Archive | August, 2014

Bình Ngô đại cáo và sự xuất hiện của kiểu loại văn học phản kháng thời hiện đại

28 Aug

Bình Ngô đại cáo và sự xuất hiện của kiểu loại văn học phản kháng thời hiện đại
By Le Minh Khai
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một bình luận gần đây về Bình Ngô đại cáo, một tư liệu được viết vào cuối giai đoạn nhà Minh chiếm đóng đồng bằng sông Hồng đầu thế kỉ XV khiến tôi nghĩ về loại “văn học phản kháng” hay “văn học căn cước dân tộc” mà nhiều người ngày nay cho là tài liệu này thuộc về nó.
Một trong những chỗ đầu tiên mà tôi từng gặp được tài liệu này là trong một tuyển tập bản dịch các tư liệu do người Việt sáng tác qua nhiều thế kỉ có tên Những tấm gương ứng phó với sự can thiệp từ bên ngoài của người Việt: 1858 – 1900 (Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention: 1858-1900.) Các tài liệu trong tuyển tập này đều được dịch và chú sâu bởi học giả Trương Bửu Lâm, và được xuất bản năm 1967 vào lúc cao điểm của cuộc chiến tranh Việt Nam.
Trong khi tuyển tập này tập trung vào giai đoạn từ 1858 đến 1900, khi người Pháp đang thiết lập sự cai trị Việt Nam của họ, Trương Bửu Lâm gộp vào đó một số tư liệu sớm hơn để đặt “ứng phó với sự can thiệp từ bên ngoài” thế kỉ XIX trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn.
Những tài liệu sớm hơn này ngày nay đều rất nổi tiếng, tức là bài Nam Quốc sơn hà mà một số người cho là của Lý Thường Kiệt, bài hịch của Trần Hưng Đạo hướng tới binh lính của mình (thường được biết đến dưới cái tên Hịch tướng sĩ), Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và lời hịch của Nguyễn Huệ kêu gọi quân đội của ông.
Trên thực tế, nhiều tác phẩm ở Việt Nam ngày nay gọi tư liệu đầu tiên và thứ ba trên đây là những “tuyên ngôn độc lập”, và tất cả các tư liệu đó nhiều lần được viện dẫn như là minh chứng cho một “ý thức dân tộc” dài lâu và về một truyền thống “chống ngoại xâm” dài lâu không kém.
Tuy nhiên, liệu chúng ta có biết rằng đây là cách mà những tư liệu này luôn được hiểu và chúng có nghĩa gì hay không?
Khoảng hơn một thập kỉ trước khi Trương Bửu Lâm thực hiện bản dịch tiếng Anh cho Bình Ngô đại cáo, Ưng Quả đã công bố bản dịch tiếng Pháp của cũng tư liệu đó trên tờ Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient (46.1 [1952]: 279-95).
Trong lời dẫn nhập cho bản dịch của mình, Ưng Quả lưu ý rằng nguyên bản Bình Ngô đại cáo đã xuất hiện trong quá khứ trong những văn bản như Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, và những văn tuyển như Hoàng Việt văn tuyển và Ức Trai [di] tập.
Hơn nữa, Ưng Quả cũng khẳng định rằng Bình Ngô đại cáo đã được truyền miệng trong giới tinh hoa hàn lâm những người học để đi thi thời trước khi họ xem nó như là một “kiểu mẫu của thể loại”.
Nếu đó là sự thật, thì nó hợp với “thể loại” nào? Liệu có một phần nào đó trong các cuộc thi nói về “văn học phản kháng” hay “tuyên ngôn độc lập” hay không? Một sự xem xét cái cách Bình Ngô đại cáo xuất hiện trong bộ văn tuyển cuối thế kỉ XVIII, Hoàng Việt văn tuyển, có thể giúp trả lời những câu hỏi này.
“Bình Ngô đại cáo” có thể được tìm thấy trong chương 15 của Hoàng Việt văn tuyển, chương dành cho các thể “cáo”, “chế” và “sách”. Điều này là do mục đích của Hoàng Việt văn tuyển không phải để chứng minh cho bất kì dạng chủ đề hay tư tưởng chủ đạo nào, mà thay vào đó, là để cung cấp những mẫu của những bài văn hay thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Chương 1 vì vậy được dành cho thể cổ phú. Chương 2 dành cho thể kí, như những ghi chép về các chuyến du hành đến các địa điểm khác nhau. Chương 3 là tuyển các bài minh, và chương 4 bao gồm các bài văn tế.
Có tất cả các thể văn mà giới tinh hoa có học thức lúc bấy giờ cần thông thạo, và Bình Ngô đại cáo được đưa vào tuyển tập các bài văn này như là kiểu mẫu cho một thể văn mà các học giả có hoài bão cần phải học.
Vậy thì làm thế nào Bình Ngô đại cáo được chuyển từ một kiểu mẫu của một thể văn mà các học giả cần học thành một kiểu mẫu của “văn học phản kháng”? Để điều đó xảy ra, nhiều thứ khác phải xảy ra. Cụ thể, một thế giới quan tổng thể phải thay đổi, và đây rõ ràng là cái đã xảy ra ở Việt Nam ở thế kỉ XX.
Chúng ta có thể thấy những hệ quả của những biến đổi này trong các công trình như cuốn Việt Nam tranh đấu sử của Phạm Văn Sơn. Được xuất bản năm 1949 ở lúc cao điểm của cuộc kháng chiến chống Pháp, bài “Bình Ngô đại cáo” không được bàn đến trong cuốn sách này như là một kiểu mẫu hoàn hảo của một thể văn mà các học giả cần học hỏi, bởi các học giả không cần học cách viết các bài cáo tí nào. Thế giới ấy đã kết thúc rồi.
Thay vào đó, “Bình Ngô đại cáo” được giới thiệu trong cuốn sách này (cùng với bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo) với tư cách một tác phẩm có dụng ý khích lệ người ta chiến đấu.
Người ta chiến đấu cho cái gì? Tất nhiên là dân tộc, như Ưng Quả đã giải thích 3 năm về trước, đây là ý nghĩa lớn nhất của Bình Ngô đại cáo – nó chứng minh cho sự tồn tại của một tình cảm dân tộc.
Những công trình trước đó như Hoàng Việt văn tuyển và Đại Việt sử kí toàn thư không lí giải tầm quan trọng của Bình Ngô đại cáo như thế. Trên thực tế, chúng không nói vì về tư liệu này. Tuy nhiên, khi chúng ta xemm xét Bình Ngô đại cáo trong Hoàng Việt văn tuyển bên cạnh các bài văn khác không dính dáng gì đến tình cảm dân tộc, chúng ta dù sao cũng có thể hiểu được tư liệu này đã được nhìn nhận theo cách thức khác biệt thế nào trong quá khứ.
Tương tự, khi chúng ta nhìn vào cái cách nó được giới thiệu trong một công trình hiện đại như Việt Nam tranh đấu sử của Phạm Văn Sơn, chúng ta cũng có thể thấy được nguồn gốc cái nhìn hiện tại về tư liệu này.
Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/08/26/the-binh-ngo-dai-cao-and-the-modern-emergence-of-resistance-literature/

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor

27 Aug

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor
By Liam C Kelly
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Ở thập niên 1990s, khi còn là một sinh viên, tôi dần nhận ra rằng những ý tưởng mà tôi thấy ấn tượng trong những công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam không được củng cố bằng những thông tin tôi tìm thấy trong các nguồn tư liệu nguyên cấp. Đây là cái mà nhiều học giả trẻ khác lúc bấy giờ cũng bắt đầu nhận ra, đặc biệt là những người chuyên chú vào thế kỉ XX. Trong hơn 20 năm qua, các học giả ấy đã tạo ra nhiều công trình hoài nghi tri thức họ nhận được về quá khứ của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn tri thức mà một thế hệ trước đó đã tích luỹ được vẫn còn ảnh hưởng. Keith Taylor là một thành viên của thế hệ đó, và trong công trình Lịch sử dân tộc Việt Nam dầy 696 trang của mình, ông đã đảo lại và viết lại nguồn tri thức mà ông và các thành viên khác của thế hệ đó đã tích luỹ.
Đối với các độc giả quen thuộc với những công trình hiện có bằng tiếng Anh viết về lịch sử Việt Nam, ngay từ những trang mở đầu của cuốn sách có một điều trở nên rõ ràng là Taylor đang nỗ lực dấn vào một lối đi mới. Tuy nhiên, Taylor không làm rõ điều này cho đến khi ông đi đến chương kết luận, mang tiêu đề “Hồi tưởng”, trong đó ông tóm tắt các quan niệm của mình:
“Xem xét các sự kiện được thảo luận trong cuốn sách này, không có kết luận nào được rút ra theo cái nghĩa khám phá logic sâu sắc nào đó đã dẫn dắt số phận tiền định của người Việt Nam. Tri thức về quá khứ của người Việt bằng tiếng Anh được tích luỹ ở cuối thế kỉ XX bị phủ bóng bởi chiến tranh; giới học thuật, phóng viên, chính trị gia đã cấp cho người đứng đầu cái đặc quyền định hình sự tích luỹ đó cho nhóm người Việt đủ may mắn có được những đồng minh được duy trì tương đối vững vàng cho đến trận chiến cuối cùng. Những điều được tích luỹ đến từ sự tuyên truyền thời chiến dựa trên một phiên bản dân tộc chủ nghĩa chói tai của lịch sử Việt Nam, cái đã đặc tả, trước hết, một sự quả quyết về căn cước Việt Nam có trước khi tiếp xúc với người Hán cổ, và thứ đến, là những chủ đề chính về sự nổi dậy chống lại sự áp bức thực dân và sự kháng cự ngoại xâm; không có một ý tưởng nào trong đó có thể được xác nhận bằng việc nghiên cứu những chứng cứ về quá khứ hiện còn” (620).
Những tuyên bố trong đoạn văn này là quan trọng và quá chậm trễ. Chúng cũng được củng cố đầy đủ bằng phần còn lại trong cuốn sách của Taylor.
Keith Taylor
Phương diện đầu tiên trong khối tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng có một căn cước của người Việt trước khi tiếp xúc với người Hán cổ – là một điều mà bản thân Taylor đã nỗ lực chứng minh trong cuốn sách đầu của mình – Việt Nam khai sinh (University of California Press, 1983). Ở cuối thập niên 1960s đầu thập niên 1970s, các học giả ở Việt Nam dân chủ cộng hoà đã nỗ lực một cách có chủ ý nhằm khẳng định sự tồn tại của một dân tộc và nền văn hoá Việt trước khi người Trung Hoa đặt chân đến khu vực này vào thế kỉ III trước Công lịch, và Taylor du nhập những tìm tòi của họ vào công trình của mình. Lịch sử dân tộc Việt Nam, trái lại, bắt đầu với quá trình bành trướng về phía Nam của đế chế Tần vào năm 221 trước Công lịch, và lập luận rằng ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam được hình thành trong suốt thiên niên kỷ mà khu vực này thuộc về các đế chế Trung Hoa. Ở đây Taylor theo những ý tưởng của nhà ngôn ngữ học John Phan, người đã cho rằng ngôn ngữ Việt như chúng ta biết được hình thành trong suốt đoạn cuối của thiên niên kỉ người Hán cai trị khi người dân nói một phương ngữ tiếng Hán địa phương chuyển sang một ngôn ngữ địa bản địa. Tuy nhiên, sự thay đổi về ngôn ngữ này là một phần đơn giản của một quá trình chuyển đổi rộng lớn hơn. Như Taylor lập luận “Chính phương diện văn hoá Việt Nam cũng có vẻ như là kết quả của việc nằm trong đế chế [của người Hoa] và từ sự tồn tại của một nhóm cư dân nói tiếng Hán rộng lớn hơn phát triển qua vài thế hệ và rốt cuộc hoà nhập vào nhóm cư dân bản địa khi mà sự kết nối của đế chế bị cắt đứt” (621).
Bằng việc cho rằng nhóm ngôn ngữ và văn hoá mà chúng ta gọi là người Việt xuất hiện trong phạm vi, và là một bộ phận, của đế chế Trung Hoa, Taylor đã hoài nghi phương diện thứ hai của nguồn tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng người Việt luôn luôn chống lại ngoại xâm, đặc biệt là Trung Hoa. Taylor làm việc đó bằng 2 cách. Thứ nhất, ông chỉ ra trong luận thuật của mình về việc một ít “các hoạt động quân sự của người Hoa” được “thực hiện để chống lại các lãnh tụ người Việt” qua hàng trăm năm trước “là hệ quả của những hoàn cảnh đặc biệt” như thế nào và do đó không tiêu biểu cho những hiện tượng thường xuyên nào đó (622). Thứ hai, bằng việc giữ lập trường rằng người Việt về mặt văn hoá là một bộ phận của một thế giới trong đế chế như người Hoa, ông chứng minh rằng tuyên bố về sự khác biệt văn hoá, như các sử gia quan niệm, mà người Việt cố gắng gìn giữ và bảo vệ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài là không tồn tại. Theo Taylor, các quan niệm của Nho giáo cũng mang đặc tính Việt như quả cau vậy.
Birth
Taylor cũng nghi ngờ nguyên lí có liên quan đến hai phương diện của nguồn tri thức đã được tích luỹ về lịch sử Việt Nam, tức là quan niệm về sự thống nhất. Trên thực tế, đây có lẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong tập sách của Taylor và là một cái nhìn về quá khứ mà ông đã phát triển qua nhiều năm. Thông qua cuốn sách dài hơi này, Taylor nhiều lần hướng sự chú ý của độc giả vào các chiều kích về địa vực của lịch sử Việt Nam. Đó là tình trạng căng thẳng giữa Thanh Hoá và Thăng Long nhiều thế kỉ trước hay giữa Sài Gòn và Hà Nội gần đây hơn, chủ nghĩa địa phương đã là một khía cạnh lâu dài trong sự trải nghiệm lịch sử của những người nói tiếng Việt, và Taylor đã chứng thực điều đó một cách rõ ràng.
Khi nghi ngờ những quan niệm cốt lõi trong nguồn tri thức đã được tích luỹ bằng tiếng Anh về lịch sử Việt Nam, Taylor đã có một cống hiến có ý nghĩa. Một cống hiến có ý nghĩa khác mà Taylor đã làm được đơn thuần là tạo ra một tự sự bằng tiếng Anh về hơn 2000 năm của lịch sử Việt Nam. Trong khi Taylor có thể dựa trên cuốn sách trước của mình để tạo ra một tự sự cho đến thế kỉ thứ 10 sau Công lịch, và trong khi nhiều nghiên cứu về thế kỉ 19 và 20 không nghi ngờ gì nữa đã tạo điều kiện cho quá trình viết một tự sự cho các thế kỉ đó, Taylor hẳn phải đọc và tóm lược các biên niên sử của Việt Nam nhằm tạo ra một tự sự cho giai đoạn từ thế kỉ 10 đến đầu thế kỉ 19. Tự sự mà ông viết cho giai đoạn đó nặng về chi tiết, và có lẽ làm một số độc giả hết sức choáng ngợp, nhưng đối với một số sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về quá khứ của Việt Nam, những chương này là một nguồn tư liệu vô giá.
Do đó, có nhiều điều tuyệt vời để nói về cuốn Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, một điểm dường như sẽ không làm thoả mãn một số độc giả là quyết định của Taylor không đính kèm các chú dẫn. Ông đã cung cấp một tiểu luận mang tính thư mục, nhưng biết rằng phần lớn tập sách dựa trên việc đọc các cuốn sử biên niên của riêng ông, thì tiểu luận ấy có công dụng hạn chế; phần tốt nhất của nó là phần lên danh sách những nghiên cứu gần đây về lịch sử thế kỉ XX. Phải nói rằng, đối với những độc giả có khả năng về tiếng Việt hay Hán cổ, họ tương đối dễ định vị được những chỗ trong các cuốn biên niên sử mà Taylor lấy thông tin.
Lịch sử dân tộc Việt Nam phải mất một thời gian dài mới ra đời được. Đó không chỉ là việc Taylor mất nhiều năm viết nó, mà ông cũng mất nhiều thời gian để kiểm tra lại những tri thức đã được tích luỹ về Việt Nam và xét lại những quan niệm của bản thân. Có nhiều học giả lão thành hẳn sẽ không băn khoăn gì khi trải qua quá trình đó và còn ít hơn những học giả sẽ viết một công trình 696 trang để chứng thực những hiểu biết có xét lại về quá khứ. Keith Taylor ở phương diện này là một ngoại lệ, và chúng ta may mắn có được công trình nghiên cứu phi thường này của ông để dựa vào trong những năm phía trước.
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies , Volume 9 (1) – Jan 1, 2014

%d bloggers like this: