Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (phần cuối)

22 Dec

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam (phần cuối)

Liam C. Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Kết luận

Trích dẫn lại một lần nữa, Toàn thư chép rằng dưới thời Hùng vương “Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, đó gọi là con đường của người cha [phụ đạo]”. Tất cả những khái niệm này đều là tiếng Thái, hoặc chính xác hơn, chúng phần lớn là từ “Thái Hán hoá” khi chúng pha trộn các nhân tố Thái và Hán.

Về khái niệm Mị nương, từ đầu “mị” là “mea” (แม่ ) trong tiếng Thái và có nghĩa đen là “mẹ”, trong khi từ thứ hai “nang” có nghĩa là “cô gái trẻ” và là một từ Hán, “niang” (娘). Tương tự, “quan lang” bao gồm một từ Hán là “quan chức” (官, guan) và một từ khác có nghĩa là “người đàn ông” được sử dụng trong tên chức quan ở Trung Hoa thời Trung đại, nhưng cũng được dùng trong các tên gọi để chỉ những người thổ dân ở các khu vực của Quảng Tây. Fen Chengda chẳng hạn đã ghi chú rằng một số thủ lĩnh “người man” được gọi là “lang hoả” (郎火)[1]. Quan lang được dùng ít nhất từ thời Đường, để chỉ những quan lại cấp thấp cai quản thổ dân nhân danh người Hoa ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Chẳng hạn, một văn bản thời Đường chép rằng nhiều thế hệ thành viên của dòng họ Phùng đã đảm nhận chức “quản lĩnh người man” (夷長, Di trưởng/Yi zhang) ở ven vùng đồng bằng và được gọi là “Quan lang”[2].

Về “bồ chính”, khái niệm này cũng dường như là một khái niệm lai ghép. Từ “bồ” có thể tương ứng với hoặc khái niệm “phu” (người) hoặc “phó” (พ่ อ, father – bố) trong tiếng Thái. “Chính” trong khi đó có thể có nghĩa là “chieng” trong tiếng Thái với nghĩa “toà thành” và xuất xứ từ “cheng” (城) trong tiếng Hán. Từ “phu chieng” hoặc “pho chieng” vì vậy dùng để chỉ cái gì đó như là “đứng đầu toà thành”. Cuối cùng, điều mà văn bản nói đến như là sự truyền thụ quyền lãnh đạo từ thế hệ này sang thế hệ khác, hay “con đường của người cha” (phụ đạo), có thể là một sự quy chiếu đến “người già” hay  “phu thaw” (ผู ้ เฒ่ า), hoặc đến một khái niệm mà người Thái Đen dùng để chỉ các thủ lĩnh của họ, “phu thaw” (ผู ้ ท้ าว)[3].

Điều này giờ đây dẫn chúng ta đến câu hỏi vì sao những từ Thái Hán hoá này xuất hiện trong một công trình lịch sử Việt Nam được viết ở thế kỉ XV và nó khẳng định rằng chúng chỉ những danh hiệu thời cổ. Tôi cho rằng sự tích hợp những khái niệm này vào Toàn thư thể hiện một quá trình sáng tạo căn cước nhận dạng. Ở thế kỉ XV, một triều đại Việt Nam mới, triều Lê, nắm được quyền lực sau khi người Hoa bị đánh đuổi năm 1427. Triều Lê cần chứng minh tính hợp pháp của nó, và nó làm vậy bằng nhiều phương tiện khác nhau.

Về mặt quân sự, nhà Lê nỗ lực mở rộng quyền kiểm soát của họ về phía Bắc, khu vực định cư của các tộc người Thái, và về mặt biểu tượng họ cố chứng minh sức mạnh của vương quốc mình bằng cách tạo ra một thời cổ mà từ đó vương quốc của họ có thể khẳng định dòng dõi chính trị của nó. Sự tích hợp các khái niệm Thái Hán hoá này trong một lịch sử được tưởng tượng mới mẻ đó là rất quan trọng bởi người Việt có vẻ như đã chinh phục người Thái không chỉ bằng cách xâm lược, mà còn bằng cách uỷ thác cho họ một quá khứ xa xôi. Người Thái là đối tượng mà người Việt đã từng là, nhưng giờ đây thế giới đã khác. Phần lớn những khái niệm được thâu nhập là những từ Hán hoá đó chỉ ra một thế giới chính trị mà người Việt và người Thái đã từng chia sẻ. Tuy nhiên, ở thế kỉ XV, nhà Lê bắt đầu bị Hán hoá sâu sắc hơn, và điều ấy dường như tạo ra một cảm giác về khoảng cách giữa giới tinh hoa Việt và giới tinh hoa Thái, những người mà họ đã cạnh tranh trong một mối quan hệ bình đẳng hơn trước đó không lâu.

Về những từ Thái khác, như những từ liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước mà chúng ta có thể thấy dấu vết của nó trong tiếng Việt, chúng là những khái niệm tương đồng mà người Việt dường như đã học được ở giai đoạn sau thế kỉ X khi các tộc người Thái bắt đầu di cư vào các khu vực ven đồng bằng sông Hồng. Đây là một chủ đề mà tôi phải để cho các nhà ngôn ngữ học tiếng Thái giải thích đầy đủ hơn, nhưng từ những gì tôi hiểu, một khái niệm như “mương phai” (“irrigation canal”) mà Phạm Đức Dương cho là được thâu nhập bởi người Việt thời cổ thì lại là một từ Thái tương đối mới, tức là âm “ph” trong tiếng Thái, âm “ph” này trong tiếng Việt có vẻ được tái tạo lại gần giống với nó, mặc dù nó được phát âm như “f” trong tiếng Việt, xuất hiện cùng với sự phát triển của người Thái vùng Tây Nam[4]. Cuối cùng, vấn đề về các địa danh bắt đầu với từ “cổ” trong tiếng Việt hay “gu” trong tiếng Trung vẫn còn là một bí ẩn. Có vẻ như đây là một khái niệm Thái  khi nó chủ yếu được tìm thấy ở giữa đồng bằng sông Hồng, và các học giả vẫn chưa cung cấp được chứng cứ cho thấy có một khái niệm được sử dụng phổ biến trong bất kì ngôn ngữ Thái nào để có thể trở thành từ phiên âm cho từ này.

Do đó, mặc dù có nhiều thứ đã được viết về mối quan hệ lịch sử giữa người Thái và người Việt bằng cách sử dụng những từ ngữ Thái nào đó như những cứ liệu, trong thực tế nhiều tuyên bố được đưa ra mà không có những tham chiếu đến những gì chúng ta thực sự biết về sự di chuyển trong lịch sử của các tộc người Thái và sự phát triển các ngôn ngữ của họ. Khi các kiến thức ngôn ngữ học và thực tế lịch sử mà chúng ta được khai thác để khảo sát vấn đề này, cái cách các từ ngữ Thái tìm thấy con đường đi vào các nguồn tư liệu lịch sử Việt và vào tiếng Việt trở nên rõ ràng. Vị trí của người Thái trong lịch sử Việt Nam cũng trở nên rõ rệt. Người Thái và người Việt không phải là anh em sống hài hoà thời cổ và sau đó đi những con đường khác nhau. Thay vào đó, họ là những tộc người khác nhau trở thành hàng xóm thời trung đại và đấu tranh với nhau cho đến khi người Việt rốt cuộc đã giành được sự thống trị lên người Thái ở khu vực rộng hơn Đồng bằng sông Hồng vào thế kỉ XV.

Tuy nhiên, sự thống trị này không bao giờ hoàn tất. Người Việt chưa bao giờ kết thúc việc mở rộng quyền kiểm soát chính trị trực tiếp đối với nhiều khu vực mà người Thái sinh sống. Cho đến khi người Pháp xâm chiếm khu vực này vào cuối thế kỉ XIX, người Thái vẫn sống một cuộc đời tự trị phóng khoáng, mặc dù họ tuyên bố sự phụ thuộc vào triều đình người Việt từ nhiều thế kỉ cho đến thời điểm ấy. Phụ thuộc nhưng là những người khác, người Thái ít hay nhiều được người Việt để cho có quyền riêng của họ. Các quan chức người Việt quan hệ với họ hiểu về “mường” và “phụ đạo” của họ, và những từ như thế liên tục nhiều lần đi vào các nguồn tư liệu Việt Nam. Tuy nhiên, hiểu biết thực sự mà người Việt có về những người láng giếng Thái của họ vẫn còn hạn chế. Trớ trêu là, có lẽ chính mức độ hạn chế về tri thức đó sau này đã cho chép vô số thông tin về lịch sử quan hệ Thái – Việt xuất hiện ở cuối thế kỉ XX. Với nhu cầu lí giải quá khứ bằng những cách phù hợp với các yêu cầu về một quốc gia dân tộc đa sắc tộc, với những hiểu biết ngôn ngữ học, lịch sử hạn chế về chủ đề này, các học giả Việt Nam đang đối mặt với, họ tạo ra rất nhiều thông tin về vị trí của người Thái trong quá khứ Việt Nam, những thông tin mà rốt cuộc có tác dụng lí giải rất ít về quá khứ, nhưng lại chỉ rõ nhiều điều về những nhu cầu bức thiết của hiện tại ở Việt Nam.

Nguồn: Liam Kelley, “Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past”, Journal of the Siam Society, Vol. 101, 2013, pp.56-84


[1] Như trên., 180.

[2] Lý TếXuyên, 2b. Văn bản này trích dẫn một cuốn Giao Châu chí, có thể chỉ hoặc văn bản của Tăng Cổn ở cuối thế kỉ IX hoặc một cuốn sách cùng tên, có vẻ như có niên đại đầu thế kỉ IX và được soạn bởi một viên quan Trung Hoa là Triệu Xươnng. Dị bản U linh này thực chất có từ “lang quan” thay vì “quan lang”. Tuy nhiên, dị bản khác của văn bản này có từ “quan lang”, trong khi đó là khái niệm phổ biến.

[3] Cảm ơn Tiến sĩ Pittayawat Pittayaporn ở Chulalongkorn University vì những thông tin về khái niệm cuối cùng này. Cuộc tiếp xúc cá nhân ngày 20 tháng 10 năm 2011.

[4] Về cái được định nghĩa là sự phân biệt P/PH trong các ngôn ngữ Thái, xem James R Chamberlain, “A New Look at the History and Classification of the Tai Languages,” trong Studies in Tai Linguistics in Honor of William, J. Gedney, Jimmy G. Harris và James R. Chamberlain biên tập (Bangkok : Central Institute of English Language, Office of State Universities, 1975), 49-66. Chamberlain cũng cố gắng dùng các nguồn tư liệu lịch sử Việt Nam để hiểu lịch sử các tộc người Thái trong khu vực, tuy nhiên, ông làm vậy từ niềm tin rằng thông tin trong tư liệu Việt về Hùng vương là sự thật lịch sử. Chẳng hạn, xem bài “The origin of Sek: Implications for Tai and Vietnamese history,” của ông trong The International Conference on Tai Studies, S. Burusphat biên tập (Bangkok: Institute of Language and Culture for Rural Development, Mahidol University. 1998), 97-128.

[Bản dịch sẽ được xem lại một lần nữa trước khi đăng toàn văn – HQV]

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: