Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

26 Oct

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Có một thuyết xuất hiện ở đầu thế kỉ 20 cho rằng ở cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch, người Việt đã di cư đến đồng bằng sông Hồng từ quê hương gốc ở một vùng mà ngày nay là Đông Nam Trung Quốc.

Ý tưởng này đầu tiên do Edouard Chavannes đề xuất vào năm 1901, rồi sau đó được Leonard Aurousseau phát triển thêm vào năm 1923. Ngày nay thuyết này không còn được tin, mặc dù người ta vẫn có thể thấy nó được đề cập đến. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là nhiều người biết vì sao thuyết này vô nghĩa.

Ở Việt Nam thời hậu thuộc địa, lí thuyết này dần bị bác bỏ vì bị xem là “mang tính thực dân”, tôi đoán vậy bởi nó khẳng định rằng người Việt đến từ một nơi bên ngoài Việt Nam. Tuy nhiên  tôi không thấy việc khẳng định rằng kiểu học thuật đó là “mang tính thực dân” giải thích được gì nhiều.

Vâng, có những vấn đề với học thuật của Chavannes và Aurousseau, nhưng tôi không quy những vấn đề đó cho quan điểm “thực dân”. Thay vào đó, những vấn đề đó đôi khi phụ thuộc vào kiểu học thuật cẩu thả, và hơn nữa là vào cái mà tôi gọi là một phương pháp luận sơ hở, mà chúng ta có lẽ có thể gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nhìn nhận quá khứ.

cover1

Trong một cước chú ở tập 4 (a footnote in the fourth volume) của bản dịch 5 tập cuốn Sử kí của Tư Mã Thiên, Edouard Chavannes đưa ra thuyết rằng “chủng tộc An Nam” là hậu duệ của dân một vương quốc Việt cổ. Vương quốc đó chiếm cứ một khu vực ngày nay là phần phía bắc của tỉnh Triết Giang, và nó bị nước Sở tiêu diệt ở thế kỉ IV trước Công nguyên.

Sau đó, theo  Chavannes, có nhiều chính thể hình thành từ những “mảnh vỡ” của nước Việt, như Nam Việt ở khu vực ngày nay là Quảng Đông, Mân Việt ở tỉnh Phúc Kiến ngày nay, và Việt Đông Hải ở tỉnh Triết Giang ngày nay.

vol-4-page-418

Chavannes cho rằng “những nước này chắc chắn có liên hệ với chủng tộc An Nam”, và ông đưa ra hai chứng cứ để củng cố tuyên bố này.

Thứ nhất, ông trích dẫn cuốn Lịch sử An Nam (Cours d’histoire annamite) của Trương Vĩnh Kí để khẳng định rằng các sử gia An Nam xem “Nam Việt Vương” là đã dựng nên triều đại thứ ba của “An Nam”.

Thứ hai, ông lưu ý rằng kinh đô của nước Việt Đông Hải là Đông Âu (nghĩa đen Âu phía Đông), và rồi trích dẫn cuốn Nghiên cứu lịch sử và khảo cổ của Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc cổ [Étude historique et archéologique sur Co-Loa, capitale de l’ancien royaume de Âu Lc (255-207 av. J.-C.) (Paris, E. Leroux, 1893)] của Gustave Dumoutier, để nhắc rằng các sử gia An Nam cho rằng có một nước An Nam có tên Tây Âu (nghĩa đen, Âu phía Tây) có kinh đô là Cổ Loa ở đồng bằng sông Hồng.

Dựa trên những thông tin trên, Chavannes kết luận rằng Đông Âu, Nam Việt và Tây Âu đều là bộ phận của một chủng tộc An Nam đơn nhất.

dumoutier

Có nhiều vấn đề  với ý tưởng này của Chavannes. Trước hết, “Nam Việt Vương” mà Chavannes nhắc đến là Triệu Đà và hậu duệ của ông, những người ít nhất có nguồn gốc thuộc sắc tộc Hán như chúng ta gọi ngày nay, tức là, những người đến từ các vùng phương Bắc (Triệu Đà là người Hà Bắc), và không phải là thành viên của cư dân bản địa trong khu vực này, hay có liên hệ với những nhóm dân từ nước Việt cổ. Vì vậy thực tế nước này trở thành một phần của truyền thống lịch sử Việt không có nghĩa nó tương đồng “về chủng tộc”.

Thứ hai, trong công trình nghiên cứu năm 1893 về thành cổ Cổ Loa, Gustave Dumoutier khẳng định rằng “[sách] địa lí của Cố Hi Phùng顧nói rằng dưới triều nhà Chu, nước bị Giao Chỉ chiếm cứ được gọi là Lạc Việt, và dưới triều Tần tiếp theo nó lấy tên là Tây Âu hay Âu Lạc” (tr.8).

Cố Tây Phong là Cố Dã Vương顧野王(518-581), tác giả của một công trình thế kỉ 6 có tên Dư địa chí (Yudi zhi 輿地志), và đoạn văn mà Dumoutier dẫn ra được đề cập trong một bản chú giải thế kỉ 8 cho Sử kí của Tư Mã Thiên. Đây là những gì nó viết:

Dư địa chí chép: Giao Chỉ ở thời Chu là Lạc Việt, đến thời Tần gọi là Tây Âu, Họ xăm mình, cắt tóc để tránh rồng rắn. Thế thì Tây Âu Lạc lại ở phía Tây Nam của Phiên Ngô. Việt và Âu Lạc đều có họ là Mị/Mi”. [輿地志云:交趾周時為駱越,秦時曰西甌,文身斷髮避龍。則西甌駱又在番吾之西南。越及甌駱皆羋姓也。]

shiji

 

Đoạn văn này rất không rõ ràng ở chỗ nó có nhiều danh xưng. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Dumoutier đã “giản hoá” nó bằng việc nói rằng khu vực ngày nay là đồng bằng sông Hồng ở thời nhà Tân được gọi là Tây Âu hay Âu Lạc.

Dumoutier thực sự không nói rằng Cổ Loa là kinh đô của Tây Âu. Và ông cũng không nói rằng các sử gia An Nam đã nói như thế. Tuy nhiên, đây là điều mà Chavannes đã nói trong sách của mình (bằng việc trích dẫn trang 8 sách của Dumoutier).

Vậy là dứt khoát có loại học thuật cẩu thả ở đây. Tuy nhiên, hơn thế nữa, những ý tưởng mà Chavannes trình bày cũng có vấn đề. Đầu tiên, ông đánh đồng địa danh (hoặc tên các nước) với chủng tộc. Song le, nếu chúng ta đang dùng quan niệm về chủng tộc để xem xét quá khứ thì chúng ta biết rằng Triệu Đà thuộc về một “chủng tộc” khác (tôi nghĩ Chavannes đang dùng thuật ngữ “chủng tộc” để nói về cái gì đó gần hơn với khái niệm mà chúng ta ngày nay gọi là “nhóm sắc tộc”) với nhiều nhóm dân cư mà ông cai trị trong nước Nam Việt của mình, vì vậy thực sự là vô nghĩa khi đánh đồng địa danh với các chủng tộc đơn nhất.

Thêm nữa, chỉ có mỗi một nguồn tư liệu mà chúng ta có thể dùng để khẳng định rằng đồng bằng sông Hồng ở thời Tần được gọi là Tây Âu (cuốn Dư địa chí của Cố Dã Vương), nhưng một là, văn bản này được viết nhiều thế kỉ sau đó, hai là, biết rằng văn bản này chứa đựng khác nhiều danh xưng khác nhau, khó mà thấy rằng từ “Tây Âu” thực sự có ý nghĩa.

Tuy nhiên, đối với Chavannes, từ “Tây Âu” rất quan trọng, như thể nó đóng vai trò một bản sao của từ Đông Âu.

nodes-and-links

Điều này đem chúng ta đến cái mà tôi gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nghiên cứu quá khứ. Nếu chúng ta xem xét quá khứ theo cái cách Chavannes trình bày các ý tưởng của mình, thì nó cứ như thể ông đang khám phá một mạng lưới ẩn các điểm nút và đường nối trong ghi chép lịch sử.

Các chính thể – Việt, Nam Việt, Tây Âu – cũng như thành, Đông Âu, đều đóng vai trò những nút mà Chavannes sau đó khám phá ra các đường nối để nối chúng.

Đông Âu và Tây Âu được nối với nhau bởi từ chung là “Âu”, cũng giống như việc cặp đôi “tây” và “đông”.

Tây Âu và Nam Việt được nối với nhau bởi thực tế là các sử gia Việt xem Nam Việt là triều đại thứ ba trong sử của họ.

Và rồi khi mà Nam Việt được nối với Tây Âu, và Tây Âu được nối với Đông Âu, thì có vẻ như đối với Chavannes rõ ràng là Việt phải là bộ phận của đường nối này.

map

Tôi đã nhận thấy rằng các học giả như Henri Maspero cũng khảo sát quá khứ theo một lối tương tự. Đối với tôi, lối tiếp cận này quá rắc rối, và nó sẽ sụp đổ một khi người ta bắt đầu chỉ ra những vấn đề liên quan đến một số đường nối trong mạng lưới đó.

Vì vậy thuyết mà Chavannes đưa ra vào năm 1901 này có ít nhất 3 vấn đề liên quan:

  • Nó chứa đựng một số lỗi do cẩu thả.
  • Nó có vấn đề khi đánh đồng chủng tộc với địa danh.
  • Nó áp dụng một lối tiếp cận khi khảo sát quá khứ không hiệu quả nhằm việc diễn giải quá khứ.

Trong khi thuyết mà Chavannes đưa ra này có những giới hạn như thế, như tôi đề cập ở trên, thì năm 1923 Leonard Aurousseau phát triển nó xa hơn, Tuy nhiên, trong quá trình này, Aurousseau không đính chính những sai lầm này trong thuyết của Chavannes. Tôi sẽ cố gắng viết về công trình của Aurousseau một lúc nào đó sơm sớm.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/25/the-yueviet-migration-theory-and-the-hidden-network-approach/

Advertisements

One Response to “Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn””

  1. Yun Kut3 October 26, 2014 at 2:23 pm #

    Reblogged this on Yun Kut3's Blog.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: