Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (IX)

22 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (IX)

Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Nhập tịch một công chúa Thái

Trong lúc đó, ở một phía khác của đồng bằng sông Hồng, có những câu chuyện khác cũng được lưu truyền ở thời trung đại. Những câu chuyện này nói về vị thần ở núi Tản Viên. Sách U linh Chích quái đều có câu chuyện về vị thần này, và chúng đều trích dẫn một công trình có tên là Giao Châu chí được viết bởi một viên Thái thú nhà Đường có tên là Tăng Cổn, cầm quyền tại đây vào thế kỉ 9. Trích dẫn sách này, Chích quái cung cấp nhiều thông tin về lịch sử cổ xưa của vị thần đó hơn là U Linh. Chẳng hạn, nó chép như sau:

“Sách Giao Châu kí của Tăng Cổn đời Đường chép rằng Đại vương của ngọn núi là một sơn thần họ Nguyễn, và thần rất uy lực và linh nghiệm. Trong những lần hạn hán hoặc lụt lội, khi người ta đền cầu [vì thần] chống lại tai ương, thần linh ứng tức thì. Người dân không bao giờ bỏ việc dâng cúng thành kính và  chân thành. Thường xảy ra hiện tượng nếu có cái gì giống như một lá cờ được nhìn thấy bay ở thung lũng trên núi vào một ngày đẹp trời, người dân ở khu vực này sẽ nói rằng sơn thần đã xuất hiện”[1].

Do đó, trong dạng thức sớm nhất của nó, có vẻ như có một vị thần ở Núi Tản Viên mà mọi người thợ phượng để bảo hộ cho họ, đặc biệt chống lại lũ lụt và hạn hán. Cho đến thế kỉ 9, vị thần này rõ ràng vẫn mang hình thái người và có họ là Nguyễn.

Sau khi khu vực đồng bằng sông Hồng rộng lớn dần được kiểm soát bởi người Việt một thế kỉ sau khi Tăng Cổn ghi chép những thông tin nêu trên về vị thần núi Tản Viên, các thủ lĩnh người Việt tiếp tục xem vị thần ấy là quan trọng. Trong suốt đợt mưa không ngớt năm 1073, chẳng hạn, Hoàng đế Lý Nhân Tông đã cho rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân lên kinh đô nhờ đó ông có thể tìm kiếm sức mạnh của nó nhằm cầu cho trời tạnh, và cũng dâng cúng lên Núi Tản Viên[2]. Rồi vào năm 1145, một ngôi đền được dựng ở núi Tản Viên[3]. Mặt khác, sau những mục từ ở Toàn thư, chúng ta lại thấy những sự đề cập khác về khác đến Núi Tản Viên trong đó có nói đến “dân man” sống xung quanh đó. Năm 1207, “dân man miền núi” Tản Viên cướp bóc các làng trong khu vực, và năm 1226, họ đánh nhau với những dân man lân cận[4].

Cuối cùng, cuốn An Nam chí thế kỉ XV cũng lưu ý sự hiện diện của “dân man” xung quanh núi Tản Viên. Như đã đề cập ở trên, công trình này chỉ rõ rằng “dân man” sống xunh quanh Núi Tản Viên là những nhóm người Lạo Tử khác nhau. Rồi nó ghi chép những dòng sau về vị thần núi:

“Núi Tản Viên có một vị thần là Mị Nương. Tục truyền rằng bà là con gái của Hùng vương. Vị vua yêu quý bà và muốn tìm một người có tài làm con rể. Lúc bấy giờ có 2 người đến từ Gia Ninh; một người được gọi là Sơn Tinh và người kia được gọi là Thuỷ Tinh. Họ thể đi xuyên qua đá núi và ẩn mình dưới nước. Họ định cưới [Mỵ Nương] bằng cách dâng những sản vật địa phương. Ngày hôm sau, Sơn Tinh mang đến những món quà thịnh soạn làm bằng vàng, bạc, đồ trang sức quý giá, và loại chim thú kì lạ, mà xin được cưới. Sau đó ông đem Mị Nương về giấu ở núi Lôi Động. Thuỷ Tinh đến sau, dâng các sản vật: trân châu, đồi mồi, mai rùa, bảo bối lạ mà Mị Nương đã bị Sơn Tinh đem đi mất rồi. Thuỷ Tinh nổi giận, đánh phá Lôi Động. Sơn Tình liền chuyển Mị Nương đến chân núi Tản Viên. Hàng năm, Thuỷ Tinh tức giận tấn công mãi không thôi. Ngày nay vẫn vậy. Mị Nương cũng là một linh quái. Bà thường hiện hình với bộ tóc dài và chiếc áo choàng dài, rất giống một mĩ nhân”[5].

Điều thú vị về đoạn mô tả này là nó chỉ ra rằng bản thân Mị Nương là một vị thần quan trọng vào đầu thế kỉ XV. Điều cũng quan trọng nữa là Mị Nương rõ ràng là một khái niệm Thái. “Mae nang” trong tiếng Thái hiện đại, khái niệm này được diễn tả bằng chữ Hán, chỉ cái gì đó giống như là “quý bà ma mị” (媚娘, meiniang). Ở thế kỉ XIII, viên quan nhà Tống là Fan Chengda đã lưu ý về cách dùng của khái niệm này trong các “dân man” của vùng Quảng Tây, khi chép rằng “Các thủ lĩnh bộ lạc đôi khi lấy mấy vợ, tất cả họ đều được gọi là “quý bà ma mị ” [meiniang] [6]. Thêm vào điều này là sự thực rằng An Nam chí, nơi xuất xứ của đoạn trích trên, đã bỏ qua sự chỉ dẫn đơn thuần đến “dân man” ở khu vực này để thực sự ghi chép những nhóm Lạo Tử nào đã sống ở khu vực này, và có một điều trở nên rõ ràng là Mị Nương hẳn là một vị thần mà những người Thái ở khu vực này thờ phụng.

Sự thật là, Mị Nương rõ ràng khác với vị thần họ Nguyễn mà Tăng Cổn đã ghi chép thông tin ở thế kỉ 9, và vai trò của bà trong các nguồn tư liệu Việt Nam như U linh Chích quái là thứ cấp sau những vị thần núi và thần nước. Cái mà tất cả điều này dường như chỉ ra là một quá trình di chuyển dân cư và tiếp xúc giữa các nhóm người khá phức tạp. Khó mà nói những người sống xung quanh núi Tản Viên ở thế kỉ 9 đang thờ một vị thần họ Nguyễn. Tuy nhiên, những chỉ dẫn trong Toàn thư về “dân man” ở đó vào thế kỉ XIII gợi ý rằng có những nhóm người Thái sống ở nơi này vào thời điểm ấy. Việc đề cập đến Mị Nương trong vai trò thứ cấp so với thần núi và thần nước trong các văn bản Việt thế kỉ 14, U Linh, chỉ ra rằng người Việt đã có hiểu biết về vị thần gốc Thái này, có lẽ trong những lần họ đã đến đó để thờ các vị thần núi như được đề cập trong Toàn thư, và đã “nhập tịch” nó vào trong tín ngưỡng của bản thân. Trong khi, An Nam chí thế kỉ XV chỉ ra rằng tín ngưỡng của người Thái bản địa xung quanh núi Tản Viên với bản thân Mị Nương vẫn còn hưng thịnh vào thời điểm đó.

Trong khi các giả thiết trên đây dựa vào các chứng cứ văn bản, thì càng khó mà giải thích vì sao Mị Nương được xem là con gái của Hùng vương. Không có vẻ đó là sự bổ sung đời sau vào câu chuyện về vị thần. Tuy nhiên, rõ ràng truyền thống vua Hùng với tư cách những thủ lĩnh đầu tiên của đồng bằng sông Hồng là một sự sáng tạo muộn, có lẽ xảy ra vào thế kỉ XV. Nói khác đi, Hùng vương trong câu chuyện về Mị Nương dường như có trước thời điểm sáng tạo ra Hùng vương của thời cổ đại. Có khả năng là chữ “Hùng” trong câu chuyện Mị Nương hẳn vốn là một sự phiên âm một khái niệm Thái, như khun, một kính ngữ để chỉ một vị thủ lĩnh, và rằng nó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà cái tên có cùng kí tự như cái tên cuối cùng đã dần thay thế chữ Lạc và được sử dụng cho tên của những vị thủ lĩnh thời cổ của đồng bằng sông Hồng vậy. Dù thế nào chăng nữa, rõ ràng Mị Nương là người Thái, và cũng rõ ràng là khi mà truyền thống Hùng vương được tạo ra, người Thái đang bị người Việt ngoại biên hoá. Những chứng cứ lịch sử từ thế kỉ XV chứng tỏ điều đó, và những cái tên bí ẩn mà chúng tôi dùng để bắt đầu tiểu luận này cũng đã chỉ ra điều đó.


[1] Vũ Quỳnh, 2/21a-b.

[2] Ngô Sĩ Liên, Bản Kỷ 3/6b.

[3] Như trên., Bản Kỷ 4/4b.

[4] Như trên, Bản Kỷ 4/25a and 5/1b.

[5] Aurousseau, 254-255.

[6] Fan Chengda, 154.

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84

Tiếp theo và hết: Kết luận

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: