Archive | Biển đảo Đông Nam Á RSS feed for this section

Nhà nghiên cứu lịch sử hay kẻ “đốt đền”?

17 Jun

Từ bài báo của Ð.Cô-xi-rép (D. Kosyrev) và việc RIA Novosti phải gỡ bỏ bài báo này, nhìn rộng tới một số công trình, bài viết về lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam, có thể thấy việc làm của Ð.Cô-xi-rép không phải là hiện tượng đơn lẻ trong giới nghiên cứu Việt Nam học và Ðông phương học hiện nay.

 

Gần đây trong bài Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền của L.C Ken-li (L.C Kelley) ở Trường đại học Ha-oai trên blog cá nhân có đăng mấy tấm bản đồ cổ. Ðăng kèm theo bản đồ, tác giả lý sự rằng, khi bản đồ không có biểu hiện về biên giới thì khái niệm chủ quyền là không có! Với lối nghiên cứu “hiện đại hóa quá khứ” như thế, L.C Ken-li đã lấy cái cá biệt thay cái toàn thể, bỏ qua nhiều tấm bản đồ biểu thị rất rõ các nội dung hoàn toàn bác bỏ lý sự của ông ta. Và dù từng viết: “Chủ quyền được chứng minh không phải bằng việc đưa cái gì đó lên một tấm bản đồ, mà là đưa ra một sự hiện diện nhà nước liên tục ở một khu vực. Nhà Nguyễn là chính quyền đầu tiên đã cố gắng làm như vậy ở Hoàng Sa, và người Pháp đã thiết lập một sự hiện diện nhà nước lâu dài hơn ở đó trong thập niên 1930s. Ðó là chứng cứ ủng hộ cho một tuyên bố chủ quyền”, thì trong bài viết khác, ông lại đưa ra kết luận: “với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels” (Paracels – Hoàng Sa).

Trong các thế kỷ trước ở Việt Nam, chủ quyền chưa tồn tại với tư cách là một khái niệm khoa học, nhưng không vì thế quan niệm về chủ quyền lại không tồn tại trong ý thức dân tộc. Bởi vậy từ thế hệ này đến thế hệ khác, Việt Nam luôn có các vị anh hùng, các tấm gương hy sinh để bảo vệ chủ quyền đất nước, mà với quần đảo Hoàng Sa thì “Ðội hùng binh Hoàng Sa” và “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” là thí dụ. Nhưng có lẽ L.C Ken-li cố tình không nhận ra, tương tự như trước đây, ông không thể lý giải tại sao người Việt Nam lại đánh thắng đội quân xâm lược nhà Tống, nhà Minh, vì theo ông người Việt đã bị “Hán hóa” và triều cống là một biểu hiện của sự lệ thuộc! Hoặc với Bình Ngô đại cáo, ông lý giải một cách kỳ quái rằng, tác phẩm này là sự răn đe những người Việt đi theo quân Minh, bất chấp việc trong Bình Ngô đại cáo không có câu chữ nào đề cập tới nội dung đó!

Mấy năm qua, “tiếng tăm” của L.C Ken-li nổi lên không phải vì ông có đóng góp trong ngành Việt Nam học, mà chủ yếu là do một số công trình và bài viết có quan điểm gây tranh cãi. Biết tiếng Việt và tiếng Trung, say mê nghiên cứu Việt Nam, thậm chí lấy tên Việt là Lê Minh Khải,… L.C Ken-li được người đọc tin sẽ có cái nhìn khách quan, khoa học. Song qua các công trình, bài viết ông công bố, có thể thấy cùng với nhiều diễn giải lòng vòng về việc cần thay đổi hệ hình trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li ngày càng thể hiện rõ tham vọng muốn soi chiếu, xem xét lịch sử Việt Nam để đạt tới mục đích duy nhất là… đưa ra kết luận ngược với hầu hết các kết luận về lịch sử Việt Nam từng công bố! L.C Ken-li xác định, tự xây dựng một phương pháp nghiên cứu kỳ lạ là “đi qua Trung Hoa để tới Việt Nam”, từ đó cố gắng chứng minh Việt Nam từng là “tiểu Trung Hoa” và ông tỏ ra khéo léo khi ngụy trang cho các suy biện của mình bằng lý thuyết hiện đại của B. An-đéc-xơn (B. Anderson), A.Xmít (A. Smith). Nên không phải là ngẫu nhiên L.C Ken-li lại tán thưởng tác phẩm Ngàn năm áo mũ của nhà nghiên cứu trẻ Trần Quang Ðức. Với cung cách nghiên cứu vốn có, L.C Ken-li ngỡ đây là bằng chứng cho thấy “người Việt đã bị Hán hóa” để qua đó phủ nhận quan niệm người dân ở Ðông – Nam A đã chọn lọc các nhân tố từ các truyền thống văn hóa ngoại lai và rồi “bản địa hóa”, hay vận dụng chúng vào những hoàn cảnh bản địa. Tuy nhiên, Ken-li lại như “không biết!?” tiểu luận Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn hóa trang phục cung đình Việt Nam của Trần Quang Ðức, trong đó nhà nghiên cứu trẻ đã chứng minh Việt Nam không phải là một “tiểu Trung Hoa”. Tác giả Trần Quang Ðức nêu rõ: “Do có sự nhận đồng về điển chương, văn hiến của Trung Quốc, trong suốt một thời gian dài, cũng giống như Triều Tiên, triều đình phong kiến Việt Nam đã coi thể chế, văn hiến Trung Hoa là nguồn tham khảo chính thống. Chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã mô phỏng chế độ của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng đất nước theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên các nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt”.

Sử dụng phương pháp thực chứng một cách máy móc, xem xét và đánh giá từ nguồn sử liệu lỗi thời hoặc không nhận được sự đồng tình, không được lưu giữ trong ký ức cộng đồng,… có thể coi khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li đã trở thành một người “đốt đền” hơn là một nhà nghiên cứu. Không những không nhìn thấy một đặc điểm của sử liệu Á Ðông là thường trong tình trạng xen kẽ, hỗn dung giữa huyền thoại và hiện thực, giữa văn chương, triết học với lịch sử, L.C Ken-li còn nhào nặn làm méo mó nguồn sử liệu cổ và hiện đại về Việt Nam để đạt mục đích. Tự mặc định tài liệu lịch sử là sản phẩm của giới tinh hoa, L.C Ken-li thường tách tác phẩm lịch sử khỏi môi trường văn hóa, biến sách vở trở thành công cụ để từ đó hư cấu nên câu chuyện nước Việt Nam chỉ là mô phỏng bên ngoài, yếu kém hơn mọi mặt. Trong bài “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại, với gần 90 chú thích trong một văn bản ngắn, một người Việt Nam nào đó có thể sẽ tin vào lập luận của L.C Ken-li, từ đó thất vọng rồi ngộ nhận về nguồn gốc dân tộc mình. Song, nếu biết những văn bản L.C Ken-li sưu tầm đều thuộc phần ngoại sử, truyền kỳ, ai cũng dễ dàng nhận ra những lập luận này dựa trên những mối liên hệ không có tính chất áp đặt của văn hóa dân gian trong quá khứ để suy diễn tùy tiện.

Có một điều kỳ lạ là trong nhiều nghiên cứu lịch sử của L.C Ken-li, ông chỉ quan tâm tới việc đưa ra các kiến giải cho thấy Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly (nay là Triều Tiên và Hàn Quốc) chỉ là các “tiểu Trung Hoa không hoàn hảo”. Bởi vậy, như với Việt Nam, ông ta rất hứng thú truy tìm các tài liệu mà giới nghiên cứu không quan tâm, vì chúng không biểu thị cho tinh thần tự chủ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc. Ông không thừa nhận (không muốn thừa nhận?) một vấn đề then chốt là trong lịch sử Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly là Nho giáo đã chỉ được sử dụng như công cụ phục vụ triều đình phong kiến, còn trong đời sống văn hóa mỗi dân tộc từ đời này sang đời khác vẫn tồn tại hệ thống các giá trị có tính bền vững, không thể lay chuyển. Như văn hóa dân gian Việt Nam chẳng hạn, đó là tài sản văn hóa khiến một số nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp phải ngỡ ngàng, không thể lý giải. Ðó chính là một yếu tố góp phần làm nên bản sắc của người Việt, để ngay cả khi triều đình phong kiến bị khuất phục thì dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hóa bởi bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Trong lịch sử, sự tồn tại độc lập của Việt Nam, Nhật Bản, Cao Ly là thách thức mà nếu chỉ vận dụng lý thuyết “Hoa tâm” sẽ không bao giờ có câu trả lời thỏa đáng.

Một số lý thuyết hiện đại cũng tỏ ra bất lực khi muốn giải thích tại sao tinh thần phản kháng của các dân tộc này lại thể hiện qua sự cố kết của những giá trị văn hóa lâu đời bất chấp các “giá trị” từng được “chủng tộc ưu việt” đưa đến trong quá trình “giáo hóa”; cũng không giải thích được sự chủ động trong tiếp nhận văn hóa của các dân tộc thuộc địa bên cạnh sự “cưỡng bức văn hóa” của các quốc gia thực dân. Các thách thức đó làm cho khá nhiều nhà nghiên cứu phải thay đổi quan niệm cũ, thay đổi cách đánh giá về những dân tộc từng bị họ “xúc phạm”, “đơn giản hóa”. Ngay các học giả Mỹ từng được đào tạo bài bản, chịu ảnh hưởng của quan niệm Việt Nam là “tiểu Trung Hoa” cũng đã ít nhiều thay đổi cách nhìn, giảm bớt thiên kiến. Nhưng L.C Ken-li lại coi đó là sai lầm về nhận thức nên cách đây mấy năm, ông cho công bố tiểu luận Thay đổi cách nhìn về văn hóa Việt – Trung, trong đó L.C Ken-li như muốn nhấn mạnh có thể nghiên cứu trực tiếp từ văn bản gốc, không cần thông qua tài liệu dịch; và như một thông điệp ngầm, L.C Ken-li muốn khẳng định ngôn ngữ sẽ là chìa khóa giúp ông khai thác mọi vấn đề trong sử liệu (mà theo ông, các nhà Việt Nam học của Hoa Kỳ do nhiều lý do đã không dịch thuật đầy đủ).

Trong những năm gần đây, L.C Ken-li vẫn qua lại Việt Nam, vẫn tham dự một số hội thảo và công bố nhiều bài viết phần lớn nhằm chứng minh lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chỉ là hư cấu, một số giá trị văn hóa người Việt Nam tự hào chỉ có được sau khi tiếp xúc với phương Tây! Và “mưa dầm thấm lâu”, không chỉ một số kết luận về lịch sử Việt Nam của tác giả này, mà cả phương pháp làm việc của ông cũng đã ảnh hưởng tới quan niệm và phương pháp làm việc của một vài tác giả, nhất là tác giả trẻ. Phải chăng đó là một biểu hiện của xu hướng “sùng ngoại” đến mức không cần phân biệt đúng hay sai? Phải chăng khối lượng tri thức L.C Ken-li huy động trong các công trình, bài viết đã mê hoặc các tác giả này để họ cũng học theo ông và tiến hành công việc kỳ khôi là “xét lại lịch sử”. Do vậy, đây là xu hướng cần được cảnh báo. Nghiên cứu lịch sử cần cẩn trọng khi xem xét, đánh giá, kết luận về một vấn đề cụ thể, nếu không, sẽ không chỉ làm nhiễu loạn tri thức xã hội, mà còn có thể đi tới sự xúc phạm, xuyên tạc các giá trị cốt lõi và tốt đẹp vốn là niềm tự hào của cả dân tộc. 

LÊ VIỆT ANH
 
Nguồn: http://nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/23521102-%20nha-nghien-cuu-lich-su-hay-ke-dot-den.html 

Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền

4 Jun

Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi thực sự đã thấm mệt khi nhìn người ta đưa ra những tấm bản đồ thời tiền hiện đại như là các chứng cứ mà họ tin có thể chứng minh cho chủ quyền. Chúng không chứng minh, và vì vậy nếu người ta muốn chứng minh một tuyên bố chủ quyền trong lịch sử đối với một khu vực nhất định, các tấm bản đồ sẽ không giúp gì cho họ.

Image

Lấy tấm bản đồ trên làm ví dụ, nó thể hiện Paracels (Hoàng Sa) như là một đảo đơn, và rồi ở trên nó là hai “đảo” nữa, – theo tôi biết đây là một nơi trên đảo Hải Nam, tôi sai chăng?) và Hainan/Hải Nam. Hải Nam là một hòn đảo thực sự, và vâng nó được thể hiện theo cùng cách thể hiện đảo Paracels. Hơn nữa, không có gì trên tấm bản đồ (màu sắc, đường nét,v.v…) phân biệt Hải Nam với Hoàng Sa.

Vậy thì phải chăng điều đó có nghĩa là nhà Nguyễn có chủ quyền với Hải Nam?

Thế còn biên giới phía Tây của triều Nguyễn? Không có biên giới phía Nam trên tấm bản đồ này. Vậy thì phải chăng nó có nghĩa là đất Lào cũng là lãnh thổ thuộc chủ quyền của nhà Nguyễn?

Không, nghĩa của nó là những nhà vẽ bản đồ tiền hiện đại vẽ các tấm bản đồ mà không có ý niệm trong đầu rằng họ cần phải vạch rõ “lãnh thổ thuộc chủ quyền” vương quốc của họ. Và bởi họ không có ý niệm ấy trong đầu, nên chúng ta không thể dùng cái họ vẽ ra để chứng minh chủ quyền.

Image

Tấm bản đồ trên đây cũng chứng minh quan điểm này. Nó thể hiện đảo Hải Nam bao quanh bởi màu xanh, cũng như bờ biển của đế chế Nguyễn được vẽ bằng màu xanh, và các con sông cũng vậy. Do đó, nó có vẻ như biểu thị sông biển, nhưng chỗ nào là chỗ các đường vạch đó phân định chủ quyền? Chả có gì cả.

Image

Đây là một tấm bản đồ “toàn vương quốc” Đại Nam, và một lần nữa nó có đảo Hải Nam và không có đường biên giới phía Tây rõ ràng.

Image

Cuối cùng, ở đây chúng ta có một tấm bản đồ tuyệt đẹp khác có đảo Hải Nam, và không có đường biên giới phía Tây hay phía Bắc.

Vậy thì làm thế nào các tấm bản đồ đó chứng minh chủ quyền? Cách duy nhất chúng có thể làm vậy là nếu người nhìn có xu hướng chọn lựa và chỉ chú ý đến một số phần của các tấm bản đồ trong khi họ lờ đi những phần khác của chúng.

Kiểu chọn lựa như thế, tuy vậy, có nghĩa là bất cứ nỗ lực nào nhằm sử dụng những tấm bản đồ đó để “khẳng định” chủ quyền rốt cuộc sẽ thất bại, bởi vì tất cả những “mặt đối lập” phải làm là nhắm tới những phần khác của các tấm bản đồ (như tôi làm ở trên) để làm xói mòn logic của những tuyên bố rằng các tấm bản đồ như thế có thể được dùng để chứng minh chủ quyền.

Chủ quyền được chứng minh không phải bằng việc đưa cái gì đó lên một tấm bản đồ, mà là đưa ra một sự hiện diện nhà nước liên tục ở một khu vực. Nhà Nguyễn là chính quyền đầu tiên đã cố gắng làm như vậy ở Hoàng Sa, và người Pháp đã thiết lập một sự hiện diện nhà nước lâu dài hơn ở đó trong thập niên 1930s. Đó là chứng cứ ủng hộ cho một tuyên bố chủ quyền.

Những người vẽ bản đồ thời tiền hiện đại không nghĩ gì về chủ quyền khi họ vẽ các tấm bản đồ của mình. Các tấm bản đồ của họ rất đẹp, nhưng nó dựa trên một cách nhìn khác về thế giới.

An Nam đồ chí

17 May

An Nam đồ chí

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Như độc giả của blog này sẽ rõ, tôi không có hứng thú với cuộc đấu tranh giành biển Bắc Borneo (hay biển Đa Đảo, như tôi đã gọi ở đây). Tuy nhiên, tôi vui lòng chia sẻ các “chứng cứ” khi tôi đọc được bất cứ thứ gì.

Trước đây, tôi đọc được một cuốn sách thời Minh có tên An Nam đồ chí (Annan tuzhi 安南圖誌).

Image

Sách này có chứa một tấm bản đồ về toàn bộ khu vực An Nam thời nhà Minh. Đây là một tấm bản đồ có giá trị khi nó là một trong những tấm bản đồ sớm nhất về một phần của thế giới.

Dù sao, điều mà người ta ngày nay có lẽ sẽ hứng thú hơn khi xem là ở đáy của tấm bản đồ về phía tay trái (của tấm bản đồ 2 trang này), bên ngoài trên biển, là 2 khoanh tròn trong đó nói về: Tiểu Trường Sa Hải Khẩu (Lesser Trường Sa Estuary) and Đại Trường Sa Hải Khẩu (Greater Trường Sa Estuary).

Image

Khi tìm những khái niệm này trên internet, có vẻ như người ta đã biết về văn bản này và những thuật ngữ mà nó chứa, vì vậy tôi không nghĩ mình đang cung cấp một “chứng cứ” nào góp phần giải quyết xung đột về “chủ quyền lịch sử”.

Phải nói rằng, đây cũng là sự thật bởi tấm bản đồ này không “chứng minh” một cái gì cả. Trên thực tế, nó cực kì mơ hồ. Nó liệt kê các “cửa biển” (hải khẩu) Tiểu Trường Sa và Đại Trường Sa hơn là nói về các đảo. Vậy thì điều đó chính xác có nghĩa gì?

Có phải nó có nghĩa là cửa biển ấy là một phần lãnh thổ và không phải là quần đảo Trường Sa? Nếu như vậy, thì ai có quyền thực thi chủ quyền đối với quần đảo ấy? Và chứng cứ ở đâu chứng minh điều đó?

Hay có phải thực thế là hai thuật ngữ ấy (Tiểu Trường Sa hải khẩu và Đại Trường Sa hải khẩu) được viết bằng chữ khối vuông ở [chỗ vẽ] vùng nước có ý chỉ ra rằng các cửa biển đó bao gồm các đảo?

Image

Tôi nghĩ một điều mà các tấm bản đồ thế này chỉ ra là những người sống ở thời điểm đó không quan tâm đến ý niệm về “chủ quyền” như chúng ta bây giờ. Chủ quyền là một khái niệm (phương Tây) hiện đại. Chúng ta không thể tìm thấy nó trong các bản đồ cổ.

Nhưng các bản đồ cổ trông khá là đẹp, bạn không nghĩ vậy sao?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/03/25/the-illustrated-treatise-on-an-nam/

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

14 May

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nhiều năm qua tôi đã tránh chủ đề về các hòn đảo ở biển Đông Nam Á, một phần bởi tôi không có chung hướng tiếp cập chủ đề này với nhiều người. Bài này qua bài khác, tôi thấy các tác giả đơn thuần chỉ nắm lấy những ý tưởng hiện tại về chủ quyền rồi phóng chiếu nó vào quá khứ.

Vì vậy, chẳng hạn, nếu một tấm bản đồ ở đầu thế kỉ XIX có một đường khuyên xoanh một số hòn đảo, thì người ta sẽ diễn giải nó là một chứng cứ cho thấy các đảo đó là một phần “lãnh thổ có chủ quyền” của một quốc gia.

Image

Dĩ nhiên, vấn đề là ở chỗ khái niệm chủ quyền không tồn tại ở châu Á vào thời gian đó. Và vâng, dĩ nhiên các vương quốc có lãnh thổ và các tấm bản đồ tồn tại, nhưng không có cái gì trong đó được hình dung bằng đúng cái cách giống như ngày nay.

Thay vào đó, người ta nghĩ cái cách họ nghĩ ngày nay về mảnh đất của họ là bởi họ đã du nhập nhiều ý tưởng từ phương Tây (bao gồm khái niệm chủ quyền). Sự chuyển dịch này được minh chứng rõ đối với trường hợp Siam trong cuốn Siam Maped của Thongchai Winichakul, nhưng sự chuyển dịch tương tự cũng xảy ra ở tất cả các khu vực khác của châu Á.

Image

Hơn thế, có một mức độ phức tạp được bổ sung đến từ một thực tế là cùng lúc với việc các ý tưởng đó được giới thiệu, một nơi như Việt Nam đã chuyển từ một thực thể vương quốc tiền hiện đại thành một phần của đế quốc thực dân Pháp, thành một phần của đế chế thời chiến Nhật Bản, thành một quốc gia độc lập, tất cả điều đó có tác động đến đường biên giới lãnh thổ thực tế cũng như cách thức lãnh thổ đó được hình dung (cuốn Going Indochinese: Contesting Concepts of Space and Place in French Indochina – Đến với người Đông Dương: Tranh luận về các khái niệm không gian và vị trí ở Đông Dương thuộc Pháp của Christopher Goscha xử lí một số phương diện của chủ đề này).

Image

Và câu hỏi trở thành là: Làm thế nào bạn xác định chủ quyền ngày nay từ hệ quả của tất cả những sự thay đội về chính trị và tri thức này?

Như tôi đã nói, điều nhiều người đã và đang làm chỉ là nắm lấy hiểu biết hiện tại về chủ quyền rồi tìm kiếm các chứng cứ ủng hộ ý tưởng rằng các hòn đảo ở ngoài biển “thuộc” về một “quốc gia” trong quá khứ.

Một độc giả trung thành gần đây khuyến khích tôi đọc cuốn Les Archipels de Hoàng-Sa et de Trường-Sa selon les Anciens Ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Géographie của Võ Long Tê. Tác giả đã làm rất tốt việc tập hợp tư liệu từ các nguồn trước thế kỉ XX có nhắc đến quần đảo Pracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa). Tuy nhiên, các phân tích của ông phần lớn theo cùng một logic với nhiều người ngày nay, tức là, sự tồn tại của các dẫn chiếu về các hòn đảo trong các nguồn tư liệu của Việt Nam chứng tỏ rằng chúng từ lâu đã là một phần của lãnh thổ quốc gia.

Điều tôi thấy thú vị hơn nữa ở cuốn sách này là thông tin mà Võ Long Tê đính kèm về những nỗ lực của người Pháp nhằm chứng minh rằng Paracels và Spratlys là một bộ phận của đế chế Pháp. Cụ thể, tác giả trích các thông cáo mà chính quyền Pháp đưa ra vào thập kỉ 1930s trong đó quy định rõ rang rằng các đảo đó là một phần của Đông Dương thuộc Pháp.

Image

Điều này thôi thúc tôi tìm kiếm thêm thông tin về giai đoạn này. Trong quá trình đó, tôi đã đọc được một bài báo thú vị năm 1933 của Oliver A. Saix trong đó nói về những nỗ lực trong một bộ phận người Pháp lúc bấy giờ nhằm sáp nhập quần đảo Paracels.

Để làm việc này, người Pháp đã làm 2 việc: 1) họ cố gắng để chứng minh rằng không có ai khác có một tuyên bố có giá trị về các đảo đó; 2) họ gửi cho một số người xem xét những nguồn tư liệu của Việt Nam trước thế kỉ XX nhằm tìm kiếm những chứng cứ cho thấy các đảo đó về mặt lịch sử là một phần của đế chế Việt.

Ở phương diện này, những gì người Pháp đã làm chính là những gì nhiều người Việt đang làm. Tuy nhiên thêm vào những hành động đó, người Pháp còn làm nhiều hơn. Thứ nhất, họ ra một thông cáo về yêu sách của họ đối với các đảo (như được trình bày chi tiết trong cuốn sách của Võ Long Tê), và thứ hai, họ gửi người đến lặng lẽ thiết lập sự hiện diện của chính quyền trên các đảo đó.

Image

Tôi nghĩ hai hành động sau này rất quan trọng, khi tôi vừa đọc một bài báo hôm nay của Hong Thao Nguyen có tên “Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim” (Vị trí của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: yêu sách biển của nó) trong đó tác giả chỉ ra  rằng trong khi xác định chủ quyền của các khu vực tranh chấp, luật quốc tế trong một số trường hợp đã dựa vào cái gọi là “nguyên tắc về tính hiệu lực” cơ bản lập luận rằng một nhà nước có thể tuyên bố chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ chưa bị yêu sách (res nullius) và bị từ bỏ (res derelica) thông qua “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước”.

Trong khi triều Nguyễn thực thi quyền hạn đối với Paracels và Spratlys, với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels.

Hơn nữa, họ làm điều đó vào lúc khái niệm chủ quyền, và luật pháp quốc tế thừa nhận chủ quyền, đã được thiết lập trọn vẹn ở châu Á.

Image

Giờ đây, tôi chắc chắn rằng luật pháp quốc tế còn phức tạp hơn thế, nhưng đối với tôi dường như chiếc chìa khóa đối với việc chứng minh chủ quyền ở khu vực ấy không phải bằng cách cho thấy “ai là người đến đó đầu tiên” và cho rằng chủ quyền là cái gì đó vĩnh viễn, mà thay vào đó là bằng cách chứng minh ai thiết lập chủ quyền đối với các đảo đó thông qua những phương tiện mà luật quốc tế có thể thừa nhận.

Nếu người Pháp là những người đầu tiên rõ rang đã làm điều đó, thì câu hỏi tiếp theo cần xem xét sẽ là: quyền hạn của một đế quốc thuộc địa được chuyển giao sang một nhà nước độc lập như thế nào.

Chủ đề này quá phức tạp đối với đầu óc đơn giản của tôi, vì vậy đã đến lúc tôi phải dừng viết về chủ đề này, nhưng tôi nghĩ rằng chiếc chìa khóa cho chủ đề này là việc nhìn vào nơi lịch sử và luật pháp quốc tế gặp nhau, và trong phạm vi tôi có thể bàn, điều đó xảy ra ở thập kỉ 1930s (nhưng chắc chắn có những người có thể am hiểu chủ đề này nhiều hơn tôi sẽ có những ý kiến khác).

Dù thế nào, việc cố gắng tìm kiếm chủ quyền trước khi có khái niệm chủ quyền chỉ là điều vô nghĩa đối với tôi.

Cho những người quan tâm, tôi đính kèm một bản sao cuốn sách của Võ Long Tê và bài báo của Saix.

Võ Long Tê: Les Archipels

Saix: Saix article

 

Nguồn:   http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/14/where-history-and-sovereignty-intersect/ 

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

13 May

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Hôm trước tôi đã đọc quá một số tài liệu ở Cục lưu trữ Quốc gia Úc nói về một tàu ngầm Mỹ tấn công quân Nhật ở đảo Woody (Phú Lâm) trong Quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Trước khi nổ súng từ tàu ngầm, U.S.S. Pargo, một đội trinh sát được gửi lên bờ, và khi ở trên đảo, họ thấy một chú chó. Dưới đây là đoạn ghi chép tiếp theo:

“… có một việc được phát hiện là có những vết chân chó trên bãi biển và trên vài vệt mờ xuyên qua những bụi cây đước. Từ một vị trí trên rìa của tầng cây thấp và cách chân cầu tàu khoảng 150 yard đến 200 yard, chú chó, lớn, lai giữa giống Alsat và giống Airdale, được thấy đang chạy ra về phía bờ biển ở cuối cầu tàu và tiếp cận hướng đi của chúng tôi.

Khi [chúng tôi đi] chếch một chút về phía Nam của đảo Crew, nó bắt được mùi của chúng tôi, đưa mũi ngửi quanh và theo dấu chúng tôi, rồi trong phạm vi 50 yard gần chúng tôi, nó nhìn thấy chúng tôi rồi quay lại bãi biển và ngồi xuống”.

Image

Khi tôi đọc được thông tin này, tôi đoán rằng đây hẳn là một chú chó mà lính Nhật đã đem theo họ, có lẽ để dùng làm chó giữ nhà. Tuy nhiên, hôm nay tôi đọc được một bản tường trình về một chuyến viếng thăm lên đảo Woody từ trước thời điểm đó hơn một thập kỉ trong dó cũng đề cập đến sự hiện diện của một chú chó trên hòn đảo ấy.

Trong một bài báo được công bố trên tập san The North – China Herald and Supreme Court & Consular Gazette (06 June 1934, pg. 366) có tên Cảnh hoang tàn trên đảo Paracel: Phác thảo ấn tượng về một chuyến thăm tới những bãi đá ngầm nguy hiểm ở biển Nam Trung Hoa”, một ông L.Dowdall nào đó đã ghi chép thông tin về một chuyến thăm của mình tới đảo Woody vài năm trước lúc bài báo được công bố.

Dowdall, người mà tôi đoán là người Anh, đang trên một con tàu du hành từ Bangkok tới Hồng Kông. Nó cần phải thả neo để trải qua vài cuộc sửa chữa động cơ, vì vậy thuyền trưởng tàu dừng tàu ở quần đảo Paracel, và để Dowdall lên bờ ở đảo Woody.

Dowdall nói rằng “tôi biết rằng đảo Woody đã từng được khai thác về phân chim bởi một số người Nhật vài năm trước, nhưng họ đã bị chính phủ Trung Hoa, người khẳng định chủ quyền đối với các đảo này, trục xuất. Từ đó vài công ty khác, cả của Trung Hoa và nước ngoài, đã được tổ chức để khai thác phân chim, nhưng họ đều thất bại theo cách này hay cách khác”.

Theo đó, Dowdall đi bộ lên bờ của một hòn đảo không có người ở lúc bấy giờ. Phần lớn bài bào của ông được dùng để miêu tả cảnh hoang tàn mà ông quan sát được trên đảo.

Và rồi ông thấy một chú chó.

“… Thật ngạc nhiên khi tôi thấy một chú chó to. Nó chạy túc tắc khỏi bụi rậm phía trước tôi chừng 200 yard, đứng lại và nhìn một chốc, rồi chạy lững thững vào một đám cây bụi và cỏ gai và biến mất.

“Có phải tôi đang mơ? Không. Khi tôi đến chỗ đó, có vết chân nó in trên cát. Ông tướng tội nghiệp, tôi nghĩ. Nó hẳn đã bị bỏ rơi bởi những người cuối cùng đến đó”.

“Nó đã ở đó một mình bao lâu rồi và có phải đôi khi nó xuống bờ biển để buồn bã nhìn ra biển chờ đợi mẹ của nó quay lại?”

“Tôi gọi và huýt sáo cho nó nhưng nó không phản ứng. Có lẽ nó đang núp trong bụi rậm nhìn tôi cảnh giác, tự hỏi tôi là bạn hay thù. Thực tế, nó hẳn thấy tôi là bạn khi đánh bạo tiến về phía tôi lúc trước”.

Image

Có thể nào có chuyện chú chó mà Dowall nhìn thấy ở đầu thập niên 1930s cũng chính là chú chó mà đội trinh sát Mỹ thấy đầu năm 1945?

Tác giả và chính trị gia quá cố người Thái tên là M.R.Kukrit Pramoj đã viết một truyện ngắn tuyệt vời những năm 1950s kể về một chú chó có tên “Mom”. Trong truyện đó, Kukrit Pramoj cơ bản miêu tả những sự kiện của Thế chiến II ở BangKok nhìn qua nhãn quan của chú chó Mom.

Trong khi truyện đó, như tôi biết, là một tác phẩm hư cấu, thì có vẻ như đã có một chú chó thực không chỉ chứng kiến Thế chiến 2 trên đảo Woody ở quần đảo Paracels, mà còn ở đó vài năm trước cuộc chiến; một chú chó đã nhìn thấy, trong vòng hơn một thập kỉ, người Nhật, người Việt, người Trung Quốc, người Mỹ và một người Anh đơn độc đều đến và đi.

Dành cho ai muốn đọc toàn bộ bài báo, tôi đính kèm bài báo ở đây (Dowdall article).

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/10/vietnamese-japanese-formosan-coolies-and-the-u-s-s-pargo-in-the-paracel-islands-in-world-war-ii/ 

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – PLF)

12 May

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – Hoàng Sa: PLF)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nếu bạn chưa bao giờ xem  Bộ sưu tập bản đồ của David Rumsey thì nên xem qua một lượt, nó hoàn toàn tuyệt vời.

Khi tiến đến lĩnh vực địa lí học, dĩ nhiên có những vấn đề hiện ra trong đầu người dân ở Đông Nam Á, và họ quay sang những tấm bản đồ để làm “bằng chứng”.

Tuy nhiên, như tôi đã nói trên blog này trước đây, khái niệm “chủ quyền” là một khái niệm phương Tây/hiện đại, vì vậy rất khó tìm chứng cứ cho nó trên các tấm bản đồ có niên đại trước khi khái niệm đó du nhập vào châu Á ở thế kỉ XX.

Người phương Tây có khái niệm này trước thế kỉ XX, nhưng khi họ vẽ bản đồ về Á Châu, họ dường như không có ý nghĩ rằng “những bãi đá trên biển đó” thuộc về bất cứ ai.

Hãy xem tấm bản đồ như tấm được vẽ năm 1780 này (Les Isles Phiilippines, Celle de Formose. . .).

Image

Nó có quần đảo Paracels (Hoàng Sa), và hình các đảo có một đường viền bao quanh, nhưng đường viền đó có nghĩa gì? Có phải nó có nghĩa là chúng thuộc về Nam Kỳ? Làm sao chúng ta biết? Hoặc nó đơn thuần chỉ có nghĩa là chúng là một nhóm đảo?

Cũng có một đường viền xung quanh vùng Basse d’Agent (trên bản đồ). Đường viền đó có nghĩa gì?

Image

Rồi bạn có tấm bản đồ được vẽ năm 1864 dưới đây (Bản đồ về Burma, Siam, Nam Kỳ và Malaya). Nó được bôi đen ở những khu vực nước nông, và nó bao quanh quần đảo Paracels, Hải Nam và dọc bờ biển, nhưng ai có “chủ quyền” với quần đảo Paracels?

Image

Cuối cùng, có một tấm vẽ năm 1806 (Quần đảo Đông Ấn và những khu vực lân cận với các kênh mạch nằm giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Tân Hà Lan). Ở đây chúng ta thấy rằng “Trung Quốc” màu xanh lá cây, “Việt Nam màu hồng, và quần đảo Paracels… không màu gì cả (tấm bản đồ trên cũng vậy).

Tôi nghĩ đã đến lúc phải hình thành Mặt trận giải phóng Paracel. Những đảo đó thuộc về những sinh vật biển, chim và côn trùng đã sinh sống ở đó từ thời thượng cổ. Tất cả con người nên rời khỏi đó.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/08/23/beautifully-digitized-old-maps-and-time-to-form-the-plf/   

Cu li người Việt, người Nhật, người Đài và tầu ngầm U.S.S Pargo ở Quần đảo Paracels (Hoàng Sa) trong Thế chiến 2

10 May

Cu li người Việt, người Nhật, người Đài và tầu ngầm U.S.S Pargo ở Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) trong Thế chiến 2

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

778px-USS_Pargo;0826404
Được biết rằng hiện nay tình hình đang được hâm nóng bởi việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (PRC) đang cố gắng đặt một giàn khoan ở một khu vực tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, tôi quyết định tìm quanh xem mình có thể tìm thấy một thông tin gì mới về lịch sử của khu vực này hay không (ít nhất là cái gì đó mới đối với tôi – tôi không phải là chuyên gia về chủ đề này).

Một tìm kiếm nhanh trong Kho lưu trữ quốc gia của Úc đem lại một số tài liệu thú vị.

Image

Chẳng hạn, tôi phát hiện một tài liệu có vẻ như là một báo cáo tình báo năm 1945 về quần đảo Paracels. Sau chiến tranh, quân lực Úc di chuyển lên phía Bắc để giải phóng Đông Nam Á khỏi tay Nhật Bản. Họ đã có công dành lại Borneo, chẳng hạn, và báo cáo này được soạn để chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ dự kiến lên quân đảo Paracels (việc đó có xảy ra không?).

Để chuẩn bị cho chiến dịch này, ai đó đã thu thập một số tài liệu khác nhau về quần đảo Paracels. Chẳng hạn, ở đây có những thông tin thu thập được từ một báo cáo năm 1940 trước cuộc chiến trong đó Paracels được xem là một bàn đạp tiềm tàng để Nhật tiến chiếm Đông Dương.

Image

Báo cáo đó có chứa thông tin dưới đây:

“Người Nhật có những công ty khai thác phosphate và khai thác nghề cá ở đây và trên một bến tàu ở đảo Woody là một tấm bia sừng sững có khắc dòng chữ “Nơi đây bắt đầu các đảo thuộc về Đế quốc của Thiên Hoàng Nhật Bản”.

“Người Pháp dựng các tấm bia ở các đảo Woody, Duncan, Drumond, Robert và Pattle vào tháng 3 năm 1938, rồi dựng các tấm bia trên đảo Lincoln và Money vào tháng 6 năm 1939, [những tấm bia đó] cho biết rằng những đảo này thuộc về Cộng hoà Pháp”.

Image

Đi vào chi tiết hơn, tài liệu này chép những thông tin về quần đảo Paracels như sau:

“Có một đồn cảnh sát trên đảo … Vào tháng 1 năm 1940, nhân sự của người Pháp bao gồm:

1 Thanh tra (người bản địa)

1 Trung sĩ (người bản địa)

1 Hạ sĩ

24 Cảnh sát (người bản địa)

1 Bác sĩ (người bản địa)

1 Thông dịch viên (người bản địa)

1 Thợ điện (người bản địa)

11 Cu li (người bản địa)

“Có một vụ làm ăn liên quan đến phosphate của người Nhật ở phía Tây Nam của hòn đảo. Vụ làm ăn này thuộc về công ty Messrs Kaiyo, Kagyo of Takao (nay là Cao Hùng) ở Formosa [tức Đài Loan], và các nhân viên tại đó gồm có một quản lí người Nhật, 30 cu li người Nhật và 150 cu li người Đài,…

“Tháng 3 năm 1938, người Nhật được chính thức cho phép treo cờ của họ, nhưng hoá ra họ chỉ được cho phép làm vậy với tư cách cá nhân, và sự cho phép không có ý nghĩa về chính trị. Từ đó trở đi, cờ Nhật được kéo lên rất ít lần…

Ngoại trừ những cơ sở của người Pháp và người Nhật, hòn đảo bị bao phủ bởi rừng rậm.

Có rất nhiều chuột”.

Image

Tôi không hình dung được đó là cuộc sống thực ở trên quần đảo Paracels cuối thập niên 1930s, nhưng rõ  ràng có một nhóm “người bản địa” Đông Dương (tôi đoán rằng họ là người Việt) cắm trại ở đó, cũng như người Nhật – những người đã thu được phosphate từ khối lượng phân chim rất lớn ở nơi ấy.

Hoặc chính xác hơn, những cu li người Đài có lẽ là những người đã đi lượm phân chim tại đó(*).

Điều  tôi không chắc là tại sao người Nhật được cho phép treo cờ Nhật ở đó. Tuy nhiên, chi tiết này, và tuyên bố rằng có một bia đá ở đảo Woody có khắc dòng chữ “Nơi đây bắt đầu các đảo thuộc về Đế quốc của Thiên Hoàng Nhật Bản” gợi ý rằng người Nhật đang lặng lẽ thiết lập ở đó cơ sở cho sự bành trướng thực sự xuống Đông Nam Á (và nó cũng chứng tỏ rằng các doanh nhân Nhật Bản đã đóng vai trò kiểu này ở Đông Nam Á cuối thập niên 1930s).

Image

Cuối cùng, tôi không nghĩ rằng người Nhật dùng các đảo này như là bàn đạp để xâm lược Đông Nam Á. Tuy nhiên, sau khi họ chiếm đóng thành công khu vực này, rõ ràng họ đã đưa một số người lên các đảo đó.

Một nhiệm vụ bí mật mà một tàu ngầm Mỹ, tàu U.S.S Pargo(*), đã hoàn thành vào đầu tháng Hai năm 1945 là phát hiện ra những binh lính Nhật trên đảo Woody, và tàu U.S.S Pargo sau đó đã bắn vào cái có vẻ là toà nhà chỉ huy của họ.

Khi họ chuẩn bị làm như vậy, ai đó đã treo cờ ba màu của Pháp lên trên toà nhà, nhưng người Mỹ đã coi việc làm này là một thủ đoạn của người Nhật ở đó và tiếp tục bắn phá.

Image

Tôi chưa bao giờ nghe gì về vụ ấy, nhưng tài liệu này chứa đứng một bản tường thuật rất chi tiết về việc trinh sát quần đảo Paracels của tàu U.S.S Pargo (họ thậm chí còn ghi chú rằng có một chú chó trên đảo Woody, lai giữa giống Alsation (chó béc-giê vùng Alsat, Đức – HQV) và giống Airdale (giống chó vùng Yorkshire, Anh – HQV), và rằng bất cứ ai đổ bộ lên đảo này cần biết để phòng trường hợp con chó sẽ sủa cắn họ) và cuộc tấn công doanh trại quân Nhật trên đảo của nó.
761px-USS_Pargo;0826401

Tôi thấy điều này đặc biệt thú vị đáng đọc vì khi tôi tham gia một cuộc hội thảo hai năm trước, có một nhà sử học rất đáng kính đến từ Đông Nam Á đã cho rằng tuyên bố chủ quyền đối với các đảo đó của Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu sau Thế chiến 2, khi người Trung Quốc cố gắng tuyên bố chủ quyền [đối với nó] cũng như chính các vùng lãnh thổ [khác] của họ mà người Nhật đã chinh phục.

Sử gia này không cung cấp bất kì chi tiết nào củng cố lập luận của mình, nhưng tôi có thể thấy rõ những chi tiết đó ở đây, trong các tư liệu này.

Vào thập niên 1930s và 1940s, không có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Paracels. Người Pháp đã tuyên bố các đảo này là một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp, và người Nhật thách thức tuyên bố đó.

Về người Trung Quốc, sự hiện diện chủ yếu của họ trên quần đảo Paracels trong những năm ấy là qua các cu li người Đài Loan (nếu chúng ta muốn xem những người Đài Loan – lúc bấy giờ là thuộc địa của Nhật Bản – là “người Trung Quốc”), những người dành cả ngày để đi lượm phân chim (tức “cứt”) cho doanh nhân Nhật Bản).

Ồ, lịch sử chẳng thú vị lắm sao!??

Tệp tài liệu đầy đủ có thể truy cập ở đây.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/10/vietnamese-japanese-formosan-coolies-and-the-u-s-s-pargo-in-the-paracel-islands-in-world-war-ii/ 

Chú thích:
(*) Về những mô tả này, có thể tham khảo, sánh với những chi tiết trong bài viết sau: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Vi-dai-ta-quan-doi-ke-ve-tuoi-tho-o-Hoang-Sa-truoc-nam-1945-post116641.gd
(**) Tàu ngầm U.S.S Pargo: tức tàu ngầm SS-264, được đóng năm 1942, hạ thuỷ năm 1943, tham chiến từ năm 1944. Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Pargo_(SS-264) .
Bonus:
“….[Đ]ây [tức Hoàng Sa] là một kiểu “không gian trung gian” nơi mà các đế quốc khác nhau đều có ảnh hưởng. Người Nhật bắt đầu xâm nhập khu vực này, và điều đó kích động phản ứng của người Trung Quốc. Rồi người Pháp kéo đến. Và rồi người Nhật xâm chiếm nó. Và rồi đầu tiên là những người Dân tộc chủ nghĩa sau đó là Cộng sản chủ nghĩa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, và rồi Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền,v.v…
Kết quả là rất khó xác định “chủ quyền” ở đây trong quá khứ, khi mà đây là một không gian mà các vương quốc ở vùng này không đưa ra tuyên bố chủ quyền một cách rõ ràng (một phần vì khái niệm chủ quyền không tồn tại lúc bấy giờ) và đó là nơi mà các đế quốc bành trướng ngoại lai (Nhật Bản/ Pháp) sau đó cố gắng tuyên bố chủ quyền thuộc về họ.
Vì vậy, rốt cuộc nó là một mớ hỗn độn (nhưng cũng là một ví dụ điển hình về hiện tượng các quốc gia hiện đại ở châu Á đã được kiến tạo thế nào từ mảnh vỡ của các đế chế). Tuy nhiên, điều đó không cho Trung Quốc cái quyền được đưa một giàn khoan dầu vào khu vực, hay đâm va thuyền của Việt Nam hoặc giết ngư dân Việt Nam.
Vậy là tôi hoàn toàn tự tin kết luận rằng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã gây hấn, nhưng những tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này (của bất kì ai) đều thực sự có vấn đề vì nhiều nguyên nhân” (Lê Minh Khải – Liam. Christopher Kelley – Phó giáo sư Sử học, Khoa Lịch sử, Đại học Hawaii ở Manoa).
“….[t]his [the Paracels] is a kind of “intermediate space” that various empires impinged on. The Japanese started to move into the area, and that incited a Chinese response. Then the French moved in. And then the Japanese expanded. And then first the Nationalist and then the Communist Chinese made claims, and then South Vietnam did, etc.

The result is that it is very difficult to see “sovereignty” here in the past, as this was a space that local kingdoms had not clearly laid sovereignty (in part because the concept of sovereignty did not exist) to and which expansive foreign empires (Japanese/French) then sought to claim as their own.

It is therefore ultimately a mess (but it’s a great example of how the modern nations of Asia have been created from the debris of empires). Nonetheless, that doesn’t give China the right to move an oil rig into the area, or to ram Vietnamese boats or kill Vietnamese fishermen.

So I’m fully confident in concluding that the PRC sucks, but the claims to sovereignty over this region (by anyone) are really problematic for multiple reasons” (Le Minh Khai – Liam Christopher Kelley, Associate Professor in the History Department at the Univeristy of Hawaii at Manoa.).

Nguyên bản tiếng Anh:
Vietnamese, Japanese, Formosan Coolies and the U.S.S. Pargo in the Paracel Islands in World War II
Given that things are heating up now that the PRC is attempting to set up an oil rig in an area of the sea that is claimed by Vietnam, I decided to look around to see if I could find some new information about the history of this area (at least something new to me – I’m not an expert on this topic).

A quick search in the National Archives of Australia brought up some interesting documents.

I found one document, for instance, that appears to be an intelligence report from 1945 about the Paracel Islands. Late in the war, Australian forces moved northward to liberate Southeast Asia from Japanese rule. They were instrumental in retaking Borneo, for instance, and this report was made in preparation for an anticipated landing in the Paracels (did that ever take place?).

To prepare for this operation, someone collected together various materials about the Paracels. For example, there is information here that was obtained from a 1940 pre-war report in which the Paracels were seen as a potential stepping stone in a Japanese advance towards Indochina.

That report contained the following information:

“The Japanese have phosphate and fishing companies here and on the pier at Woody Island is an imposing monument inscribed ‘Here begin the lands of the Empire of the Great King of Japan.’

“The French erected monuments on Woody, Duncan, Drummond, Robert and Pattle Islands in Mar[ch 19] 38, and on Lincoln and Money Islands in Jun[e 19]39, denoting that these islands belonged to the Republic of France.”

Going into more detail, this document recorded the following information about the Paracels:

“There is a French police station on the island. . . In Jan[uary 19]40, the French personnel consisted of

1 Inspector (native)

1 Sergeant (native)

1 Corporal (native)

24 Policement (native)

1 Doctor (native)

1 Interpreter (native)

1 Electrician (native)

11 Coolies (native)

“There is a Japanese phosphate undertaking at the SW of the island. The undertaking belongs to Messrs Kaiyo, Kagyo of Takao [now Gaoxiong] in Formosa [i.e., Taiwan], and the local staff consists of a Japanese manager, 30 Japanese and 150 Formosan collies. . .

“In Mar[ch 19]38, the Japanese were authorized officially to fly their flag, but it was pointed out that they were only allowed to do so as private individuals, and that the permission has no political significance. Since then it has been hoisted on very rare occasions. . .

“Except [a]round the French and Japanese establishments the island is densely wooded.

“There is an enormous number of rats.”

I had no idea that this is what life was like on the Paracels in the late 1930s, but apparently there was a group of Indochinese “natives” (I’m assuming that they were Vietnamese) based there, as well as Japanese who were obtaining phosphate from the large collection of guano there.

Or more accurately, Formosan coolies were probably the ones who were collecting the guano.

What I am unsure about is why the Japanese were allowed to fly the Japanese flag there. However, this detail, and the claim that there was a monument on Woody Island that had inscribed on it “Here begin the lands of the Empire of the Great King of Japan” suggests that the Japanese there were quietly setting a foundation for Japan’s eventual expansion into Southeast Asia (and it is well documented that Japanese businessmen performed this kind of role in the 1930s in Southeast Asia).

In the end, I don’t think that the Japanese used these islands as a stepping stone for their invasion of Southeast Asia. However, after they had successfully occupied the region, they apparently placed some people on these islands.

A secret mission that a US submarine, the U.S.S. Pargo, carried out in early February 1945 found Japanese soldiers on Woody Island, and the U.S.S. Pargo then fired shots at what appeared to be their administrative building.

Once they began to do so, someone raised the French Tricolor over the building, but the Americans saw this as a ruse on the part of the Japanese there and continued to fire.

I had never heard of any of this, but this file contains a very detailed account of the U.S.S. Pargo’s reconnaissance of the Paracels (they even noted that there was a dog on Woody Island, a cross between an Alsation and an Airdale, that anyone landing on the island needed be aware of, in case it started to bark at them) and its attack on the Japanese base there.

I found this particularly fascinating to read as I was at a conference a couple of years ago where a very respected historian from Southeast Asia argued that China’s claim to those islands really began after World War II when the Chinese tried to claim as their own territory areas beyond China that the Japanese had conquered.

This historian did not provide any details to support his argument, but I can clearly see those details here in these materials.

In the 1930s and 1940s, there were no Chinese claims on the Paracels. The French claimed those islands as part of French Indochina, and the Japanese tried to challenge that claim.

As for the Chinese, their main presence in the Paracels during those years was in the form of Formosan coolies (if we want to consider the inhabitants of the Japanese colony of Formosa as “Chinese”), men who spent their days collecting guano (i.e., shit) for Japanese businessmen.

Oh, isn’t history fascinating?!!

[The full file can be accessed here.]

%d bloggers like this: