Quan niệm chủng tộc đầu thế kỉ 20 của người Việt

23 Oct

Quan niệm chủng tộc đầu thế kỉ 20 của người Việt

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi yêu quá khứ bởi nó chứa đựng sự phức tạp hấp dẫn. Tôi không thích chủ nghĩa dân tộc bởi nó phá hoại quá khứ bằng việc rút ruột nó và đưa vào đó một sự diễn giải giản đơn vì mục đích chính trị.

Ngày nay, chủ nghĩa dân tộc đã thôi thúc người ta khẳng định những sự khác biệt căn bản giữa “Trung Quốc” và “Việt Nam”. Ở đầu thế kỉ XX, trái lại, các trí thức cải cách ở Việt Nam đã lập luận rất khác.

Chúng ta có thể thấy điều này trong một cuốn sách có tên中學越史撮要, Trung hc Vit s toát yếu, được Ngô Giáp Đậu soạn năm 1911.  Đây là một cuốn sách giáo khoa lịch sử, và soạn giả chính, Ngô Giáp Đậu là thành viên của một trong những gia đình trí thức nổi tiếng nhất ở Việt Nam, và là hậu duệ trực hệ của học giả, sử gia nổi tiếng thế kỉ XVIII, Ngô Thì Sĩ.

Đầu thế kỉ XX ở Việt Nam là một giai đoạn mà một khuynh hướng cải cách đang phát triển trong đó những học giả cựu học bắt đầu cởi trói khỏi quá khứ và tạo ra các dạng tri thức mới. Lấy cảm hứng từ các công trình của các học giả cải cách ở Nhật và Trung Quốc, các học giả Việt Nam ở đầu thế kỉ này đã nỗ lực giới thiệu những khái niệm mới du nhập từ phương Tây, như các ý tưởng của Tiến hoá luận xã hội và chủ nghĩa dân tộc.

Một số công trình ở giai đoạn này còn triệt để hơn những công trình khác. Tôi cần phải nghiên cứu văn bản này thêm, nhưng từ phạm vi những gì tôi có thể nói, cuốn Trung học Việt sử toát yếu có vẻ như thuộc về dạng trung gian. Nó giới thiệu những ý tưởng mới, nhưng nó dựa nhiều vào các khái niệm truyền thống nhằm lí giải và biện hộ cho những ý tưởng mới đó. Cụ thể là, nó tạo ra một sự bứt phá không đáng kể với quá khứ, ít triệt để hơn các công trình khác của giai đoạn đó, nhưng ở những phương diện nào đó, điều này có nghĩa là các ý tưởng của nó  thậm chí còn thống nhất hơn, bởi thay vì áp dụng giản đơn các ý tưởng từ phương Tây, nó hoà trộn các ý tưởng phương Tây với các ý tưởng truyền thống từ Việt Nam và Đông Á nhằm hỗn hợp tri thức thống nhất.

Chẳng hạn, nó có một đoạn có tiêu đề là “Tộc loại” 族類. Tộc loại là gì? Điều đó khó trả lời. Đây là một khái niệm xuất hiện trong một văn bản cổ, Tả truyện, trong một dòng có viết: “Không phải là tộc loại của ta, thì ắt là tâm cũng khác” (非我族類,其心必異). “Tộc loại” là một khái niệm rắc  rối, nhưng tôi thích dùng một khái niệm rắc rối như thế bởi vì tôi không nghĩ có một từ  thay thế nào khác thích hợp trọn vẹn. Người ta đã dịch khái niệm này thành nhiều từ khác nhau như “chủng tộc”, “họ”, “dòng”, và “dân ta”, nhưng tôi không nghĩ là có từ nào thực sự thích hợp. “Chủng tộc” quá hiện đại. “Họ” và “dòng” có vẻ hơi quá hẹp,  và “dân ta” thì lại quá rộng và rỗng. Vì vậy tôi sẽ gắn cho nó từ “dòng-loại” để chúng ta sẽ luôn luôn được nhắc nhỏ rằng khái niệm này có vẻ chỉ một lối phân loại người mà chúng ta không áp dụng ngày hôm nay.

Tuy nhiên, việc phân loại con người là cái  mà chúng ta làm ngày hôm nay, và nó là sự bao gộp của một khối liên quan đến các nhóm người khiến cho Trung học Việt sử toát yếu trở nên hiện đại, vì không có văn bản của người Việt nào từng làm trước đó.  Tuy nhiên, cách dùng khái niệm “tộc loại” để là điều này là một dấu hiệu của việc các ý tưởng truyền thống được áp dụng nhằm tham gia vào  nhiệm vụ hiện đại này. Nội dung của đoạn văn này đi theo kiểu sử dụng thông tin hoặc thuật ngữ truyền thống này để đưa ra những ý tưởng mới.

Bây giờ, chúng ta hãy khảo sát đoạn văn về “tộc-loại” trong Trung học Việt sử toát yếu. Tôi sẽ giới thiêu toàn bộ đoạn văn trước, sau đó sẽ tiếp tục thảo luận về nó từng phần một.

Toàn bộ đoạn văn:

lineage-type-1

“Dân là đồng bào ta. Các nhà Nho Á Đông đã nói rằng “trong bốn biển đều là anh em”. Có tộc loại nào không phải của ta?

[7b] Đất Việt ta thuộc ôn đới, ngay trong một vùng sinh sôi phát triển. Nguyên sự hình thành các kiểu dân ở đây xảy ra chủ yếu thông qua sự hoà trộn của các dân tộc khác nhau, những người sống trên hai bờ trái phải của đầu nguồn sông Nhĩ (tức sông Hồng).

Trước khi Kinh Dương đi về phía Nam, dân Lạc, dù là bộ phận của Hoàng tộc, đều là những nhóm dân man và Thái, Lam (Chàm?). Rồi từ lúc mà 100 người con trai của Lạc Long chia nhau về núi và biển, nơi họ trở thành 1000 con trai rồi 10000 cháu trai, nhiều nhóm dân bắt đầu thiết lập hộ tịch.

Nhà Tần và nhà Hán tiến hành kế sách thực dân vùng Lĩnh Nam. Triệu Đà lưu đày 50.000 phạm nhân đến đồn trú ở khu vực Lĩnh Nam. Vũ Đế [nhà Hán] đưa người từ Trung Quốc xuống định cư phân tán ở Cửu Quận. Cuối đời Hán, các học giả chạy loạn  và đi xuống  phía Nam. Dưới sự đô hộ của các triều đại nối tiếp từ Tấn, Tống, Tuỳ, Đường, các quan lại, binh lính, dân thường đều đến từ phương Bắc, và qua thời gian, họ lập nên các dòng họ.

Cuối đời Minh, Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài và 300 tuỳ tùng đã đến và định cư ở Đông Phố. Mạc Cửu chiêu nạp những người nhà Đường để định cư  ở An Giang, Hà Tiên và Minh Hương (hương tức là mùi thơm, sau đó trở thành hương là làng); họ có mặt ở khắp nơi.

lineage-type-2

Sĩ Nhiếp ở Quảng Tín, Đỗ Viện ở Châu Diên, Lí Bí ở Thái Bình và Trần Thừa ở Tức Mặc đều có tổ tiên đến từ phương Bắc. Cùng với thời gian và sự đổi thay của các thế hệ, họ trở thành người phương Nam.

Lưu dân theo họ Mã chỉ có 10 hoặc hơn gia đình ở đầu thời  Hán, thế mà đến cuối thời Tuỳ, đã có hơn 300. Dân người Hoa sống ở Nam thổ mở rộng từng ngày, và dần tích đầy thế lực. Phần lớn hậu duệ của người Việt Thường gốc ở Giao Chỉ đã di chuyển do áp lực của cường quyền mà ra các vùng xa xôi. Các bộ lạc tăng lên có lẽ vào khoảng 45 (chi tiết trong sách Địa dư chí). Họ thường được gọi là “thổ nhân” 土人.

Tộc họ của các nông dân, thợ thủ công và thương nhân ở thủ phủ các tỉnh và các làng xã của ba kì quá nhiều không kể xiết. Về hậu duệ của dòng Nho gia, dòng họ quyền lực ở địa phương, dòng dõi quan lại, và dòng dõi hoàng tộc đế vương, họ có xu hướng chiếm giữa những vị trí cao. Khi khảo sát những người sở hữu năng lực chứng tỏ sự vĩ đại của mình trong vương quốc bằng phương tiện là chuyện văn, công võ, thì [9b] về cơ bản họ đều là hậu duệ của người Hoa.

Thảo luận về đoạn văn:

“Dân là đồng bào ta. Các nhà Nho (儒) Á Đông đã nói rằng “trong bốn biển đều là anh em”. Có tộc loại nào không phải của ta? “

“Dân là đồng bào ta” là một dòng lấy từ một bài văn rất nổi tiếng, bài Tây minh, của học giả phái Tân Nho học sơ kì là Trương Tải張載. Trương Tải đã viết một bài văn mà về cơ bản là đầy cảm hứng về việc ông nghĩ mình là một phần của đồng loại như thế nào, và treo nó lên bức tường phía Tây chỗ học của mình, vì vậy nó có tên như thế. Khái niệm “đồng bào” 同胞 mà tôi dịch là “anh em”, có nghĩa đen là “cùng dạ con”. Ngay xung quanh thời điểm văn bản này được viết, khái niệm này cũng được dùng để dịch một khái niệm phương Tây là “compatriot” (người đồng hương). Tuy nhiên, bằng việc trích dẫn toàn bộ mệnh đề từ văn bản của Trương Tải, rõ ràng đó không phải là điều mà Ngô Giáp Đậu nghĩ trong đầu.

Tôi không chắc liệu có một đoạn kinh điểm nào bàn về “trong bốn biển đều là anh em” hay không, nhưng lập luận của nó là có tính tư biện. Rồi Ngô Giáp Đậu kết thúc những dòng này bằng một câu hỏi dựa trên dòng chữ trong Tả truyện về “tộc loại”. Thay vì “[ông ta] không thuộc  tộc loại ta”, Ngô Giáp Đậu lại hỏi: “Có tộc loại nào không phải của ta”. Do đó, điều nằm trong đầu Ngô Giáp Đậu không phải “chủng tộc” hay “dòng họ”, mà là cái gì đó khác. Chúng ta hãy tiếp tục.

– “[7b] Đất Việt ta thuộc ôn đới, ngay trong một vùng sinh sôi phát triển. Nguyên sự hình thành các kiểu dân ở đây xảy ra chủ yếu thông qua sự hoà trộn của các dân tộc (民族) khác nhau, những người sống trên hai bờ trái phải của đầu nguồn sông Nhĩ (tức sông Hồng).”.

Ở đoạn trên, tôi dịch từ “Á Đông” 亞東thành “phương Đông”. Khái niệm này bao gồm chữ Á và chữ Đông, tuy nhiên, khái niệm để gọi vùng “East Asia” ngày nay được viết với trật tự ngược lại, tức Đông Á, thể hiện một nỗ lực ban đầu áp dụng khái niệm địa lí của phương Tây của một người Việt Nam. Khi Á Đông  亞東ngày nay trở nên lạc hậu, tôi chọn dịch nó là “phương Đông” vì đó cũng là một khái niệm mà giờ đây cũng không được dùng nữa.

Trong đoạn văn trên, khái niệm “Việt ta” (我越),  là một khái niệm của người Việt đã được sử dụng từ lâu. Khó mà nắm bắt được ngoại diên chính xác của nó, nhưng rõ ràng nó nhắm tới sự tồn tại của một vương triều. Khi các học giả Việt Nam tiền hiện đại sử dụng khái niệm này, họ có vẻ như đang chỉ những nhân tố khác với những gì đến với tâm trí của chúng ta khi chúng ta nghĩ về một dân tộc ngày nay, ví như các ý tưởng về một vùng lãnh thổ và toàn bộ cư dân xác định.

Hơn nữa, từ và khái niệm “ôn đới” (溫帶) có nguồn gốc phương Tây và bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam vào đầu thế kỉ 20. Và cuối cùng, “dân tộc” là một từ mới được tạo ra ở Nhật Bản để dịch khái niệm “nation” (với nghĩa là một nhóm người) hay “nationality”.

– “Trước khi Kinh Dương đi về phía Nam, dân Lạc, dù là bộ phận của Hoàng tộc, đều là những nhóm dân man và Thái, Lam (Chàm?). Rồi từ lúc mà 100 người con trai của Lạc Long chia nhau về núi và biển, nơi họ trở thành 1000 con trai rồi 10000 cháu trai, nhiều nhóm dân bắt đầu thiết lập hộ tịch”.

Ý niệm về “Hoàng tộc” là mới, và bắt nguồn từ diễn ngôn về chủng tộc của phương Tây.

Có một khái niệm trong đoạn này tôi không hiểu được: 台藍 thai/đài/đày và lam/chàm? Phải chăng nó chỉ người nói tiếng Thái và người Chàm?

Cái mà tôi dịch là “thiết lập hộ tịch” nghĩa đen là “tạo ra [đăng khí] hộ tịch” hay “được ghi hộ tịch”. Ngụ ý không chỉ là người dân được định cư mà còn là một dạng chính quyền nào đó đang cố gắng ghi lại sự tồn tại của họ.

– “Nhà Tần và nhà Hán tiến hành kế sách thực dân vùng Lĩnh Nam. Triệu Đà lưu đày 50.000 phạm nhân đến đồn trú ở khu vực Lĩnh Nam. Vũ Đế [nhà Hán] đưa người từ Trung Quốc xuống định cư phân tán ở Cửu Quận. Cuối đời Hán, các học giả chạy loạn  và đi xuống  phía Nam. Dưới sự đô hộ của các triều đại nối tiếp từ Tấn, Tống, Tuỳ, Đường, các quan lại, binh lính, dân thường đều đến từ phương Bắc, và qua thời gian, họ lập nên các dòng họ”.

“Kế sách thực dân” là một khái niệm mới đối với giai đoạn này. Khái niệm “thực dân” 植民 được dịch từ khái niệm phương Tây (colonization). Người Nhật tạo ra khái niệm này và dùng các chữ nằm trong văn bản này. Trong tiếng Hán, chữ đầu trong từ ghép này rốt cuộc đã chuyển từ  植  sang 殖. Hai chữ này được phát âm giống nhau và có cùng nghĩa “trồng”.

Bên cạnh từ mới “thực dân”, các học giả tiền hiện đại hẳn sẽ không chỉ những “sự đô hộ” của vài triều đại, bởi các học giả truyền thống là những chuyên gia về lịch sửa của các tập đoàn cai trị và họ đều hiểu rằng chỉ có ở đời Đường mới có một tập đoàn cai trị được biết đến dưới cái tên “Đô hộ phủ” được thiết lập ở vùng Việt Nam. Có lẽ tác giả chịu ảnh hưởng bởi một thực tế là người Pháp đã thiết lập chế độ bảo hộ đối với Bắc Kỳ và An Nam. Dù thế nào, khi ý niệm thực dân không tồn tại trước giai đoạn này, các học giả tiền hiện đại không bao giờ sử dụng bất kì khái niệm nào như thế để chỉ một ngàn năm vùng Bắc và một phần Trung bộ Việt Nam được sáp nhập vào các triều đại Trung Hoa.

– “Cuối đời Minh, Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài và 300 tuỳ tùng đã đến và định cư ở Đông Phố. Mạc Cửu chiêu nạp những người nhà Đường để định cư  ở An Giang, Hà Tiên và Minh Hương (hương tức là mùi thơm, sau đó trở thành hương là làng); họ có mặt ở khắp nơi”.

Đoạn văn này nói về các nhóm dân khác nhau đã rời Trung Quốc vào cuối thời Minh và đến Việt Nam. Dương Ngạn Địch và Trần Thắng Tài từng là thành viên của đội quân trung thành với nhà Minh của Trịnh Thành Công (tức Quốc Tính Gia), đội quân rốt cuộc đã được đóng tại Đài Loan. Khi Trịnh Thành Công bị thua trận, họ phải chạy đến đồng bằng sông Mekong, nơi họ được phép định cư ở khu vực ngày nay nằm trong Sài Gòn. Bản thân Mạc Cửu đi về Nam và nhằm tới vùng ngày nay là biên giới Việt Nam – Cambodia nơi ông lập nên một nhóm định cư ở Hà Tiên. “Người thời Đường” ở đây có lẽ là chỉ người “Quảng Đông”. Cuối cùng, có những di thần nhà Minh khác được phép định cư ở khu trung tâm của vùng mà ngày nay thuộc Việt Nam ở các làng Thanh Hà và Minh Hương.

– “Sĩ Nhiếp ở Quảng Tín, Đỗ Viện ở Châu Diên, Lí Bí ở Thái Bình và Trần Thừa ở Tức Mặc đều có tổ tiên đến từ phương Bắc. Cùng với thời gian và sự đổi thay của các thế hệ, họ trở thành người phương Nam”.

Sĩ Nhiếp và Đỗ Viện đều là hai Thái thú trong thời gian khu vực Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam là một bộ phận của đế chế Trung Hoa. Lí Bí là một hậu duệ của người Hoa, nhưng gia đình ông đã sống ở khu vực này qua nhiều thế hệ cho đến khi ông sinh ra. Lí Bí phụng sự triều Lương, và lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại chính quyền ở khu vực này. Trần Thừa là cha của người sáng lập nhà Trần. Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng dòng họ này vốn là từ Phúc Kiến (Mân).

– “Lưu dân theo họ Mã chỉ có 10 hoặc hơn gia đình ở đầu thời  Hán, thế mà đến cuối thời Tuỳ, đã có hơn 300. Dân người Hoa sống ở Nam thổ mở rộng từng ngày, và dần tích đầy thế lực. Phần lớn hậu duệ của người Việt Thường gốc ở Giao Chỉ đã di chuyển do áp lực của cường quyền mà ra các vùng xa xôi. Các bộ lạc tăng lên có lẽ vào khoảng 45 (chi tiết trong sách Địa dư chí). Họ thường được gọi là “thổ nhân.” 土人

Lưu dân theo họ Mã chỉ những người bị Mã Viện, vị tướng đã dẹp tan khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ 1 sau CN, bỏ lại. “Nam Thổ” 南土chỉ khu vực Việt Nam ngày nay.

“Dần tích tụ đầy thế lực”  (漸有人滿之勢) là một cụm rất thú vị. Các từ về nghĩa đen khẳng định rằng “dần có cái tình thế đầy chật người”. Cái gì đầy? Có phải tác giả đang nói rằng “Việt Nam” rốt cuộc cũng “đầy người Trung Hoa”? Đó có vẻ là ngụ ý, bởi sự đầy người này có vẻ đã củng cố cho “áp lực sức mạnh” đã đưa những cư dân vốn có của khu vực này, “người thổ dân Việt Thường của Giao Chỉ” dạt ra những khu vực xa xôi. “Giao Chỉ” và “Việt Thường” là những khái niệm xuất hiện trong các tư liệu Hán cổ chỉ một địa điểm và một nhóm người, lần lượt, ở vùng viễn nam trong cái thế giới được biết đến thời đó. Người Trung Quốc rốt cuộc đã dần sử dụng riêng từ “Giao Chỉ” như là tên của một tập đoàn cai trị ở khu vực Bắc Việt ngày ngay khi người Việt phác thảo một lịch sử mảnh đất của họ sau khi nó được tự trị khỏi Trung Hoa, họ dùng việc đề cập đến “Việt Thường” trong các tư liệu Hán cổ để củng cố tuyên bố của họ rằng người “Việt” đã sống ở khu vực này từ lâu.

– “Tộc họ của các nông dân, thợ thủ công và thương nhân ở thủ phủ các tỉnh và các làng xã của ba kì quá nhiều không kể xiết. Về hậu duệ của dòng Nho gia, dòng họ quyền lực ở địa phương, dòng dõi quan lại, và dòng dõi hoàng tộc đế vương, họ có xu hướng chiếm giữa những vị trí cao. Khi khảo sát những người sở hữu năng lực chứng tỏ sự vĩ đại của mình trong vương quốc bằng phương tiện là chuyện văn, công võ, thì [9b] về cơ bản họ đều là hậu duệ của người Hoa”

Đoạn văn cuối này là chỗ đầu tiên Ngô Giáp Đậu có vẻ nói về nhóm người mà ngày nay chúng ta sẽ gọi tên là “tộc Việt” hay “Kinh”. Từ đây trở về trước, ông đã nói rằng những cư dân bản địa của đồng bằng sông Hồng đã bị đẩy ra các vùng xa xôi khi hậu duệ của người Hoa tràn khắp khu vực này. Tuy nhiên, ở đây, Ngô Giáp Đậu chú thích cho nhóm người không phải là các “chủng tộc” ở các khu vực xa xôi và những người cũng không phải là nhóm “hậu duệ người Hoa”. Cụ thể, ông cho rằng có nhiều “Tộc họ của các nông dân, thợ thủ công và thương nhân ở thủ phủ các tỉnh và các làng xã của ba kì” (tức miền Bắc, miền Trung và miền Nam). Đây có vẻ như là những nhóm người mà ngày nay chúng ta sẽ gọi là “người Việt”. Tuy nhiên, điều thú vị là Ngô Giáp Đậu không tách biệt nhóm này ra để có bất cứ lưu ý nào đặc biệt. Họ có vẻ không giống với những cư dân bản thổ, và họ không chứng tỏ trình độ vĩ đại về văn học và võ công như hậu duệ người Hoa (tức “Trung Hoa”). Họ chỉ ở đó.

Vài ý tưởng kết luận

Mặc dù tôi đã viết nhiều trang về đoạn văn này,  nhưng vẫn còn nhiều thứ mà người ta có thể thảo luận. Rốt cuộc, điều thú vị là quan sát quá trình tư tưởng mà Ngô Giáp Đậu trải qua. Về cơ bản, ông đã cố gắng làm rõ về người dân trong lịch sử “người Việt”. Trong khi quan sát quá khứ, ông kết luận rằng những người mà ngày nay chúng là gọi là hậu duệ của “người Hoa” đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử “người Việt”. Đồng thời, ông không có trong đầu các kiểu phân loại tương tự với những từ như “người Trung Quốc” và “người Việt” đóng trong đầu chúng ta ngày nay. Thực vậy, không có loại “người Việt” trong đầu ông tí nào. Điều đó quả thú vị.

Ngày nay, các khái niệm “người Việt Nam” và “người Trung Quốc” được phân ranh giới rõ ràng trong đầu óc của người Việt, và người dân ở Việt Nam tin rằng sự phân chia đó có một lịch sử lâu dài. Đây là kết quả của sự đơn giản hoá quá khứ của chủ nghĩa dân tộc. Ngô Giáp Đậu viết cuốn sách giáo khoa 99 năm về trước, và ông rõ ràng không có những ý tưởng như vậy.

Ngày nay, chúng ta có thể cho rằng Ngô Giáp Đậu nghĩ là “Việt Nam” đã không thể tồn tại nếu thiếu “người Hoa”. Tuy nhiên, lập luận của ông phức tạp hơn thế, bởi ông không nghĩ bằng những khái niệm về “Việt Nam” và “Trung Quốc”. Tâm trí ông bao gồm những từ như Bắc, Hoa, Nam thổ, Ngã Việt và ông thấy rằng Hoa về mặt lịch sử đã có một vai trò rất quan trọng đối với “Việt ta”. Đó là một khái niệm dùng để nắm bắt phức tạp hơn nhiều lập luận mang tính dân tộc chủ nghĩa rằng “người Việt” luôn có căn cước khác biệt và luôn chống lại sự xâm lược của “người Hoa”.

Nguồn; http://leminhkhai.wordpress.com/2010/05/23/vietnamese-early-twentieth-century-racial-ideas/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: