ở đó họ dần bị sáp nhập vào lãnh địa của người Hoa. Người Hoa ban chức quan cho thủ lĩnh Thái và thậm chí thiết lập một số trường học và đào tạo một số người Thái để tham gia việc khoa cử[4]. Vào thế kỉ XI, khi Nùng Trí Cao nổi dậy, quá trình này còn lâu mới hoàn thành, nhưng nó chỉ ra thực tế là dường như có ít nhất một bảng từ vựng và văn hoá chính trị được chia sẻ trong giới tinh hoa của các nhóm sắc tộc khác nhau ở khu vực này. Việc các thủ lĩnh người Việt sẵn sàng cho con gái họ kết hôn với các thủ lĩnh Thái bản địa, như một người đã làm năm 1029 sau Công lịch, để chắc rằng họ giữ được sự yên ổn ở vùng biên giới phía Bắc, là một chứng cứ xa hơn về điều này[5].

Bổ sung cho sự tiếp xúc với người Thái này, những người theo một số cách nào đó là đối tác văn hoá và chính trị của mình, người Việt cũng gặp những tộc người Thái mà rõ ràng họ xem là thuộc cấp của mình. Gọi họ nhiều lần là “Lạo Tử” (獠子), ghi chép dưới đây tiêu biểu cho cách họ được điển hình hoá[6]:

“Lão/Liêu Tử là tên khác của người mọi. Họ có nhiều ở Hồ Quảng và Vân Nam. Một số phục tùng Giao Chỉ[7]. Cũng có một số dân xăm lên trán và khoan lỗ vào răng. Có một ít kiểu người man khác nhau. Người xưa chép rằng cho loại người Lão/Liêu hình đầu người[8], Liêu Tử khố đỏ và Lão/Liêu Tử uống bằng mũi. Họ đều sống ở hang động hoặc ở ổ, hốc. Họ thường uống rượu bằng ống sậy. Họ thích đánh nhau với kẻ thù [thạo bắn nỏ] và họ đánh trống đồng. Họ đánh giá cao những chiếc trống lớn. Khi một chiếc trống mới được hoàn thành, họ đặt nó ở ngoài sân cùng với rượu rồi mời đồng loại đến [ăn mừng]. Họ đến đứng chật cửa [sân]. Con cái của một nhà quý tộc lấy chiếc thoa bằng vàng hoặc bạc đánh vào trống, sau đó cô ta để lại nó cho chủ nhà”[9].

Trong khi bản ghi chép thế kỉ XIV này không nêu nơi sống của Lạo Tử, thì một công trình thế kỉ XV là cuốn An Nam chí đã chỉ ra rằng Lạo Tử sống ở phía Tây của đồng bằng sông Hồng trong vùng núi chạy dài sang tận biên giới Lào ngày nay[10]. Do đó, người Việt có người Thái ở phía Bắc và phía Tây họ, và ở thế kỉ XV, mối quan hệ của họ với một số nhóm người này, đặc biệt với những người ở phía Tây Bắc, đã thay đổi. Nhà sử học Li Tana đã chứng minh làm thế nào sau thời Minh thuộc (1406-1427), người Việt đã bành trướng quyền kiểm soát của họ về phía Tây Bắc vào những khu vực do người Thái cai quản. Bà cho rằng quá trình bành trướng này không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt văn hoá và bằng việc đó người Việt dần phân biệt rõ bản thân họ với những người láng giềng Thái và tự xem mình là ưu đẳng hơn[11]. Trong khi sự tự nhận như thế có vẻ đã tồn tại ở một mức độ nào đó thuộc các giai đoạn sớm hơn, như được chứng minh bằng khao khát của nhà Lí muốn biến Nùng Trí Cao thành chư hầu, chứng cứ lịch sử ở thế kỉ XV chứng minh một sự củng cố quan điểm này[12].


[1] Theo nhà ngôn ngữ học Michel Ferlus, khái niệm cơ bản về gạo trong các ngôn ngữ Thái, “khaw,” bắt nguồn từ nghĩa gốc Mon-Khmer “husked rice.” (thóc xay). Xem Michel Ferlus, “The Austroasiatic Vocabulary for Rice: Its Origin and Expansion” (bài báo trình bày tại cuộc gặp kỉ niệm lần thứ 20 của hội Southeast Asian Linguistics Society, Zurich, Switzerland, ngày 10-11 tháng 6, 2010).

[2] Fan Chuo 樊綽, Manshu 蠻書[Book of the Savages], (Tứ khố toàn thư biên tập, bản gốc soạn ở thế kỉ IX), 4/10b-11a.

[3] Chi tiết hơn về cuộc nổi dậy này, xemJames Anderson, The Rebel Den of Nùng Trí Cao: Loyalty and Identity Along the Sino-Vietnamese Frontier (Seattle: University of Washington Press, 2007).

[4] Chú thích liên quan đến sự sáp nhập người Thái và các tộc người thổ dân ở Quảng Tây trong suốt thời Đường và Tống có thể được tìm thấy trong Fan Chengda, Treatises of the Supervisor and Guardian of the Cinnamon Sea, trans., James M. Hargett (Seattle: University of Washington Press, 2010), 148-232. Dẫn chứng về sự vươn tới của kì thi tuyển quan lại đến cũng khu vực này, xem Araki Toshikazu, “Nung Chih-kao and the K’o-chü Examinations,” Acta Asiatica, số 50 (1986): 73-94.

[5] Việt sử lược 越史略[Summary of Việt history], (Tứ khố toàn thư biên tập, bản gốc được soạn ở thế kỉ XIV), 2/7b.

[6] Chữ đầu này có thể phát âm trong tiếng Việt là Liêu và trong tiếng Trung là Liao. Tuy nhiên, khi chỉ những tộc người sống ở khu vực Tây Nam Trung Quốc đến các khu vực biên giới Việt – Lào, chữ này thường được phát âm là Lạo/Lao.

[7] “Huguang” chỉ khu vực ngày nay là tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây. “Giao Chỉ” (Jiaozhi) là một danh xưng cổ của khu đồng bằng sông Hồng. Không rõ cách thức Lạo Tử phục vụ (服 役, phục dịch) Giao Chỉ thế nào khi mà khái niệm này có thể chỉ việc lao dịch hoặc quân dịch.

[8] Cái tên “Lạo Tử đầu bay” (頭形獠子, Đầu Hình Lạo Tử) có lẽ là chép nhầm từ cái tên Lạo Tử đầu bay (飛頭獠子, Phi Đầu Lạo Tử). Xem Fan Chengda, 180.

[9] Lê Tắc, 1/20a.

[10] Cái tên thật của văn bản mà tôi đang gọi là An Nam chí  安南志[Treatise on Annan] khi nó được bảo tồn đến ngày nay là An Nam chí nguyên 安南志原, nhưng cái tên này chẳng có nghĩa gì, và cái chữ thêm vào có vẻ là một nhầm lẫn. Về việc đề cập đến Lạo Tử trong công trình này, xin xem Léonard Aurousseau, biên tập., Ngannam tche yuan [Annan zhiyuan] (Hanoi: École Française d’Extrême-Orient, 1923), 212-14.

[11] Li Tana, “The Ming Factor and the Emergence of the Việt in the 15th Century,” trong Southeast Asia in the Fifteenth Century: The China Factor, Geoff Wade và Sun Laichen biên tập (Singapore: NUS Press, 2010), 84-93.

[12] Chẳng hạn, xem các tài liệu và văn bia trích dẫn trong E. Gaspardone, “Annamites et Thai au XVe Siècle,” Journal Asiatique, số 231 (1939): 405-436.

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84

Tiếp theo: Sự sáng tạo các ông vua Việt cổ

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: