“Tự sự về một mối quan hệ bất bình đẳng: Các trí thức Việt tiền hiện đại lí giải quan hệ giữa vương quốc của họ với ‘phương Bắc’ thế nào”

24 Dec

“Tự sự về một mối quan hệ bất bình đẳng: Các trí thức Việt tiền hiện đại lí giải quan hệ giữa vương quốc của họ với ‘phương Bắc’ thế nào”

Liam C. Kelley – Đại học Hawaii tại Manoa

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tham luận trình bày tại Hội nghị bàn tròn về “Bản chất của các mối quan hệ chính trị và tinh thần trong các lãnh đạo châu Á và các chính thể từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVIII”, ngày 19-21 tháng Tư năm 2010, tại Viện Nghiên cứu Châu Á, D Đại học British Columbia, Vancouver, Canada/

 

Dẫn nhập

Trong xấp xỉ một ngàn năm, từ thế kỉ XX đến thế kỉ XIX, khu vực mà ngày nay chúng ta gọi là “Việt Nam” đã tham gia vào một mối quan hệ triều cống với các triều đại khác nhau cai trị khu vực mà hiện nay chúng là gọi là “Trung Hoa”. Với tư cách một bộ phận của mối quan hệ đó, người Việt phải thường xuyên đem cống vật đến kinh đô của các triều đại kế tiếp nhau nằm về phía Bắc của họ, trong khi các sứ thần từ những kinh đô đó cũng được gửi đến sách phong cho các lãnh đạo người Việt thẩm quyền cai quản vùng đất của mình. Mối quan hệ này rõ ràng là bất bình đẳng, và những vị thế bất bình đẳng của hai tập đoàn này luôn dễ dàng được chứng thực trong ngôn ngữ của nhiều tài liệu được trao đi đổi lại giữa hai chính thể đó trong suốt ngàn năm lịch sử này.

Trong khi những phần của một số tài liệu này đã được bảo tồn trong các nguồn tư liệu Trung Hoa, thì người Việt cũng cẩn thận lưu giữ những bức thư trao đổi với các triều đại kế tiếp nhau ở phương Bắc một cách đầy đủ trong các tuyển tập khác nhau có tên Bang giao lục (邦交錄). Khi đọc qua những tài liệu này, người ta thấy rằng chúng tràn ngập những ý tưởng về sự bất bình đẳng. Cái mà người Việt gọi là “中華”, Trung Hoa hay “中國”, Trung Quốc, được mô tả là trung tâm của toàn bộ thực thể quan trọng trên thế giới, trong khi họ mô tả vương quốc của chính họ, thường xuyên gọi đơn  giản là “Nước ta” (我國, Ngã Quốc), là một chính thể nhỏ bé ở bên rìa của thế giới được biết đến ấy. Ân huệ của vị hoàng đế Trung Quốc khi phong cho một ông vua Việt thẩm quyền cai trị, trong khi đó, được so sánh với các hiện tượng tự nhiên như mưa xuân nuôi dưỡng cuộc đời. Người ta cũng lại thấy các lãnh đạo người Việt thể hiện sự biết ơn hết mực và vui mừng trước việc được hoàng đế Trung Quốc yêu mến, với những tuyên bố như dưới đây:

“Với việc ban phong sáng suốt chỉ dụ nhân từ, mùa xuân đã tràn ngập đất Long Biên. Với  sự ban ơn huệ bằng ấn tín, một luồng sáng chói lọi đã vụt lên nơi Tượng Quận. Người dân phấn chấn hân hoan [khắp cả] vùng Lĩnh Giao[1]

Những dòng trên là từ một bức thư cảm ơn mà vị vua đầu tiên của nhà Lê, Lê Lợi, đã gửi cho hoàng đế nhà Minh ngay sau khi ông lên ngôi năm 1428. Lê Lợi vừa nhận được một chỉ dụ và ấn triện từ Minh Tuyên Tông phong cho ông quyền cai quản vương quốc của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc nổi dậy của Lê Lợi thực sự đã dẫn đến sự trả giá của nhà Minh, vì ông đã đánh bại quân đội nhà Minh xâm chiếm Việt Nam trong 2 thập kỉ[2]. Vì vậy, có vẻ như là có một sự trái ngược lớn giữa lời nói cảm ơn của Lê Lợi và thực tế vừa xảy ra.

Những sự kiện như sự kiện này, và sự miễn cưỡng hay không thể nắm bắt một thế giới mà trong đó sự bất bình đẳng thường thấy hơn ngày nay của chúng ta ở thời hiện đại, đã dẫn các học giả đến quan điểm cho rằng có một sự khác biệt giữa lối nói tu từ  trong các mối quan hệ triều cống và sự thực mà lối nói tu từ che giấu[3]. Thực ra, đối với hầu hết các học giả Việt Nam ngày nay, không nghi ngờ gì nữa “Việt Nam” luôn luôn độc lập. Bất chấp một thực tế là khái niệm “độc lập” (獨立) chỉ du nhập vào tiếng Việt ở đầu thế kỉ XX, các học giả ở Việt Nam ngày nay được thuyết phục rằng có một vương quốc độc lập ở đồng bằng sông Hồng trong thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, và rằng sau một ngàn năm Bắc thuộc, vương quốc độc lập đó tái xuất hiện và làm ra vẻ một nhà nước triều cống trong 1000 năm tiếp theo từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.

Tuy nhiên, một sự tin chắc về mặt quyền lực như vậy ngồi không thoải mái với số lượng rất lớn những thông tin cho thấy vô số cách thức mà giới tinh hoa người Việt, những cá nhân thi hành các sự vụ ngoại giao của vương quốc, tin rằng cái đem lại cho vùng đất của họ sự tồn tại và ý nghĩa cho nó là những sự liên hệ của nó với đế chế phương Bắc, những sự liên hệ luôn luôn bất bình đẳng về bản chất. Ngay khi giới trí thức ở đồng bằng sông Hồng bắt đầu ghi chép thông tin về vùng đất của họ, thay vì nhấn mạnh vào tính khác biệt hay bình đẳng của nước mình, họ lại tưởng tượng và sáng tạo ra vô vàn cách thức chính thể của họ được liên kết với Bắc Quốc (北國), như họ vẫn gọi cái mà ngày nay chúng ta gọi là “Trung Quốc”, và luôn kết nối bằng những cách thức đặt nó vào một vị thế bất bình đẳng. Cụ thể là, mặc dù họ thường gọi vùng đất của mình là “Nam Quốc” (南國), theo đó ngụ ý rằng nó là một dạng đối tác với Bắc Quốc, trí thức Việt khá rõ ràng trong  việc thừa nhận rằng tất cả tri thức và các thực hành văn hóa mà họ đánh giá cao là đến từ “phương Bắc”, và rằng qua sự lan truyền về Nam của những hiện tượng đó mà “phương Nam” đạt được thành tựu.

Tuy nhiên, đồng thời, trong các nguồn tư liệu Việt tiền hiện đại, chúng ta có thể thấy vị vua của Nam Quốc nhiều lần được gọi là hoàng đế, một khái niệm được nói là [chỉ] dành cho ông vua của Trung Quốc. Việc hiểu được điều có vẻ nghịch lí giữa những cách giới trí thức Việt xem vùng đất của họ là dựa vào và đứng hàng hai sau phương Bắc và sự đề cập đến các vị vua của họ là những vị hoàng đế là chiếc chìa khóa cho bất kì ai muốn hiểu rõ những mối quan hệ giữa hai vùng đất ấy trong các giai đoạn tiền hiện đại. Rốt cuộc, tôi không nghĩ rằng nghịch lí này có thể được lí giải như là [quan hệ giữa] lối nói tu từ và hiện thực. Một sự lí giải như thế phù hợp với bảng giá trị và những ý tưởng đương thời của chúng ta hơn, nhưng điều chúng ta thấy khi chúng ta khảo sát tư tưởng của trí thức Việt tiền hiện đại là họ tiếp nhận thế giới bằng những khái niệm rất khác với chúng ta ngày nay.

Đây là một chủ đề các học giả chưa khảo sát một cách thỏa đáng. Ít nhất trong 50 năm trở lại đây, mô hình chủ đạo đã có là xem “Việt Nam” như một vương quốc độc lập và khác biệt trong lịch sử mặc dù vị thế chính thức của nó lại là một chư hầu của “Trung Quốc”. Tuy nhiên, một cái nhìn như vậy là một truyền thống được sáng tạo ra. Ở đầu thế kỉ XX, các trí thức cải cách, trong một thực thể đã trở thành Đông Dương thuộc Pháp trước đó không lâu, bắt đầu tiếp xúc với các khái niệm về quá khứ từ châu Âu và châu Mỹ khi họ được giới thiệu các “tân thư” (新書) của các nhà canh tân người Hoa như Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, những người lại chịu ảnh hưởng bởi trước thuật của các trí thức khác người Nhật. Được gợi hứng bởi những cái nhìn mới, và khiếp sợ những cảnh báo của thuyết tiến hóa  xã hội rằng các quốc gia có thể biến mất dễ dàng nếu chúng không đủ mạnh, các trí thức cải cách ở đầu thế kỉ XX này bắt đầu viết lịch sử Việt Nam bằng những cách thức mới triệt để. Đó là giai đoạn mà những ý tưởng về độc lập và sự khác biệt văn hóa bắt đầu giữ địa vị chủ chốt.

Tuy nhiên, trước thế kỉ XX, giới trí thức – những người ghi chép thông tin về các triều đại Việt kế tiếp nhau – không nhấn mạnh vào các vấn đề về độc lập hay khác biệt. Thay vào đó, họ tự hào về những cách thức vùng đất của họ giống với vương quốc phía Bắc. Đây là một chủ đề mà tôi đã viết trước đây[4]. Cụ thể, tôi đã nhận thấy rằng trí thức Việt nhiều lần coi vùng đất của họ là cái mà tôi gọi là “khu vực văn minh sáng sủa” (văn hiến chi bang 文獻之邦). Một vùng đất văn minh là một vùng đất mà ở đó tất cả những ý tưởng và đối tượng cũng như những thực thành văn hóa và lễ nghi xuất hiện ở thời cổ trong khu vực thuộc Trung Quốc ngày nay, từ chữ Hán cổ và các sách kinh điển (經, kinh) viết bằng chữ Hán, đến mũ áo của quan chức, đến toàn bộ những nghi lễ mà họ trình diễn chiếm ưu thế. Cho đến thế kỉ XV, trí thức Việt đã tuyên bố một cách tự hào rằng mảnh đất của họ là “văn hiến chi bang”. Tuy nhiên, đồng thời, họ cũng nhiều lần than vãn về việc vùng đất của họ, với tư cách là văn hiến chi bang được thừa nhận, không đến gần được trình độ văn minh như Bắc Quốc.

Tham luận này bổ sung cho bài báo trước đây bằng việc khảo sát những hiện tượng có liên quan. Theo các trí thức Việt, những người viết lách ở giữa thế kỉ XV và thế kỉ XIX, vương quốc của họ trở thành “văn hiến chi bang” bởi những nỗ lực của những cá nhân nhất định. Trí thức Việt chép rằng những người đầu tiên đặt nền móng cho sự xuất hiện thực sự chính thể của họ với tư cách là một “văn hiến chi bang” là hậu duệ của một vị thủ lĩnh trong huyền thoại từ thời Thượng cổ Trung Quốc, như chúng ta thường gọi, nhưng những trí thức Việt ấy chỉ đơn thuần gọi là “thời cổ xưa” theo số ít. Những cá nhân huyền thoại này bắt đầu cai trị một địa bàn riêng, nhưng họ chưa đề cao những học thuyết khác nhau gắn với một “văn hiến chi bang”. Những người đầu tiên làm điều đó, theo trí thức Việt từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, là những nhân vật lịch sử nhất định đến đây từ phương Bắc. Một người đã thiết lập một vương quốc của riêng mình ở khu vực này ở thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch, và một người đóng vai trò một viên Thái thú ở thế kỉ II sau Công lịch trong thiên niên kỉ mà đồng bằng sông Hồng là một phần của các đế chế phương Bắc khác nhau. Những cá nhân này, trí thức Việt đời sau cho rằng, đã đặt nền móng cho sự phát triển của “văn hiến chi bang” bằng những hành vi và đức hạnh của họ, cái tạo nên những hành vi ấy. Sau khi một vương quốc tự trị được thiết lập ở đồng bằng sông Hồng vào thế kỉ X, những người chính trực đạo đức ở khu vực này đã đi theo mẫu hình đó. Khi họ làm vậy, địa bàn mở rộng và những sự phát triển này được nhận ra ở trên trời và trên vùng đất này, như các trí thức Việt, giống như các đối tác của họ trên khắp phần còn lại của Đông Á, tin rằng hành vi của các cá nhân chính trực đạo đức sẽ được phản ánh ở trên trời và trên mặt đất.

DaiVietSuKyToanThu

Đây là những chủ đề mà tham luận này sẽ khảo sát, và điều chúng ta sẽ thấy là chúng cho thấy một sự phức tạp rất lớn trong thế giới quan của trí thức Việt tiền hiện đại, đến nỗi nó trở thành bất khả khi muốn nhìn nhận thứ ngôn ngữ trong các tài liệu trao đổi với triều đình phương Bắc đơn thuần là lối nói tu từ. Trong khi khảo sát các phương diện thế giới quan của  trí thức Việt tiền hiện đại, tham luận này sẽ dựa nhiều vào cuốn biên niên sử chính thức ở thế kỉ XV là cuốn Đại Việt sử kí toàn thư (大越史記全書) của Ngô Sĩ Liên, và cụ thể là những ý tưởng của tác giả cuốn sách. Tham luận này cũng sẽ xem xét một số tư liệu ở đầu thế kỉ XIX để có một ý niệm về tư tưởng của giới trí thức trong giai đoạn này. Tuy nhiên, do khuôn khổ cực kì hạn chế, tham luận này sẽ chỉ cung cấp một phác thảo về cái rốt cuộc là một chủ đề chi tiết và phức tạp hơn.

Bảng phả hệ

Ở thập niên 960s một người có tên là Đinh Bộ Lĩnh đã dựng nên một vương triều ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Ông làm điều đó không phải bằng việc đánh đuổi “người Hoa” và tuyên bố “độc lập”. Thay vào đó, ông liên minh với một sứ quân người Quảng Đông và đánh bại các sứ quân khác trong khu vực, một số trong đó chắc là người Hoa Hán, nhưng những người khác có lẽ là người Việt hoặc người nói tiếng Thái. Ở thập niên 970s, Đinh Bổ Lĩnh phái sứ thần sang triều Tống để thiết lập quan hệ. Đầu tiên, nhà Tống phong cho Đinh Bộ Lĩnh chức Tiết độ sứ (節度使) sau đó là Quận vương (郡王), tiếp tục một tập tục đã từng được áp dụng không liên tục bởi các triều đại kế tiếp nhau từ Hán đến Tống là việc phong tước hiệu cho các cá nhân đã chiến đấu để giành được quyền lực ở một khu vực trong đế chế. Tuy nhiên, điều khác biệt lúc này là thực chất tước hiệu ấy sẽ được nâng lên thành “vương” (國王, quốc vương), và vương quốc này sẽ duy trì vị thế của nó là một nhà nước triều cống trong nhiều thế kỉ tiếp theo[5].

“Sự độc lập của người Việt” do đó đi vào một hình thức quan hệ bất bình đẳng. Tuy nhiên, sự nâng cấp khu vực đồng bằng sông Hồng từ một quận lên một vương quốc triều cống đòi hỏi rằng các vị vua Việt phải hợp thức hóa quyền cai trị của họ ở địa phương, và đó là nhiệm vụ mà một nhóm nhỏ các trí thức sẽ thỏa mãn. Công việc của họ sẽ vươn tới sự hoàn thiện với việc công bố cuốn biên niên sử thế kỉ XV của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư. Trong khi không phải là công trình sử học đầu tiên được soạn bởi một học giả Việt, cuốn biên niên sử của Ngô Sĩ Liên độc đáo ở chỗ nó mở rộng tầm bao quát của mình ngược dòng thời gian xa hơn bất kì công trình nào khác của tiền nhân. Ngô Sĩ Liên làm được điều này bằng việc dựa vào một công trình có tên Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (嶺南摭怪列傳), tác phẩm của một tác giả khuyết danh trước đó, và người cùng thời với Ngô Sĩ Liên là Vũ Quỳnh đã duyệt lại và viết thêm bài tựa vào năm 1478. Đây là một tác phẩm về “các câu chuyện về sự kì lạ” hay “miêu tả những việc bất thường” (志怪), một kiểu trước thuật xuất hiện ở Trung Hoa thời Lục Triều và ghi chép thông tin về bất kì và mọi thứ kì lạ hoặc khác thường. Mặc dù một số trong những trước tác sớm nhất bằng thể loại này đã dựa trên những sự kiện có thật hay những báo cáo về những sự kiện như thế, cho đến thời Đường, các câu chuyện về sự kì lạ thường được sáng tạo nhiều hơn bởi giới trí thức từ các thông tin được chọn lọc và tái chế từ các văn bản khác nhau[6]. Đây chắc chắn là sự thật với thông tin về cổ sử trong cuốn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện[7].

Đặc biệt, Ngô Sĩ Liên kết nối sự xuất hiện của các vị thủ lĩnh và chính thể của họ ở đồng bằng sông Hồng thông qua một tuyến hậu duệ của vị thủ lĩnh – thánh nhân “Trung Hoa” huyền thoại, Thần Nông, “nhà nông thần thánh”. Trong khi nhiều học giả hiện đại đã cho rằng đây là một nỗ lực để thể hiện sự “ngang hàng với Trung Quốc”, thì trong thực tế câu chuyện được sáng tác về phả hệ tưởng tượng này dựa trên những ý tưởng về sự bất bình đẳng[8]. Nó lập luận rằng vương quốc đầu tiên xuất hiện ở “phương Nam” và thiết lập  mẫu hình cho các vương quốc đời sau, là kết quả của sự phân phong khi một vị hoàng đế phương Bắc cổ đại [Đế Minh] đã phong cho một người con trai quyền cai quản phương Nam là Kinh Dương Vương (涇陽王), trong khi người anh trai Kinh Dương Vương [là Đế Lai] cai quản phương Bắc[9]. Trong khi bộ biên niên sử của Ngô Sĩ Liên nói nhiều về vị trí của vương quốc này, nó chép rằng thực chất một trong những hậu duệ của Kinh Dương Vương đã thiết lập một vương quốc ở đồng Bằng sông Hồng nơi đã được cai trị bởi một loạt các vị vua được biết đến dưới tên Hùng Vương, các nhân vật ngày nay được xem là bán huyền thoại.

ngomon

Trong khi phả hệ này và mô tả về sự sắc phong của Kinh Dương Vương không thể nào được xem là một mô tả hiện thực về cổ sử Việt Nam, thì cái nó chỉ ra là một ý niệm mà các trí thức ít nhất cho đến thế kỉ XV đã coi là dĩ nhiên, tức là việc vương quốc của họ tồn tại như một nước chư hầu của Bắc Quốc là tự nhiên. Bản chất cơ bản của mối quan hệ  này được làm cho còn rõ hơn trong một câu chuyện khác mà giới trí thức Việt đã tuyên xưng là một phần lịch sử cổ xưa của họ. Câu chuyện này kết nối những thông tin về một họ tộc bí ẩn, họ Việt Thường (越裳, tiếng Trung, Yuechang), được ghi chép trong các tư liệu Hán, như Hán thư (漢書, Hanshu), trong đó có chép rằng ở cuối thiên niên kỉ thứ hai trước Công lịch, các thành viên của một họ tộc bí ẩn là Việt Thường thị, đã bất ngờ đến viếng thăm triều đình Thành Vương nhà Chu từ một nơi nào đó xa về phía Nam và dâng lên ông chim trĩ trắng. Khi Chu Công, chú của Thành Vương, hỏi tại sao họ lại đến bằng cách tuyên bố rằng: “Đức hạnh không vươn đến [tận quê hương các người]. Chúa ta cũng chưa ban tặng vật gì [cho các người]. Không có những cấp bậc nhà nước được đặt ra [gắn với các ngươi]. Chúa ta cũng chưa coi các ngươi là chư hầu”. Việt Thường thị đã đáp rằng “Những người già cả trong vương quốc chúng tôi nói rằng không có gió dữ trên bầu trời, cũng không có những con sóng bạo trên mặt biển đã ba năm rồi, và rằng điều đó có nghĩa là có một vị thánh nhân ở Trung Quốc. Chúng tôi vì thế đến trình diện ở triều đình của vị thánh ấy”[10].

Không có cứ liệu cho thấy những người này đến từ khu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay. Tuy nhiên, trí thức Việt rõ ràng ngụ ý việc này khi họ chọn sáp nhập truyện này vào sách sử mà họ sáng tạo về chính mình. Khi làm như vậy, họ nhấn mạnh rằng từ các giai đoạn sớm nhất trong sự tồn tại được cho của vương quốc mình, người dân ở đây đã nhận ra uy thế của Trung Quốc, và đã thừa nhận thực tế này bằng việc gửi đi các sứ thần để dâng biếu quà cáp, tức là, tham gia vào những thực hành tương tự như các triều đại Việt liên tiếp nhau đã tham gia trong suốt các thế kỉ mà những ý tưởng về quá khứ này đang được sáng tạo ra. Cụ thể, điều câu chuyện này một lần nữa chỉ ra là các trí thức Việt xem mối quan hệ bá chủ-chư hầu giữa Trung Quốc và vương quốc của họ là một điều bình thường. Thông qua bảng phả hệ mà họ tạo ra về cổ sử của mình, và bằng việc kết nối sự triều cống bất ngờ của Việt Thường ở triều Chu với quá khứ của chính họ, trí thức Việt đã nỗ lực sáng tạo ra một phả hệ cho cách thức mà bằng nó họ nhìn thế giới và vị trí vương quốc của họ trong đó.

Đồng thời, một điểm quan trọng khác cần chỉ ra về quá khứ tưởng tượng này là: các học giả như Ngô Sĩ Liên đã nhìn các giai đoạn đầu của lịch sử Việt như là đại diện cho một thời đại chưa hoàn thiện khi mà vương quốc phải phát triển một cách đầy đủ trong một cảm quan luân lí. Trong một bình luận mà ông thêm vào văn bản, Ngô Sĩ Liên chỉ ra một ví dụ về mối quan hệ hôn nhân qua lại trong phả hệ này và khẳng định rằng “Tôi đoán điều này xảy ra bởi đó vẫn là một thời đại nguyên thuỷ và lễ nhạc hoàn thiện chưa trở nên rõ ràng”[11]. Tuy nhiên, thực chất, Ngô Sĩ Liên cảm thấy rằng lễ nhạc hoàn thiện đã trở nên rõ rệt, và ông quy điều này cho nỗ lực của các kiểu mẫu đạo đức nào đó đến từ phương Bắc.

Các kiểu mẫu đạo đức

Cùng lúc với việc Ngô Sĩ Liên ghi chép thông tin về các sự kiện tương truyền thời cổ miêu tả tiền thân của vương quốc mình là một nước chư hầu của Bắc quốc, ông cũng lưu ý tầm quan trọng của các cá nhân đến từ phương Bắc trong việc phát triển khu vực của mình, về mặt chính trị và văn hoá. Người đầu tiên trong những cá nhân đó là một viên Uý phụng sự nhà Tần có tên là Triệu Đà. Nhà Tần là triều đại đầu tiên ở khu vực đã cai quản một địa bàn thống nhất, đơn nhất. Trước nhà Tần, cái đã tồn tại lâu dài ở đấy là một thế giới trong đó có nhiều vương quốc đánh nhau với các vương quốc khác, nhưng về danh nghĩa lại tuyên thệ trung thành với nhà Chu. Tuy nhiên, qua nhiều thế kỉ, con số các vương quốc trong khu vực này giảm dần khi nước yếu hơn bị nước mạnh hơn thôn tính. Quá trình này tiếp diễn cho đến khi nước Tần có thể đánh bại các nước còn lại và tự xưng là nhà cai trị độc nhất của toàn khu vực. Một khi nhà Tần đạt được ưu thế, họ vươn tầm kiểm soát của mình xa về phía nam hơn bất kì nhà cai trị nào khác từng làm, và đặt ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng [Quận] ở khu vực ngày nay là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây.

51YRHMN76JL._SY300_

Triệu Đà vốn đến từ một khu vực ngày nay là tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc và được gửi xuống phương Nam xa xôi của đế chế Tần. Ngay quanh thời điểm mà nhà Tần bắt đầu sụp đổ, Triệu Đà án ngữ các con đèo dẫn lên phương Bắc, giết toàn bộ các quan lại trong khu vực trung thành với nhà Tần, và thiết lập vương quốc của riêng mình là Nam Việt (南越/Nanyue). Trong khi đó, xa về phía Bắc, chiến sự nổ ra ác liệt cho đến khi Lưu Bang lập nên nhà Hán năm 206 trước Công lịch. Mặc dù nhà Hán về mặt lí thuyết cũng là một quốc gia thống nhất, duy nhất, nhưng thực ra nó có 2 kiểu dàn xếp chính trị. Một phần của quốc gia được chia thành các đơn vị hành chính do triều Hán cai trị trực tiếp. Trong khi đó, phần còn lại của đế chế, một vùng ngoại vi lớn kéo dài từ khu Đông Bắc Trung Quốc ngày nay cho đến sông Dương Tử, nằm dưới quyền kiểm soát của một vương quốc khác tuyên thệ trung thành với nhà Hán. Lưu Bang mong muốn thiết lập một sự dàn xếp tương tự với Triệu Đà ở vùng viễn nam, và năm 196 trước Công lịch, ông gửi một sứ giả, Lục Giả, đến thuyết phục Triệu Đà thần phục nhà Hán[12].

Ban đầu Triệu Đà đồng ý, nhưng sau đó các mối quan hệ xấu đi và ông tự xưng là “hoàng đế” cai quản vương quốc của mình. Vị vua nhà Hán sau đó, Hán Văn Đế, đã thành công trong việc đưa Triệu Đà trở lại khuôn khổ khi ông gửi một sứ thần, Lục Giả, đến thuyết phục Triệu Đà về lòng nhân từ của triều Hán, lưu ý với Đà rằng nhà Hán có trách nhiệm bảo toàn lăng mộ của Triệu Đà ở Hà Bắc, và nó cũng phong chức cho anh em của Triệu Đà. Khi biết điều đó, Triệu Đà đồng ý bãi bỏ đế hiệu và tuyên thệ trung thành với nhà Hán.

Ở đỉnh cao quyền lực của mình, Triệu Đà đã cai trị một khu vực bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc và, có thể còn tranh cãi, một phần Bắc Việt ngày nay. Triệu Đà dường như là thuộc tộc người mà ngày nay ta gọi là người Hoa Hán và ông lập một vương quốc nằm ở khu vực chắc chắn bao gồm cư dân thuộc nhiều sắc tộc khác nhau. Tuy nhiên, đối với Ngô Sĩ Liên ở thế kỉ XV, vấn đề không phải ở sắc tộc hay ngôn ngữ của ông, mà là đức hạnh [đức – HQV] của ông. Ngô Sĩ Liên ca ngợi những thành tựu của Triệu Đà bằng cách đánh giá rằng:

“Truyện [Trung Dung] có câu: “Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu”[13]. [Vũ] Đếlàm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức hạnh mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao[14]. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổtiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: “Biêt khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua”[15]. Vua chính hợp câu ấy”[16].

Đối với một học giả như Ngô Sĩ Liên, đức hạnh là một phẩm chất mà chỉ có một số người nào đó mới có thể đạt được thông qua những thực hành nào đó. Cụ thể, đức hạnh là một phẩm chất mà người ta chỉ có thể đạt được thông qua việc nghiên cứu kinh điển Nho giáo, và bằng cách theo những nghi lễ và kiểu mẫu ứng xử ghi trong các sách đó. Triệu Đà, theo Ngô Sĩ Liên, đã làm được điều đó. Tuy nhiên, để những nghi lễ và kiểu mẫu ứng xử được duy trì ở một nơi như đồng bằng sông Hồng, các văn bản trình bày về chúng phải được đưa đến và dạy cho người dân. Đây rõ ràng là cái mà trí thức Việt đã tin rằng một vị Thái thú phương Bắc có tên là Sĩ Nhiếp đã làm ở những năm cuối triều nhà Hán.

bachviet

Mặc dù gia tộc Sĩ Nhiếp vốn từ một khu vực ngày nay là tỉnh Sơn Đông, và cho đến thời điểm ông sinh ra năm 137 sau Công lịch, họ Sĩ đã sống ở Thương Ngô, nay là tỉnh Quảng Tây, qua nhiều thế hệ. Sĩ Nhiếp bước vào chế độ triều Hán thông qua con đường khoa cử và thực chất đươc chỉ định vào chức Thái Thú Giao Chỉ, bao trùm khu vực Đồng bằng sông Hồng. Dưới sự cai quản của Sĩ Nhiếp, quận Giao Chỉ giữ được vị thế một ốc đảo thanh bình trong khi nhiều phần còn lại của khu vực rơi vào hỗn loạn cùng với sự sụp đổ dần của nhà Hán[17].

Khi các học giả Việt bắt tay lắp ghép một lịch sử cho vương quốc mình, họ cho rằng giai đoạn Sĩ Nhiếp cai quản quận Giao Chỉ là giai đoạn mà các văn bản và các nghi lễ vốn cho phép người ta phát triển đức hạnh lần đầu tiên đã được truyền dạy. Do đó, Ngô Sĩ Liên bình luận rằng: “Nước ta thông ‘thi thư’, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương,[tức Sĩ Nhiếp][18]”. Đây là một cái nhìn dần được giới trí thức ủng hộ rộng rãi ở các thế kỉ sau thời điểm Ngô Sĩ Liên soạn sách sử của mình ở cuối thế kỉ XV. Đối với các trí thức Việt đời sau, nỗ lực đẩy mạnh việc truyền bá của Sĩ Nhiếp đã bắt đầu với sự thiết lập vương quốc của Triệu Đà ở khu vực này. Chúng ta có thể thấy điều này trong những bình luận dưới đây của một tác giả Việt thế kỉ XIX ẩn danh. Tác giả này bắt đầu bằng cách lưu ý rằng trước thời Triệu Đà, người dân ở khu vực này đã “nói như chim và xăm mình, và phong tục của họ thô sơ”. Rồi ông tiếp tục khẳng định rằng:

“Kịp đến lúc Sĩ Phủ Quân đem sóng dư của sông Thù sông Tứ[19] tràn dần qua Nam Hải,   bàn  việc  trở  đầu  trong  hội  can  qua,  gảy  đờn  ca  ở  làng  hầu hến, người nghe điếc tai vì tiếng chuông,  thanh giáo phổ cập đến đâu là đấy hấp thụ được Hoa phong [華風][20]. Sau này, triều Lý, triều Trần, triều Lê thay đổi  nhau  dựng  trường  học, đặt   khoa  t hi,   văn  t rị  bột   phát   trên  dưới  vài nghì n  năm  trăm  năm,   nhân  tài  bối  xuất ,   bèn  xưng  là  nước  văn  hiến”[21]

Theo đó, tác giả này xem Sĩ Nhiếp là một nhân vật quan trọng trong một quá trình dài lâu mà nhờ nó đồng bằng sông Hồng thực sự trở thành “văn hiến chi bang”, tức là, một vương quốc theo rập khuôn các thực hành văn hoá của giới tinh hoa học theo các triều đại kế tiếp nhau ở phía Bắc. Trong khi Ngô Sĩ Liên cho rằng đức hạnh của Triệu Đà đã cho phép ông ta xây dựng một vương quốc trong khu vực, thì tác giả này lại cho rằng Sĩ Nhiếp bắt đầu quá trình giáo hoá người dân ở khu vực trở thành những cá nhân chính trực đạo đức bằng cách dạy cho họ giáo lí của cái ngày nay chúng ta gọi là Nho giáo. Khi điều này xuất hiện, một cái được gọi là “ghi chép của trời” (thiên thư) sau đó cũng bắt đầu hiện diện.

Ghi chép của trời

Theo các trí thức Việt, Triệu Đà chứng minh rằng việc sở hữu đức hạnh cho phép một người có thể tạo lập và cai trị một vương quốc, trong khi đó Sĩ Nhiếp dạy cho người dân ở khu vực đồng bằng sông Hồng cách phát triển đức hạnh của chính mình. Khi họ thực sự bắt tay làm như vậy, sự chuyển hoá trong lĩnh vực nhân cách được phản ánh bởi những thay đổi ở trên trời và dưới đất. Có một điều được chấp nhận rộng rãi ở Đông Á là sự tương ứng trực tiếp giữa sự phân chia các chính thể dưới mặt đất và các chòm sao trên bầu trời. Như học giả Việt đầu thế kỉ XIX là Phạm Đình Hổ đã lưu ý “theo các nhà thiên văn, có chín châu trên mặt đất và chín vùng lãnh thổ trên trời”[22]. Hơn nữa, các trí thức có học ở Đông Á tiền hiện đại cũng tin rằng sự tương ứng này không vốn dĩ tồn tại, mà thay vào đó, nó được tạo ra thông qua những hành vi của các cá nhân chính trực đạo đức.

Image

Một học giả Việt đầu thế kỉ XIX khác là Phan Huy Chú, lưu ý điều này khi ông mô tả phần thế giới nơi mà vương quốc của ông toạ lạc đã hình thành từ thời viễn cổ [như thế nào]. Trích:

“Từ thưở đất trời [được hình thành], đã có núi và sông. Cũng như các chòm sao có khác nhau, các vùng lãnh thổ cũng khác biệt. Mỗi vương quốc có chủ quyền riêng của mình. Thiết lập cương vực và vạch ra các khu vực là nhiệm vụ đầu tiên khi tạo dựng một vương quốc. Người Việt ta trước đây sống ở những nơi hoang đãng xa xôi. Đạo của chúng ta chưa theo được đạo của Trung Quốc. Trước thời nhà Thương và nhà Chu, đây là một khu vực đầy đầm lầy rắn rết. Lúc bấy giờ đất đai và sông ngòi được bố trí hỗn độn, núi và biển đứng tách biệt, và những nguyên tắc về ranh giới vì vậy vẫn chưa rõ ràng”[23].

Điều Phan Huy Chú khẳng định ở đây là: khởi nguồn khu vực đồng bằng sông Hồng đã tồn tại trong một trạng thái hỗn độn nguyên sơ. Trong khi có thực tế là “cũng như các chòm sao có khác nhau, các vùng lãnh thổ cũng khác biệt”, và “mỗi vương quốc có biên giới của riêng nó” cả về thực địa lẫn thần thiêng, thì những ranh giới và sự khác biệt đó không phải là rõ ràng trước khi có những nỗ lực của con người nhằm khám phá và làm chúng trở nên rõ ràng. Thêm nữa, “phong khí” ((風氣) của những người này phải tiếp cận với phong khí của Trung Châu (中州), tức “Trung Quốc”, để khiến cho những sự biến cải đó xảy ra. Các học giả như Phan Huy Chú cho rằng ở thời viễn cổ các cá nhân tiêu biểu cho phẩm hạnh ấy chưa xuất hiện. Do đó, họ chưa thể “thiết lập những đường biên và phác ra những vùng lãnh thổ” một cách đầy đủ. Tuy nhiên, khi người ta dần vun trồng phẩm chất đạo đức, hàm ơn sự truyền bá Nho giáo của những người như Sĩ Nhiếp, thì có những cá nhân rốt cuộc cũng xuất hiện, những người sở hữu tầm cỡ đạo đức cần thiết cho nhiệm vụ này, và khi họ xuất hiện, cái được gọi là “ghi chép của trời” (天書 “thiên thư”) sẽ dần hiển lộ.

Image

Sự đề cập đến “thiên thư” là tương đối phổ biến trong các trước tác Việt tiền hiện đại. Nó cũng xuất hiện trong các văn bản Trung Hoa, nhưng không với ý nghĩa hoàn toàn giống. Người Trung Hoa sử dụng khái niệm này trong nhiều thế kỉ để chỉ một dạng văn viết đặc thù như chiếu thư của hoàng đế hay một văn bản thần thiêng. Với nghĩa thứ hai, các học giả đã dịch khái niệm này là “trước tác của trời”/“sách trời” (celestial writing), và cho rằng một nghi lễ tiếp nhận văn bản thần thiêng từ trước tác của trời xuất hiện suốt thời Lục Triều trong giới Đạo sĩ[24]. Ở nghĩa này thì có lẽ khái niệm này được sử dụng lần đầu ở đồng bằng sông Hồng vào cuối thế kỉ XI, nhưng ở các thế kỉ sau, các trí thức Việt đã cung cấp cho khái niệm ấy ý nghĩa mở rộng, và bằng việc làm như vậy họ đã tạo ra một khái niệm mới, mà tôi gọi là “ghi chép của trời” (celestial scripting).

Việc dùng khái niệm “trước tác của trời”/sách trời lần đầu tiên đến từ một bài thơ mà một số đội quân Việt nghe được theo một cách thức kì lạ trong không trung trước khi tham gia trận chiến với quân nhà Tống ở thế kỉ XI. Bài thơ như sau:

Hoàng đế nước nam cai quản núi sông của Nam Quốc,Điều này được phân định rõ ràng trong sách trời.

Bọn kẻ cướp này làm sao có thể đến và xâm lược,

Hãy nhìn và thấy chúng sẽ chịu một thất bại hoàn toàn[25]

南國山河南帝居截然分定在天書

如何逆虜來侵犯

汝等行看取敗虛

Kể từ khi đây là lần đầu tiên khái niệm “sách trời” xuất hiện trong các tư liệu Việt được ghi chép, khó mà nói chắc chắn rằng nó biểu thị cái gì ở thế kỉ XI. Tuy nhiên, ở các thế kỉ sau, trí thức Việt dùng khái niệm này theo một cung cách  rõ ràng. Cụ thể, họ xem khái niệm này chỉ quá trình nhờ đó những khuôn mẫu ở trên trời tương ứng với các đường biên của một vương quốc bên dưới trở nên hiển lộ khi con người đem lại trật tự cho thế giới và phân định rõ ràng ranh giới trên mặt đất. “Ghi chép của trời” như tôi muốn dịch khái niệm “thiên thư” như thế trong các ngữ cảnh này, vì vậy có xu hướng chỉ quá trình  nhờ đó những khuôn mẫu trên trời được khắc ghi nhằm cộng hưởng với những khuôn mẫu mà con người đã làm rõ trên mặt đất thông qua hành vi và quy tắc đạo đức. Hơn nữa, đây là một quá trình mà các trí thức Việt cho là đã phát triển và mở rộng theo thời gian. Chẳng hạn, đối với Phan Huy Chú, vị quan chức học giả đầu thế kỉ XIX mà chúng ta thấy lập luận luận ở trên rằng ở thời viễn cổ “đất đai và sông ngòi được bố trí hỗn độn, núi và biển đứng riêng biệt, và những nguyên tắc về ranh giới vì vậy vẫn chưa rõ ràng”, sự thiết lập một triều đại ở khu vực này ở đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch bởi những vị thủ lĩnh được biết đến với danh xưng Hùng Vương ấy bắt đầu đưa sự hỗn độn ấy vào trật tự, và điều này được phản ánh trong “ghi chép của trời”. Vì vậy, ông lưu ý rằng “từ khi Hùng vương lập nước bằng cách phân định cương giới và dựng kinh đô, ghi chép của trời về núi sông của vùng đất phương Nam đã ít nhiều được xác lập” (lược định, 略定)[26].

Image

Trong khi người ta có thể diễn giải khái niệm “thiên thư” trong bài thơ trên để chỉ ra rằng ghi chép của trời đã thành “được phân định rõ ràng” cho đến thế kỉ XI, thì có những trí thức ở các thế kỉ tiếp theo không tin điều này hoàn toàn là sự thật. Thay vào đó, các thế hệ học giả tiếp sau xem vương quốc của họ đã nhận được dạng thức lãnh thổ chính đáng cho nó với sự hưởng ứng của các khuôn mẫu trên trời ở một niên đại muộn hơn, chẳng hạn như khi nhà Nguyễn nắm quyền vào thế kỉ XIX[27]. Cụ thể, khi đế chế bành trướng, ghi chép của trời cũng hưởng ứng theo. Vì vậy, ở đầu thế kỉ XIX chúng ta thấy Lê Quang Định, một học giả-quan chức phụng sự nhà Nguyễn mới được thiết lập đã khẳng định rằng:

“Khoảng hơn 1000 năm từ thời Kinh Dương Vương… kịp đến triều Lý, Trần và Lê, ghi chép của trời vạch giới hạn ở Hoàng Sơn [khoảng vĩ tuyến 18]. Liệt thánh vương của chúng ta [tức tổ tiên của nhà Nguyễn] đã thiết lập một lãnh địa bao trùm địa bàn của Champa, Chân Lạp và bốn phủ là Quy Nhơn, Hoài An, Quảng Nam và Bình Thuận. [Lúc bấy giờ], đất này vẫn bị chia cắt ở Linh Giang[28]. Người dân không hiểu chữ nghĩa, và các quan nha rất nhiều và lộn xộn. Trời oai nghiêm đã phù hộ chúng ta thiết lập một triều đại. Khởi từ phía Đông, nó dần trùm cả rìa Nam. Các đường biên được ổn định và vùng đất được nhất thống. Những ảnh hưởng của phong giáo [tức Nho giáo] giờ đây có thể thâm nhập khắp nơi[29].

Ở đây chúng ta nhận được chiếc chìa khoá của cái cho phép “ghi chép của trời” tự bộ lộ bản thân. Trong khi có một sự thật là con người cần phải trước hết phân định các đường biên trên mặt đất làm xuất hiện sự cộng hưởng trong ghi chép của trời, thì tuy vậy chỉ có những người chính trực đạo đức mới có thể thực hiện thành công. Thêm nữa, cũng những vị thủ lĩnh đạo đức chính trực này, những người có khả năng phân định các đường biên trên mặt đất, dĩ nhiên sau đó cũng cố gắng để giáo hoá người dân sống ở bên trong biên giới lãnh thổ của họ bằng cách khiến họ đi theo ít hay nhiều các học thuyết mà họ theo đuổi. Do đó, những gì các ghi chép của trời chỉ ra không đơn thuần chỉ là có một vương quốc trên mặt đất sở hữu những đường biên được phân định rõ ràng, mà còn là vương quốc này cũng được cai trị bởi một vị thủ lĩnh đạo đức chính trực, người đang nỗ lực để giáo hoá dân chúng theo những mạch lối của Nho giáo.

Kết luận

Theo nghĩa đen, những bình luận, mà chúng ta thấy trong các ghi chép lịch sử Việt Nam chỉ ra rằng việc ghi chép của trời đến từ “sự lược định” trong Hùng Vương đến khi “được phân định rõ ràng” ở thế kỉ XI, đã phản chiếu những bình luận cho rằng đức hạnh là khá yếu ớt ở thời cổ, sau đó dần được thiết lập khi những người phương Bắc như Triệu Đà và Sĩ Nhiếp mang giá trị này tới phương Nam và dạy cho người dân cách sống theo một cách thức khiến họ trở nên chính trực đạo đức. Nói khác đi, trí thức Việt hình dung một quá trình tiệm tiến lâu dài trong đó đức hạnh cần thiết cho sự thiết lập một chính thể riêng dần dần lan rộng về phương Nam, đầu tiên qua những nỗ lực của những viên quan cai trị người phương Bắc, và sau đó qua nỗ lực của trí thức phương Nam. Trong khi kết quả cuối cùng là sự xuất hiện của một vương quốc riêng, thì cái nằm dưới vương quốc riêng này là một nhận thức về sự gắn bó sâu sắc của bộ phận trí thức Việt trong vương quốc của họ với Bắc quốc. Hơn nữa, với tư cách là nơi khởi nguồn của đức hạnh – cái khiến cho sự xuất hiện của Nam Quốc thành khả thi, Bắc Quốc nằm trong một kiểu phân loại của chính nó. Nam Quốc không ngang hàng với nó, và không bao giờ có thể ngang hàng chừng nào nhãn quan tiền hiện đại này còn thấm đẫm trong tư tưởng của trí thức Việt. Do đó, ngôn ngữ tinh vi của những văn bản chính thức được trao đổi giữa triều đình 2 vương quốc trong quá khứ không nên được xem thuần tuý là lối nói tu từ vì có những ý tưởng sâu xa mà chúng dựa vào, những ý tưởng mà giới tinh hoa có học vấn ở cả phương Bắc và phương Nam tin tưởng và ủng hộ.


[1] Long Biên là tên cũ của Hà Nội. Tượng Quận là tên của một đơn vị hành chính được đặt ra bởi nhà Tần ở khu vực ngày nay là tỉnh Quảng Tây và có lẽ một phần của Bắc Việt. Lĩnh Giao  là một khái niệm chỉ cũng khu vực như Lĩnh Nam, tức là, chỉ khu vực phía nam những dãy núi chạy dọc biên giới tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Ẩn danh, Bang giao luc 邦交錄 [Record of interdomainal relations], (thế kỉ XIX), A.691, 1/25a. [Lĩnh Giao có lẽ là kết hớp 2 từ Lĩnh Nam và Giao Nam mà thành – HQV].

[2] Tổng quan về sự xâm lược của nhà Minh tốt nhất vẫn là công trình của Alexander Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam,” Papers on China, 17.4 (1963): 1-37.

[3] Khẳnng định của Fairbank và Teng rằng “triều cống là một chiếc mặt nạ che đậy việc buôn bán” đã có một ảnh hưởng dai dẳng nhất. Xem John K. Fairbank và S. Y. Teng, “On the Ch’ing Tributary System,”  Harvard Journal of Asiatic Studies 6 (1941): 141

[4] Liam C. Kelley, “Vietnam as a ‘Doman of Manifest Civility’ (Van Hien chi Bang),” Journal of Southeast  Asian Studies 34.1 (2003): 63-76.

[5] Về một công trình sử học về lịch sử Việt Trung trong giai đoạn này, xem James Anderson, The Rebel Den of Nung Tri Cao: Loyalty and Identity along the Sino-Vietnamese Frontier (Seattle: University of Washington Press, 2007).

[6] Muốn biết nhiều hơn về thể loại này, xem Robert Ford Campany, Strange Writing: Anomaly Accounts in Early Medieval China (Albany: State University of New York Press, 1996). 7.

[7] Liam C. Kelley, “The Biography of the Hong Bang Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition,” Journal of Vietnamese Studies 7.2 (sắp ra năm 2012).

[8] Về một ví dụ lập luận tương tự, xem Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), 309.

[9] Ngo Si Lien 吳士連, Dai Viet su ky toan thu 大越史記全書 [Complete book of the historical records of  Dai Viet], Chen Jinghe, biên tập (Tokyo: Toyo Bunko, 1984, nguyên bản soạn năm 1479), 97.

[10] Ban Gu 班固, Hanshu 漢書[History of the Han], (first cent. C.E.), Benji, juan 12.

[11] Ngo Si Lien, 98.

[12] Sima Qian 司馬遷, Shiji 史記 [Historical records], (first cent. B.C.E.), Nanyue zhuan, hoặc Sima Qian, Records of the Grand Historian: Han Dynasty II, bản dịch, Burton Watson (New York: Columbia University Press, 1993 revised edition, original edition, 1961), 207-8

[13] Zhongyong 中庸 [Doctrine of the mean], 17; James Legge,  The Chinese Classics, vol. I (Hong Kong: Hong Kong University Press, 1960), 398-99.

[14] Tức Lưu Bang, người sáng lập nhà Hán.

[15] Yijing 易經 [Classic of changes], Qian gua; Richard Wilhelm, The I Ching or Book of Changes, Cary F. Baynes  dịch (Princeton: Princeton University Press, 1967), 462. 16

[16] Ngô Sĩ Liên, 114.

[17] Taylor, 70-80.

[18] Ngo Si Lien, 133.

[19] Sông Thù và sông Tứ nằm ở Sơn Đông, nơi sinh Khổng Tử. Do đó “những con sóng còn lại” (dư ba) [tức là tất cả cái có thể lan đến tận phương Nam) được dùng ở đây để ẩn dụ cho giáo lí Nho giáo.

[20] Tác giả Liam Kelley dịch là “phong tục rực rỡ” (Efflorescent customs). “Hoa phong” có lẽ còn là “phong tục của người Hoa” chăng?

[21] Ly Te Xuyen 李濟川, Viet dien u linh tap luc toan bien  越甸幽靈集錄全編 [Complete compilation of  the collected records of the Viet realm’s spirits of the departed],  trong Yuenan Hanwen xiaoshuo congkan 越南漢文小説叢刊 [Collection Romans & Contes du Viet Nam écrits en Han (sic)], Chan Hing-ho 陳慶浩, Cheng A-tsai 鄭阿財 và Tran Nghia 陳義 biên tập, series II, vol. 2 (Paris and Taipei: École Française d’Extrême Orient and Student Book Company, 1992), 171. Đây là một dị bản ở thế kỉ XIX của một công trình được công bố lần đầu ở thế kỉ XIV. Dị bản này có lời “tiếm bình” của các học giả được xác định là đời sau. Đoạn văn trên là từ một lời tiếm bình như thế.  [Bản dịch ở đây là của Nguyễn Đỗ Mục],

[22] Pham Dinh Ho 范廷琥, Bi khao 備考 [Awaiting examination], (đầu thế kỉ XIX), A. 956, 1/26a.

[23] Phan Huy Chu 潘輝注, Lich trieu hien chuong loai chi 歷朝憲章類誌 [Cataloged record of the institutions of successive dynasties], (1821), A.50, 7.

[24] Shu-wei Hsieh, “Writing from Heaven: Celestial Writing in Six Dynasties Daoism” (Luận án Tiến sĩ, Indiana

University, 2005).

[25] Ngo Si Lien, 249.

[26] Phan Huy Chu, 33. “Núi và sông” được dùng ở đây cả theo nghĩa đen và nghĩa biểu trưng. Về nghĩa biểu trưng, “núi và sông” có thể đại diện cho toàn bộ lãnh thổ của một vương quốc xác định.

[27] Chẳng hạn, xem Khuyết danh, Việt Nam dư địa chí  越南輿地誌 [Gazetteer of the territory of Viet Nam], (thế kỉ XIX), A. 1829, 1a-b.

[28] Các địa điểm được đề cập trong 2 câu này đều là về phía Nam của miền Trung Việt Nam ngày nay.

[29] Bình luận này được trích trong Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập I [Discovering the treasury of (texts in) classical Chinese and Nom] (Hà Nội: Thư Viện Quốc Gia, 1970), 331.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: