Archive | May, 2014

Chủ nghĩa tượng trưng sắc tộc và dân tộc Việt Nam

28 May

Chủ nghĩa tượng trưng-sắc tộc và dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Khải
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Nghiên cứu về các dân tộc và chủ nghĩa dân tộc là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn và phức tạp, nhưng có thể chỉ ra 3 hướng tiếp cận chính đã được áp dụng trong việc nghiên cứu này.
1) Có cái nhìn theo hướng vĩnh cửu chủ nghĩa cho rằng các dân tộc ít hay nhiều luôn luôn tồn tại (một cái nhìn giờ đây hầu như đã bị nghi ngờ).
2) Có cái nhìn theo hướng hiện đại chủ nghĩa cho rằng các dân tộc xuất hiện ở thế kỉ XIX và XX cùng với quá trình hiện đại hóa.
3) Có cái nhìn theo hướng chủ nghĩa tượng trưng-chủng tộc nhất trí với các nhà hiện đại chủ nghĩa rằng các dân tộc đương đại được đúc ra ở thời hiện đại, nhưng còn lập luận xa hơn rằng người ta có thể tìm thấy những gốc rễ của nhiều dân tộc ở thời tiền hiện đại trong hình thức của những cộng đồng sắc tộc hay những “tộc người”.
esn
Ngày nay một trong những người đề xướng hướng tiếp cận tượng trưng-chủng tộc này là Anthony Smith. Smith đã viết nhiều về chủ đề này, và dễ dàng nhận thấy rằng lịch sử dân tộc Việt Nam rất hợp với những ý tưởng của ông.
Trong công trình gần đây của mình: Chủ nghĩa tượng trưng-chủng tộc và Chủ nghĩa dân tộc: Một hướng tiếp cận văn hóa (2009), Smith định nghĩa một “tộc người” như sau:
“… một cộng đồng người có tên gọi và tự xác định, trong đó các thành viên có một huyền thoại về tổ tiên chung, kí ức chung, một hoặc nhiều nhân tố văn hóa chung, bao gồm sự kết nối với lãnh thổ, và một tiêu chuẩn về sự thống nhất, chí ít là trong tầng lớp trên” (27).
esn-quote
Vậy là, đối với Smith, một cộng đồng sắc tộc có thể tồn tại ở “tầng lớp trên”, giữa những thành viên của giới tinh hoa. Ông gọi kiểu “tộc người” này là “tộc người bên trên” (một cộng đồng sắc tộc bao trùm đỉnh của một xã hội). Cách thức những dân tộc được hình thành từ “tộc người bên trên như thế” là thông qua sự mở rộng của nhà nước quan liêu” (mà tộc người bên kiểm soát).
niquote
Smith bàn về việc làm thế nào hiện tượng này xảy ra ở trường hợp các dân tộc châu Âu trong công trình năm 1991 của ông, Căn cước dân tộc, như sau: “Ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển và ở một mức độ nào đó là Ba Lan và Nga, tộc người bên chính, cái cấu thành nên hạt nhân sắc tộc của nhà nước, dần dần có thể sáp nhập tầng lớp trung lưu và các khu vực viễn tâm vào nền văn hóa sắc tộc chủ lưu. Trung gian hàng đầu của sự sáp nhập đó là một nhà nước quan liêu mới.
“Thông qua công cụ quân sự, hành chính, tài chính và luật pháp, nó có thể quy định  và phổ biến nguồn giá trị, biểu tượng, huyền thoại, truyền thống và kí ức những thứ cấu thành di sản văn hóa của hạt nhân quý tộc chủ lưu” (55).
Trong khi những ý tưởng của Smith được phát triển thông qua nghiên cứu của ông về lịch sử châu Âu thì tôi cho rằng Việt Nam rất hợp với khuôn mẫu này.
Ở thời trung đại (khoảng thế kỉ X đến XV) có một giới tinh hoa ở đồng bằng sông Hồng duy trì một hệ giá trị giúp phân biệt họ với phần cư dân còn lại (chẳng hạn các giá trị Nho giáo), hệ giá trị cấu thành khác với phần dân cư còn lại, cái viết bằng một ngôn ngữ ngoại lai (tiếng Hán cổ), và cái tạo nên các truyện kể/huyền thoại về quá khứ bằng ngôn ngữ ngoại lai đó và bằng các thể loại trước thuật không phải là bản địa ở Đồng bằng sông Hồng. Nói khác đi, giới tinh hoa Việt trung đại là một ví dụ kinh điển về “tộc người bên”. Và sẽ dễ dàng chứng chính được việc nền văn hóa của tộc người bên này dần dần đã truyền bá ra các thành viên khác của cả khối cư dân như thế nào qua các thế kỉ tiếp theo song hành với sự mở rộng của nhà nước quan liêu.
ni
Cuối cùng, có 2 luận điểm quan trọng nữa về các ý tưởng của Smith và hướng tiếp cận theo chủ nghĩa tượng trưng-sắc tộc có liên quan đến Việt Nam. Thứ nhất, trong khi Smith cho rằng các dân tộc hiện đại có các cội rễ tiền hiện đại, ông chỉ thấy những cội rễ này tỏa ngược về đến thời cận đại hoặc trung đại, không đến thời cổ đại. Chẳng hạn, ông không cho rằng dân tộc Ý có thể được kết nối với một tộc người ở đế chế La Mã. Thứ hai, Smith thừa nhận rằng một số huyền thoại và tín ngưỡng mà các tộc người và các dân tộc sử dụng đã được sáng tạo ra.
Đối với ông, không có vấn đề gì khi mà một tộc người bên thời trung đại đã sáng tạo ra các huyền thoại về quá khứ hay các huyền thoại tương tự đã được biến đổi ở thời hiện đại.
vietethsym
Trên thực tế, đây là một trong những đóng góp chính của hướng tiếp cận sắc tộc-tượng trưng chủ nghĩa, khi nó chỉ ra việc làm thế nào các ý tưởng được sáng tạo/kiến tạo, truyền bá và rồi bị biến đổi ở thời hiện đại đến nỗi chúng dần có vẻ giống với một phần “tự nhiên” của một dân tộc “tự nhiên”.
Cụ thể, cái nhìn sắc tộc-tượng trưng chủ nghĩa khá hoàn hảo cho việc hiểu cách thức một giới tinh hoa thời trung đại đã tạo ra ra các ý tưởng và tín ngưỡng dần dần được các thành viên khác của cả khối dân cư chấp nhận, và sau đó chúng bị biến đổi và trở thành trung tâm trong quá trình xây dựng dân tộc Việt hiện đại ở thế kỉ XX.

Đông phương luận và những con tem bưu chính ở Đông Pháp

24 May

Đông phương luận và những con tem bưu chính ở Đông Pháp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một bản dịch tiếng Việt cuốn Orientalism  (Đông phương luận) của Edward Said rõ ràng vừa mới được xuất bản. Cuốn sách này trở nên rất có ảnh hưởng sau khi nó xuất hiện lần đầu tiên năm 1978, trở thành một văn bản nền tảng cho lĩnh vực nghiên cứu hậu thực dân/hậu thuộc địa.

Trong sách của mình, Said khảo sát cách các tác giả phương Tây miêu tả về mặt lịch sử “phương Đông”, và ông cho rằng người phương Tây đã tạo ra một hình ảnh về phương Đông huyền bí và chưa phát triển, và bằng việc làm vậy họ ngầm tạo ra một lí do hợp lí để thuộc địa hóa phương Đông.

Image

Chủ điểm của Said là những trước tác về Trung Đông, nhưng các học giả được truyền cảm hứng từ tác phẩm của ông đã khảo sát các trước tác về các khu vực khác ở châu Á và phát hiện ra rằng khung diễn của ông vẫn đúng ở đó.

Gần đây tôi có lướt qua một bài báo xuất hiện trên các tờ báo Bắc Mỹ năm 1922 minh họa cho điều này. Bài báo được gọi là “Vụ bê bối về một con tem! Tại sao nước Pháp lại ban hành những mệnh lệnh chính thức đầy kích động khi được biết rằng những nàng tiên xinh xắn trên những con tem Đông Dương là những vũ nữ bản địa đẹp chết người đang khiêu vũ” và nó xuất hiện trên các tờ The Morning Tulsa Daily World và Richmond Times-Dispatch vào ngày 9 tháng 7 năm 1922 và Vancouver Daily World vào ngày 15 tháng 7 năm 1922.

Image

BÀi báo lưu ý rằng có một cơ quan cố vấn cho chính quyền Pháp có tên “Hội đồng tối cao về các Thuộc địa”, và cho biết rằng một trong các ủy viên của hội đồng, một “quý ngài tôn quý nào đó” có tên là Maitre Duchene” đã đến điều tra ở Đông Dương.  

“Hoàn thành việc điều tra các sự vụ về bưu chính, đường sắt, công nghiệp, chính trị và tài chính xong, ông được các ông hoàng bà chúa địa phương chiêu đãi trang trọng – và một trong những tiết mục chiêu đãi bao gồm một chuyến thăm chính thích đến “Cung điện nhạc Jazz” ngoài trời tốt nhất của Hà Nội, nơi các người đẹp vũ hội của An Nam, Cambodia và Bắc Kỳ lắc vai theo nhịp trống theo một cung cách mà nhờ nó phương Đông trứ danh đáng được biết đến”…

“Ban đầu không thể nói rằng cảnh tượng đó đã làm cho Maitre Duchene có bất kì cảm xúc nào mạnh hơn một sự tò mò tội lỗi – nhưng ngày sau sự xuất diện trên sân khấu của một nàng tiên An Nam nào đó với những đặc trưng rõ nét, đôi mắt long lanh và mái tóc đen nhánh, vị ủy viên hội đồng tối cao bị bắt gặp đang chỉnh lại cái kính một mắt của mình và ngả người về phía trước trong trạng thái kinh ngạc”.

Image

Maitre Duchene nhận ra rằng người phụ nữ nhảy trên sân khấu trông giống với người phụ nữ trên con tem mà ông đã thấy, và ông đến gặp Toàn quyền Maurice Long để phản đối việc đó.

Bên cạnh nhiều bình luận khác, Duchene còn nói thế này:

“Năm ngoái chúng ta có 1.583.672 con bò. Bò là một động vật cao quý. Trông nó sẽ rất tuyệt trên những con tem bưu chính. Tôi yêu cầu ông so sánh tấm ảnh những con bò và những vũ nữ của chúng ta và nói cho tôi biết có phải bò không có vẻ mặt đức hạnh và đáng tôn quý hơn…

“Rồi tại sao phải trang trí những con tem bưu chính chính thức của chúng ta bằng chân dung của những gái nhảy và những cô ả An Nam trơ trẽn ở Hà Nội?”

Image

Vị Toàn quyền khuyến khích Duchene đưa vấn đề lên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Albert Sarraut, người từng là Toàn quyền Đông Dương khi những con tem kia được phát hành lần đầu.

Sarraut nói rằng ông đã rất bận bịu với nhiều vấn đề quan trọng hơn nên không chú ý tới những con tem, nhưng ông đồng ý với Duchene và nói “Tịch thu những con tem này bằng tất cả các phương tiện và đưa ra một mẫu mới. Trang trí nó bằng ảnh của những con bò, nhà sư, linh mục, nhà máy đóng hộp hoặc những con lạc đà. Nhưng đừng khiến trách tôi”.

Image

Ở phần cuối bài báo, nó lưu ý là tờ “Journal Officiel” của Đông Pháp trước đó không lâu đã công bố một thông báo trong đó khuyến khích mọi người đệ trình thiết kế cho những con tem mới. Tôi đoán rằng bài báo này là một tác phẩm hư cấu được sáng tác bởi người đã nhìn thấy một thông báo ở một trong những ấn bản do chính quyền thuộc địa ở Đông Dương phát hành.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ở cái cách nó tái tạo những kiểu mô tả mang tính Đông phương luận mà Said bàn đến trong cuốn Đông phương luận. Thực tế là, một số từ ngữ và hình ảnh bắt nguồn trực tiếp từ Trung Đông, ví dụ như việc đề cập đến một “nàng tiên” (một cô gái trẻ đẹp), và những ông hoàng bà chúa.

Image

Một điều cũng thú vị nữa là có một bức ảnh của Evan-Burrows Fontaine đi kèm theo bài báo về Đông Dương này. Fontaine là một vũ nữ nổi tiếng ở thời điểm bài báo được viết nhờ việc trình diễn những vũ điệu “kiểu phương Đông” khác nhau, những vũ điệu có lẽ ít giống với bất kì vũ điệu có thực nào ở phương Đông và giống nhiều hơn với những sự tưởng tượng của người Mỹ về một Kẻ Khác huyền bí.

Còn nhiều điều khác người ta có thể nói về bài báo này, nhưng rõ ràng nó là một ví dụ hay về những ý tưởng và hình tượng mà Edward  Said bàn đến trong cuốn sách của mình. Từ khi nó được xuất bản năm 1978, có khá nhiều ông trình học thuật đã xuất hiện hoài nghi những phượng diện khác nhau trong lập luận của Said. Sự mô tả phương Đông của phương Tây không đơn giản như những gì Said nhiều lần đề xuất, nhưng khi người ta nhìn vào những bài báo như bài báo này, rõ ràng phần nhiều những gì Said viết là đúng hướng.

[Bài báo có thể tìm thấy ở đây: Chronicling America]

Chồng của bà Trưng Trắc: Thi [Sách]

23 May

Chồng của bà Trưng Trắc: Thi [Sách]

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi có đọc một bài báo của một sử gia Nam Việt là Nguyễn Phương viết ở thập kỉ 1960s về hai bà Trưng. Tôi chưa bao giờ xem xét kĩ các nguồn thông tin về cuộc nổi dậy này, nhưng bài báo của Nguyễn Phương khiến tôi nhận ra rằng chúng có vấn đề.

Điều giờ đây tôi có thể thấy là có hai bản tường thuật về hai bà Trưng và rằng một trong hai bản đó đã dần chi phối truyền thống sử học (mặc dù nó cũng thay đổi theo thời gian), trong khi bản kia thì không. Và trong phạm vi tôi có thể nói, phiên bản không chi phối đó là chính xác hơn.

Image

Phiên bản đầu tiên xuất hiện khoảng năm 445 sau Công lịch trong cuốn Hậu Hán thư (Hou Hanshu 後漢書)  của Fan Ye (Phạm Việp), như sau:

“Năm thứ 16, người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái Trưng Nhị làm phản, tấn công [đầu não của] quận. Trưng Trắc là con gái của một Lạc tướng ở huyện Mê Linh (Mê đọc là Mê, Linh đọc là Linh). Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ, rất khỏe mạnh và can đảm. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật để trừng phạt thị. Trắc phẫn nộ vì vậy nổi dậy. Sau đó, các tộc Man ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Bố đều hưởng ứng [lời kêu gọi của chúng] và chiếm 65 thành. Trắc tự xưng là vua” 至十六年,交阯女子徵側及其妹徵貳反,攻郡。徵側者,麊泠縣雒將之女也。(麊音莫支反,泠音零。) 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。交阯太守蘇定以法繩之,側忿,故反。於是九眞、日南、合浦蠻里皆應之,凡略六十五城,自立為王.

Image

Phiên bản thứ hai xuất hiện sau đó gần một thế kỉ (~515-524) trong cuốn Thủy kinh chú  (Shuijing zhu 水經注)của Li Daoyuan (Lịch Đạo Nguyên), như sau:

“Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm. Thị lôi kéo Thi khởi loạn (chú: gần đây khắc sai “Thi” thành “thê”), tấn công [đầu não của] châu quận và chinh phục các Lạc tướng khác, họ đều tôn Trắc làm vua, đóng đô ở Mê Linh” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇,將詩起賊 (案近刻訛為妻),攻破州郡,服諸雒將,皆屬徵側為王,治麊泠縣.

Image

Sự khác biệt đầu tiên mà chúng ta thấy ở đây là trong Thủy kinh chú, tên của chồng Trưng Trắc là Thi chứ không phải Thi Sách. Điều này thực sự hữu lí hơn.

Ở thế kỉ XVIII có một học giả có tên là Zhao Yiqing đã chỉ ra vấn đề này trong một bản chú thích cuốn Thủy kinh chú do ông thực hiện – cuốn Thủy kinh chú thích (Shuijing zhu shi 水經注釋).

Vấn đề liên quan đến chữ  mà Phạm Việp hiểu là bộ phận của một cái tên, và Lịch Đạo Nguyên hiểu là một động từ có nghĩa là “tìm lấy”. Zhao Yiqing chú như sau:

 “sách thê” (索妻)  cũng giống như “thú phụ”  (娶婦). Đoạn văn trong Nam Man Tây Nam Di truyện nói “giá vi Chu Diên nhân thi sách thê” hoàn toàn nhầm lẫn” 一清按索妻猶言娶婦。範史南蠻西南夷傳云,嫁為朱鳶人詩索妻,亦謬之甚矣。嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。

Image

Điều này là có lí, bởi câu văn trong Hậu Hán thư là rối rắm (“Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ mình, rất khỏe mạnh và can đảm” – 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇), đặc biệt là câu “lấy … làm vợ mình” 嫁為. . . 妻  và sự chuyển mạch giữa “thê” và từ tiếp theo “thậm” 甚 (rất).

Mặc khác, câu văn trong Thủy kinh chú rất thuận “Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇.

Image

Rồi ở đầu thế kỉ XX, Yang Shoujing và Xiong Huizhen đã làm một bản chú thích khác về cuốn Thủy kinh chú – tức Thủy kinh chú sớ  (Shuijing zhu shu 水經注疏) trong đó họ chỉ ra rằng có một đoạn văn trong một cuốn loại thư thế kỉ X có tên Thái Bình hoàn vũ kí  (Taiping huanyu ji 太平寰宇記) trong đó chứng minh rằng từ được dùng ở khu vực đồng bằng sông hồng (tức Giao Chỉ hoặc Giao Châu) với nghĩa là “tìm lấy (vợ).

Có một đoạn văn nói về phong tục ở Giao Châu, trong đó khẳng định rằng về người đàn ông tìm lấy vợ, trước khi anh ta lấy vợ, anh ta gửi đến một mâm cau. Khi cô gái ăn hết mâm cau đó thì họ trở thành vợ chồng” 索婦之人,未婚前,先送檳榔一盤,女食盡則成親.

Image

Vậy là có vẻ như đối với tôi đã rõ ràng rằng đoạn văn nói về hai bà Trưng trong Thủy kinh chú chính xác hơn ở điểm này. Tuy nhiên, thông tin được người Việt Nam ghi chép rốt cuộc lại theo Hậu Hán thư của Phạm Việp. Các nguồn tư liệu của người Việt cũng theo Hậu Hán thư theo những cách thức khác.

Tôi băn khoăn tại sao lại có chuyện đó? Có phải người ta không nhớ tên chồng bà Trưng Trắc?

Tôi đính kèm bài báo của Nguyễn Phương ở đây  (Nguyen Phuong on Trung sisters).

An Nam đồ chí

17 May

An Nam đồ chí

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Như độc giả của blog này sẽ rõ, tôi không có hứng thú với cuộc đấu tranh giành biển Bắc Borneo (hay biển Đa Đảo, như tôi đã gọi ở đây). Tuy nhiên, tôi vui lòng chia sẻ các “chứng cứ” khi tôi đọc được bất cứ thứ gì.

Trước đây, tôi đọc được một cuốn sách thời Minh có tên An Nam đồ chí (Annan tuzhi 安南圖誌).

Image

Sách này có chứa một tấm bản đồ về toàn bộ khu vực An Nam thời nhà Minh. Đây là một tấm bản đồ có giá trị khi nó là một trong những tấm bản đồ sớm nhất về một phần của thế giới.

Dù sao, điều mà người ta ngày nay có lẽ sẽ hứng thú hơn khi xem là ở đáy của tấm bản đồ về phía tay trái (của tấm bản đồ 2 trang này), bên ngoài trên biển, là 2 khoanh tròn trong đó nói về: Tiểu Trường Sa Hải Khẩu (Lesser Trường Sa Estuary) and Đại Trường Sa Hải Khẩu (Greater Trường Sa Estuary).

Image

Khi tìm những khái niệm này trên internet, có vẻ như người ta đã biết về văn bản này và những thuật ngữ mà nó chứa, vì vậy tôi không nghĩ mình đang cung cấp một “chứng cứ” nào góp phần giải quyết xung đột về “chủ quyền lịch sử”.

Phải nói rằng, đây cũng là sự thật bởi tấm bản đồ này không “chứng minh” một cái gì cả. Trên thực tế, nó cực kì mơ hồ. Nó liệt kê các “cửa biển” (hải khẩu) Tiểu Trường Sa và Đại Trường Sa hơn là nói về các đảo. Vậy thì điều đó chính xác có nghĩa gì?

Có phải nó có nghĩa là cửa biển ấy là một phần lãnh thổ và không phải là quần đảo Trường Sa? Nếu như vậy, thì ai có quyền thực thi chủ quyền đối với quần đảo ấy? Và chứng cứ ở đâu chứng minh điều đó?

Hay có phải thực thế là hai thuật ngữ ấy (Tiểu Trường Sa hải khẩu và Đại Trường Sa hải khẩu) được viết bằng chữ khối vuông ở [chỗ vẽ] vùng nước có ý chỉ ra rằng các cửa biển đó bao gồm các đảo?

Image

Tôi nghĩ một điều mà các tấm bản đồ thế này chỉ ra là những người sống ở thời điểm đó không quan tâm đến ý niệm về “chủ quyền” như chúng ta bây giờ. Chủ quyền là một khái niệm (phương Tây) hiện đại. Chúng ta không thể tìm thấy nó trong các bản đồ cổ.

Nhưng các bản đồ cổ trông khá là đẹp, bạn không nghĩ vậy sao?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/03/25/the-illustrated-treatise-on-an-nam/

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

14 May

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nhiều năm qua tôi đã tránh chủ đề về các hòn đảo ở biển Đông Nam Á, một phần bởi tôi không có chung hướng tiếp cập chủ đề này với nhiều người. Bài này qua bài khác, tôi thấy các tác giả đơn thuần chỉ nắm lấy những ý tưởng hiện tại về chủ quyền rồi phóng chiếu nó vào quá khứ.

Vì vậy, chẳng hạn, nếu một tấm bản đồ ở đầu thế kỉ XIX có một đường khuyên xoanh một số hòn đảo, thì người ta sẽ diễn giải nó là một chứng cứ cho thấy các đảo đó là một phần “lãnh thổ có chủ quyền” của một quốc gia.

Image

Dĩ nhiên, vấn đề là ở chỗ khái niệm chủ quyền không tồn tại ở châu Á vào thời gian đó. Và vâng, dĩ nhiên các vương quốc có lãnh thổ và các tấm bản đồ tồn tại, nhưng không có cái gì trong đó được hình dung bằng đúng cái cách giống như ngày nay.

Thay vào đó, người ta nghĩ cái cách họ nghĩ ngày nay về mảnh đất của họ là bởi họ đã du nhập nhiều ý tưởng từ phương Tây (bao gồm khái niệm chủ quyền). Sự chuyển dịch này được minh chứng rõ đối với trường hợp Siam trong cuốn Siam Maped của Thongchai Winichakul, nhưng sự chuyển dịch tương tự cũng xảy ra ở tất cả các khu vực khác của châu Á.

Image

Hơn thế, có một mức độ phức tạp được bổ sung đến từ một thực tế là cùng lúc với việc các ý tưởng đó được giới thiệu, một nơi như Việt Nam đã chuyển từ một thực thể vương quốc tiền hiện đại thành một phần của đế quốc thực dân Pháp, thành một phần của đế chế thời chiến Nhật Bản, thành một quốc gia độc lập, tất cả điều đó có tác động đến đường biên giới lãnh thổ thực tế cũng như cách thức lãnh thổ đó được hình dung (cuốn Going Indochinese: Contesting Concepts of Space and Place in French Indochina – Đến với người Đông Dương: Tranh luận về các khái niệm không gian và vị trí ở Đông Dương thuộc Pháp của Christopher Goscha xử lí một số phương diện của chủ đề này).

Image

Và câu hỏi trở thành là: Làm thế nào bạn xác định chủ quyền ngày nay từ hệ quả của tất cả những sự thay đội về chính trị và tri thức này?

Như tôi đã nói, điều nhiều người đã và đang làm chỉ là nắm lấy hiểu biết hiện tại về chủ quyền rồi tìm kiếm các chứng cứ ủng hộ ý tưởng rằng các hòn đảo ở ngoài biển “thuộc” về một “quốc gia” trong quá khứ.

Một độc giả trung thành gần đây khuyến khích tôi đọc cuốn Les Archipels de Hoàng-Sa et de Trường-Sa selon les Anciens Ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Géographie của Võ Long Tê. Tác giả đã làm rất tốt việc tập hợp tư liệu từ các nguồn trước thế kỉ XX có nhắc đến quần đảo Pracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa). Tuy nhiên, các phân tích của ông phần lớn theo cùng một logic với nhiều người ngày nay, tức là, sự tồn tại của các dẫn chiếu về các hòn đảo trong các nguồn tư liệu của Việt Nam chứng tỏ rằng chúng từ lâu đã là một phần của lãnh thổ quốc gia.

Điều tôi thấy thú vị hơn nữa ở cuốn sách này là thông tin mà Võ Long Tê đính kèm về những nỗ lực của người Pháp nhằm chứng minh rằng Paracels và Spratlys là một bộ phận của đế chế Pháp. Cụ thể, tác giả trích các thông cáo mà chính quyền Pháp đưa ra vào thập kỉ 1930s trong đó quy định rõ rang rằng các đảo đó là một phần của Đông Dương thuộc Pháp.

Image

Điều này thôi thúc tôi tìm kiếm thêm thông tin về giai đoạn này. Trong quá trình đó, tôi đã đọc được một bài báo thú vị năm 1933 của Oliver A. Saix trong đó nói về những nỗ lực trong một bộ phận người Pháp lúc bấy giờ nhằm sáp nhập quần đảo Paracels.

Để làm việc này, người Pháp đã làm 2 việc: 1) họ cố gắng để chứng minh rằng không có ai khác có một tuyên bố có giá trị về các đảo đó; 2) họ gửi cho một số người xem xét những nguồn tư liệu của Việt Nam trước thế kỉ XX nhằm tìm kiếm những chứng cứ cho thấy các đảo đó về mặt lịch sử là một phần của đế chế Việt.

Ở phương diện này, những gì người Pháp đã làm chính là những gì nhiều người Việt đang làm. Tuy nhiên thêm vào những hành động đó, người Pháp còn làm nhiều hơn. Thứ nhất, họ ra một thông cáo về yêu sách của họ đối với các đảo (như được trình bày chi tiết trong cuốn sách của Võ Long Tê), và thứ hai, họ gửi người đến lặng lẽ thiết lập sự hiện diện của chính quyền trên các đảo đó.

Image

Tôi nghĩ hai hành động sau này rất quan trọng, khi tôi vừa đọc một bài báo hôm nay của Hong Thao Nguyen có tên “Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim” (Vị trí của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: yêu sách biển của nó) trong đó tác giả chỉ ra  rằng trong khi xác định chủ quyền của các khu vực tranh chấp, luật quốc tế trong một số trường hợp đã dựa vào cái gọi là “nguyên tắc về tính hiệu lực” cơ bản lập luận rằng một nhà nước có thể tuyên bố chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ chưa bị yêu sách (res nullius) và bị từ bỏ (res derelica) thông qua “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước”.

Trong khi triều Nguyễn thực thi quyền hạn đối với Paracels và Spratlys, với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels.

Hơn nữa, họ làm điều đó vào lúc khái niệm chủ quyền, và luật pháp quốc tế thừa nhận chủ quyền, đã được thiết lập trọn vẹn ở châu Á.

Image

Giờ đây, tôi chắc chắn rằng luật pháp quốc tế còn phức tạp hơn thế, nhưng đối với tôi dường như chiếc chìa khóa đối với việc chứng minh chủ quyền ở khu vực ấy không phải bằng cách cho thấy “ai là người đến đó đầu tiên” và cho rằng chủ quyền là cái gì đó vĩnh viễn, mà thay vào đó là bằng cách chứng minh ai thiết lập chủ quyền đối với các đảo đó thông qua những phương tiện mà luật quốc tế có thể thừa nhận.

Nếu người Pháp là những người đầu tiên rõ rang đã làm điều đó, thì câu hỏi tiếp theo cần xem xét sẽ là: quyền hạn của một đế quốc thuộc địa được chuyển giao sang một nhà nước độc lập như thế nào.

Chủ đề này quá phức tạp đối với đầu óc đơn giản của tôi, vì vậy đã đến lúc tôi phải dừng viết về chủ đề này, nhưng tôi nghĩ rằng chiếc chìa khóa cho chủ đề này là việc nhìn vào nơi lịch sử và luật pháp quốc tế gặp nhau, và trong phạm vi tôi có thể bàn, điều đó xảy ra ở thập kỉ 1930s (nhưng chắc chắn có những người có thể am hiểu chủ đề này nhiều hơn tôi sẽ có những ý kiến khác).

Dù thế nào, việc cố gắng tìm kiếm chủ quyền trước khi có khái niệm chủ quyền chỉ là điều vô nghĩa đối với tôi.

Cho những người quan tâm, tôi đính kèm một bản sao cuốn sách của Võ Long Tê và bài báo của Saix.

Võ Long Tê: Les Archipels

Saix: Saix article

 

Nguồn:   http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/14/where-history-and-sovereignty-intersect/ 

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

13 May

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Hôm trước tôi đã đọc quá một số tài liệu ở Cục lưu trữ Quốc gia Úc nói về một tàu ngầm Mỹ tấn công quân Nhật ở đảo Woody (Phú Lâm) trong Quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Trước khi nổ súng từ tàu ngầm, U.S.S. Pargo, một đội trinh sát được gửi lên bờ, và khi ở trên đảo, họ thấy một chú chó. Dưới đây là đoạn ghi chép tiếp theo:

“… có một việc được phát hiện là có những vết chân chó trên bãi biển và trên vài vệt mờ xuyên qua những bụi cây đước. Từ một vị trí trên rìa của tầng cây thấp và cách chân cầu tàu khoảng 150 yard đến 200 yard, chú chó, lớn, lai giữa giống Alsat và giống Airdale, được thấy đang chạy ra về phía bờ biển ở cuối cầu tàu và tiếp cận hướng đi của chúng tôi.

Khi [chúng tôi đi] chếch một chút về phía Nam của đảo Crew, nó bắt được mùi của chúng tôi, đưa mũi ngửi quanh và theo dấu chúng tôi, rồi trong phạm vi 50 yard gần chúng tôi, nó nhìn thấy chúng tôi rồi quay lại bãi biển và ngồi xuống”.

Image

Khi tôi đọc được thông tin này, tôi đoán rằng đây hẳn là một chú chó mà lính Nhật đã đem theo họ, có lẽ để dùng làm chó giữ nhà. Tuy nhiên, hôm nay tôi đọc được một bản tường trình về một chuyến viếng thăm lên đảo Woody từ trước thời điểm đó hơn một thập kỉ trong dó cũng đề cập đến sự hiện diện của một chú chó trên hòn đảo ấy.

Trong một bài báo được công bố trên tập san The North – China Herald and Supreme Court & Consular Gazette (06 June 1934, pg. 366) có tên Cảnh hoang tàn trên đảo Paracel: Phác thảo ấn tượng về một chuyến thăm tới những bãi đá ngầm nguy hiểm ở biển Nam Trung Hoa”, một ông L.Dowdall nào đó đã ghi chép thông tin về một chuyến thăm của mình tới đảo Woody vài năm trước lúc bài báo được công bố.

Dowdall, người mà tôi đoán là người Anh, đang trên một con tàu du hành từ Bangkok tới Hồng Kông. Nó cần phải thả neo để trải qua vài cuộc sửa chữa động cơ, vì vậy thuyền trưởng tàu dừng tàu ở quần đảo Paracel, và để Dowdall lên bờ ở đảo Woody.

Dowdall nói rằng “tôi biết rằng đảo Woody đã từng được khai thác về phân chim bởi một số người Nhật vài năm trước, nhưng họ đã bị chính phủ Trung Hoa, người khẳng định chủ quyền đối với các đảo này, trục xuất. Từ đó vài công ty khác, cả của Trung Hoa và nước ngoài, đã được tổ chức để khai thác phân chim, nhưng họ đều thất bại theo cách này hay cách khác”.

Theo đó, Dowdall đi bộ lên bờ của một hòn đảo không có người ở lúc bấy giờ. Phần lớn bài bào của ông được dùng để miêu tả cảnh hoang tàn mà ông quan sát được trên đảo.

Và rồi ông thấy một chú chó.

“… Thật ngạc nhiên khi tôi thấy một chú chó to. Nó chạy túc tắc khỏi bụi rậm phía trước tôi chừng 200 yard, đứng lại và nhìn một chốc, rồi chạy lững thững vào một đám cây bụi và cỏ gai và biến mất.

“Có phải tôi đang mơ? Không. Khi tôi đến chỗ đó, có vết chân nó in trên cát. Ông tướng tội nghiệp, tôi nghĩ. Nó hẳn đã bị bỏ rơi bởi những người cuối cùng đến đó”.

“Nó đã ở đó một mình bao lâu rồi và có phải đôi khi nó xuống bờ biển để buồn bã nhìn ra biển chờ đợi mẹ của nó quay lại?”

“Tôi gọi và huýt sáo cho nó nhưng nó không phản ứng. Có lẽ nó đang núp trong bụi rậm nhìn tôi cảnh giác, tự hỏi tôi là bạn hay thù. Thực tế, nó hẳn thấy tôi là bạn khi đánh bạo tiến về phía tôi lúc trước”.

Image

Có thể nào có chuyện chú chó mà Dowall nhìn thấy ở đầu thập niên 1930s cũng chính là chú chó mà đội trinh sát Mỹ thấy đầu năm 1945?

Tác giả và chính trị gia quá cố người Thái tên là M.R.Kukrit Pramoj đã viết một truyện ngắn tuyệt vời những năm 1950s kể về một chú chó có tên “Mom”. Trong truyện đó, Kukrit Pramoj cơ bản miêu tả những sự kiện của Thế chiến II ở BangKok nhìn qua nhãn quan của chú chó Mom.

Trong khi truyện đó, như tôi biết, là một tác phẩm hư cấu, thì có vẻ như đã có một chú chó thực không chỉ chứng kiến Thế chiến 2 trên đảo Woody ở quần đảo Paracels, mà còn ở đó vài năm trước cuộc chiến; một chú chó đã nhìn thấy, trong vòng hơn một thập kỉ, người Nhật, người Việt, người Trung Quốc, người Mỹ và một người Anh đơn độc đều đến và đi.

Dành cho ai muốn đọc toàn bộ bài báo, tôi đính kèm bài báo ở đây (Dowdall article).

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/10/vietnamese-japanese-formosan-coolies-and-the-u-s-s-pargo-in-the-paracel-islands-in-world-war-ii/ 

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – PLF)

12 May

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – Hoàng Sa: PLF)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nếu bạn chưa bao giờ xem  Bộ sưu tập bản đồ của David Rumsey thì nên xem qua một lượt, nó hoàn toàn tuyệt vời.

Khi tiến đến lĩnh vực địa lí học, dĩ nhiên có những vấn đề hiện ra trong đầu người dân ở Đông Nam Á, và họ quay sang những tấm bản đồ để làm “bằng chứng”.

Tuy nhiên, như tôi đã nói trên blog này trước đây, khái niệm “chủ quyền” là một khái niệm phương Tây/hiện đại, vì vậy rất khó tìm chứng cứ cho nó trên các tấm bản đồ có niên đại trước khi khái niệm đó du nhập vào châu Á ở thế kỉ XX.

Người phương Tây có khái niệm này trước thế kỉ XX, nhưng khi họ vẽ bản đồ về Á Châu, họ dường như không có ý nghĩ rằng “những bãi đá trên biển đó” thuộc về bất cứ ai.

Hãy xem tấm bản đồ như tấm được vẽ năm 1780 này (Les Isles Phiilippines, Celle de Formose. . .).

Image

Nó có quần đảo Paracels (Hoàng Sa), và hình các đảo có một đường viền bao quanh, nhưng đường viền đó có nghĩa gì? Có phải nó có nghĩa là chúng thuộc về Nam Kỳ? Làm sao chúng ta biết? Hoặc nó đơn thuần chỉ có nghĩa là chúng là một nhóm đảo?

Cũng có một đường viền xung quanh vùng Basse d’Agent (trên bản đồ). Đường viền đó có nghĩa gì?

Image

Rồi bạn có tấm bản đồ được vẽ năm 1864 dưới đây (Bản đồ về Burma, Siam, Nam Kỳ và Malaya). Nó được bôi đen ở những khu vực nước nông, và nó bao quanh quần đảo Paracels, Hải Nam và dọc bờ biển, nhưng ai có “chủ quyền” với quần đảo Paracels?

Image

Cuối cùng, có một tấm vẽ năm 1806 (Quần đảo Đông Ấn và những khu vực lân cận với các kênh mạch nằm giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Tân Hà Lan). Ở đây chúng ta thấy rằng “Trung Quốc” màu xanh lá cây, “Việt Nam màu hồng, và quần đảo Paracels… không màu gì cả (tấm bản đồ trên cũng vậy).

Tôi nghĩ đã đến lúc phải hình thành Mặt trận giải phóng Paracel. Những đảo đó thuộc về những sinh vật biển, chim và côn trùng đã sinh sống ở đó từ thời thượng cổ. Tất cả con người nên rời khỏi đó.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/08/23/beautifully-digitized-old-maps-and-time-to-form-the-plf/   

%d bloggers like this: