Archive | Điểm sách hay RSS feed for this section

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor

27 Aug

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor
By Liam C Kelly
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Ở thập niên 1990s, khi còn là một sinh viên, tôi dần nhận ra rằng những ý tưởng mà tôi thấy ấn tượng trong những công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam không được củng cố bằng những thông tin tôi tìm thấy trong các nguồn tư liệu nguyên cấp. Đây là cái mà nhiều học giả trẻ khác lúc bấy giờ cũng bắt đầu nhận ra, đặc biệt là những người chuyên chú vào thế kỉ XX. Trong hơn 20 năm qua, các học giả ấy đã tạo ra nhiều công trình hoài nghi tri thức họ nhận được về quá khứ của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn tri thức mà một thế hệ trước đó đã tích luỹ được vẫn còn ảnh hưởng. Keith Taylor là một thành viên của thế hệ đó, và trong công trình Lịch sử dân tộc Việt Nam dầy 696 trang của mình, ông đã đảo lại và viết lại nguồn tri thức mà ông và các thành viên khác của thế hệ đó đã tích luỹ.
Đối với các độc giả quen thuộc với những công trình hiện có bằng tiếng Anh viết về lịch sử Việt Nam, ngay từ những trang mở đầu của cuốn sách có một điều trở nên rõ ràng là Taylor đang nỗ lực dấn vào một lối đi mới. Tuy nhiên, Taylor không làm rõ điều này cho đến khi ông đi đến chương kết luận, mang tiêu đề “Hồi tưởng”, trong đó ông tóm tắt các quan niệm của mình:
“Xem xét các sự kiện được thảo luận trong cuốn sách này, không có kết luận nào được rút ra theo cái nghĩa khám phá logic sâu sắc nào đó đã dẫn dắt số phận tiền định của người Việt Nam. Tri thức về quá khứ của người Việt bằng tiếng Anh được tích luỹ ở cuối thế kỉ XX bị phủ bóng bởi chiến tranh; giới học thuật, phóng viên, chính trị gia đã cấp cho người đứng đầu cái đặc quyền định hình sự tích luỹ đó cho nhóm người Việt đủ may mắn có được những đồng minh được duy trì tương đối vững vàng cho đến trận chiến cuối cùng. Những điều được tích luỹ đến từ sự tuyên truyền thời chiến dựa trên một phiên bản dân tộc chủ nghĩa chói tai của lịch sử Việt Nam, cái đã đặc tả, trước hết, một sự quả quyết về căn cước Việt Nam có trước khi tiếp xúc với người Hán cổ, và thứ đến, là những chủ đề chính về sự nổi dậy chống lại sự áp bức thực dân và sự kháng cự ngoại xâm; không có một ý tưởng nào trong đó có thể được xác nhận bằng việc nghiên cứu những chứng cứ về quá khứ hiện còn” (620).
Những tuyên bố trong đoạn văn này là quan trọng và quá chậm trễ. Chúng cũng được củng cố đầy đủ bằng phần còn lại trong cuốn sách của Taylor.
Keith Taylor
Phương diện đầu tiên trong khối tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng có một căn cước của người Việt trước khi tiếp xúc với người Hán cổ – là một điều mà bản thân Taylor đã nỗ lực chứng minh trong cuốn sách đầu của mình – Việt Nam khai sinh (University of California Press, 1983). Ở cuối thập niên 1960s đầu thập niên 1970s, các học giả ở Việt Nam dân chủ cộng hoà đã nỗ lực một cách có chủ ý nhằm khẳng định sự tồn tại của một dân tộc và nền văn hoá Việt trước khi người Trung Hoa đặt chân đến khu vực này vào thế kỉ III trước Công lịch, và Taylor du nhập những tìm tòi của họ vào công trình của mình. Lịch sử dân tộc Việt Nam, trái lại, bắt đầu với quá trình bành trướng về phía Nam của đế chế Tần vào năm 221 trước Công lịch, và lập luận rằng ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam được hình thành trong suốt thiên niên kỷ mà khu vực này thuộc về các đế chế Trung Hoa. Ở đây Taylor theo những ý tưởng của nhà ngôn ngữ học John Phan, người đã cho rằng ngôn ngữ Việt như chúng ta biết được hình thành trong suốt đoạn cuối của thiên niên kỉ người Hán cai trị khi người dân nói một phương ngữ tiếng Hán địa phương chuyển sang một ngôn ngữ địa bản địa. Tuy nhiên, sự thay đổi về ngôn ngữ này là một phần đơn giản của một quá trình chuyển đổi rộng lớn hơn. Như Taylor lập luận “Chính phương diện văn hoá Việt Nam cũng có vẻ như là kết quả của việc nằm trong đế chế [của người Hoa] và từ sự tồn tại của một nhóm cư dân nói tiếng Hán rộng lớn hơn phát triển qua vài thế hệ và rốt cuộc hoà nhập vào nhóm cư dân bản địa khi mà sự kết nối của đế chế bị cắt đứt” (621).
Bằng việc cho rằng nhóm ngôn ngữ và văn hoá mà chúng ta gọi là người Việt xuất hiện trong phạm vi, và là một bộ phận, của đế chế Trung Hoa, Taylor đã hoài nghi phương diện thứ hai của nguồn tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng người Việt luôn luôn chống lại ngoại xâm, đặc biệt là Trung Hoa. Taylor làm việc đó bằng 2 cách. Thứ nhất, ông chỉ ra trong luận thuật của mình về việc một ít “các hoạt động quân sự của người Hoa” được “thực hiện để chống lại các lãnh tụ người Việt” qua hàng trăm năm trước “là hệ quả của những hoàn cảnh đặc biệt” như thế nào và do đó không tiêu biểu cho những hiện tượng thường xuyên nào đó (622). Thứ hai, bằng việc giữ lập trường rằng người Việt về mặt văn hoá là một bộ phận của một thế giới trong đế chế như người Hoa, ông chứng minh rằng tuyên bố về sự khác biệt văn hoá, như các sử gia quan niệm, mà người Việt cố gắng gìn giữ và bảo vệ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài là không tồn tại. Theo Taylor, các quan niệm của Nho giáo cũng mang đặc tính Việt như quả cau vậy.
Birth
Taylor cũng nghi ngờ nguyên lí có liên quan đến hai phương diện của nguồn tri thức đã được tích luỹ về lịch sử Việt Nam, tức là quan niệm về sự thống nhất. Trên thực tế, đây có lẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong tập sách của Taylor và là một cái nhìn về quá khứ mà ông đã phát triển qua nhiều năm. Thông qua cuốn sách dài hơi này, Taylor nhiều lần hướng sự chú ý của độc giả vào các chiều kích về địa vực của lịch sử Việt Nam. Đó là tình trạng căng thẳng giữa Thanh Hoá và Thăng Long nhiều thế kỉ trước hay giữa Sài Gòn và Hà Nội gần đây hơn, chủ nghĩa địa phương đã là một khía cạnh lâu dài trong sự trải nghiệm lịch sử của những người nói tiếng Việt, và Taylor đã chứng thực điều đó một cách rõ ràng.
Khi nghi ngờ những quan niệm cốt lõi trong nguồn tri thức đã được tích luỹ bằng tiếng Anh về lịch sử Việt Nam, Taylor đã có một cống hiến có ý nghĩa. Một cống hiến có ý nghĩa khác mà Taylor đã làm được đơn thuần là tạo ra một tự sự bằng tiếng Anh về hơn 2000 năm của lịch sử Việt Nam. Trong khi Taylor có thể dựa trên cuốn sách trước của mình để tạo ra một tự sự cho đến thế kỉ thứ 10 sau Công lịch, và trong khi nhiều nghiên cứu về thế kỉ 19 và 20 không nghi ngờ gì nữa đã tạo điều kiện cho quá trình viết một tự sự cho các thế kỉ đó, Taylor hẳn phải đọc và tóm lược các biên niên sử của Việt Nam nhằm tạo ra một tự sự cho giai đoạn từ thế kỉ 10 đến đầu thế kỉ 19. Tự sự mà ông viết cho giai đoạn đó nặng về chi tiết, và có lẽ làm một số độc giả hết sức choáng ngợp, nhưng đối với một số sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về quá khứ của Việt Nam, những chương này là một nguồn tư liệu vô giá.
Do đó, có nhiều điều tuyệt vời để nói về cuốn Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, một điểm dường như sẽ không làm thoả mãn một số độc giả là quyết định của Taylor không đính kèm các chú dẫn. Ông đã cung cấp một tiểu luận mang tính thư mục, nhưng biết rằng phần lớn tập sách dựa trên việc đọc các cuốn sử biên niên của riêng ông, thì tiểu luận ấy có công dụng hạn chế; phần tốt nhất của nó là phần lên danh sách những nghiên cứu gần đây về lịch sử thế kỉ XX. Phải nói rằng, đối với những độc giả có khả năng về tiếng Việt hay Hán cổ, họ tương đối dễ định vị được những chỗ trong các cuốn biên niên sử mà Taylor lấy thông tin.
Lịch sử dân tộc Việt Nam phải mất một thời gian dài mới ra đời được. Đó không chỉ là việc Taylor mất nhiều năm viết nó, mà ông cũng mất nhiều thời gian để kiểm tra lại những tri thức đã được tích luỹ về Việt Nam và xét lại những quan niệm của bản thân. Có nhiều học giả lão thành hẳn sẽ không băn khoăn gì khi trải qua quá trình đó và còn ít hơn những học giả sẽ viết một công trình 696 trang để chứng thực những hiểu biết có xét lại về quá khứ. Keith Taylor ở phương diện này là một ngoại lệ, và chúng ta may mắn có được công trình nghiên cứu phi thường này của ông để dựa vào trong những năm phía trước.
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies , Volume 9 (1) – Jan 1, 2014

Advertisements

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

13 Jun

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Giờ đã là hè. Đã đến lúc tôi phải nghỉ post bài lên blog này. Vì vậy tôi sẽ viết entry cuối này sau đó nghỉ cho đến tháng Tám.

Mấy tuần vừa rồi rất thú vị. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã di chuyển vào “Địa Trung Hải Đông Nam Á” một cách hùng hổ, và một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh một cuốn sách về nguồn gốc người Việt. Hai sự kiện này không nên bị gắn cho nhau, nhưng trên thực tế chúng đã bị như vậy, và đó là một vấn đề.

Gần đây một tác giả có tên là Tạ Đức đã viết một cuốn sách về nguồn gốc người Việt trong định vị nguồn gốc người Việt ở Trung Hoa và sách của ông đã được các học giả rất khác nhau là Trần Trọng Dương và Hà Văn Thuỳ, và nhận được một bài phê bình mang động cơ chính trị của Bùi Xuân Đính.

Image

Tôi đồng ý với những lời phê bình của Tạ Đức về các quan niệm của Hà Văn Thùy, nhưng cũng đồng ý với những lời phê bình của Trần Trọng Dương về công trình học thuật của Tạ Đức.

Rốt cuộc, Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ là 2 tác giả: 1) không có khả năng đọc các nguồn tư liệu nguyên cấp (Hán cổ), và 2) cũng không có khả năng hiểu các nguồn tư liệu tiếng nước ngoài – Pháp, Anh,v.v… Và khi dùng từ “hiểu”, tôi muốn nói rằng họ không thể đọc các nguồn tư liệu bằng tiếng nước ngoài và thẩm định được mức độ khả tín của các nguồn tư liệu đó (Tạ Đức đã chỉ ra điều này cho Hà Văn Thuỳ và tôi nghĩ tôi đã chỉ ra điều này cho Tạ Đức).

Image

Vì vậy cũng có những vấn đề với học thuật của cả Tạ Đức lẫn Hà Văn Thuỳ, nhưng vấn đề thực sự là ở chỗ không có triển vọng nghiêm túc cho học thuật của họ.

Cái nhìn “chính thức” về quá khứ của người Việt đã không thay đổi gì kể từ đầu thập niên 1970s. Sự diễn giải lịch sử Việt Nam được tiến hành lúc bấy giờ được tạo ra trong thời gian chiến tranh và có mục đích đưa người dân đến sự đoàn kết với nhau để bảo vệ và xây dựng quốc gia/dân tộc.

Đó là một nhiệm vụ rất quan trọng, và những sự diễn giải lịch sử trong thời gian đó phục vụ mục đích ấy tốt một cách khác thường.

Vấn đề hiện nay là Việt Nam không còn chiến tranh, và quốc gia/dân tộc đã được thiết lập. Hơn nữa, hàng nghìn công dân của nó giờ đây đang học tập ở nước ngoài và đã được nhìn thầy nhiều cách nhìn thế giới và quá khứ phức tạp hơn. Kết quả là, “câu chuyện cũ mèm” không thoả mãn được thế hệ trẻ.

Quan trọng hơn, phiên bản chính thống về quá khứ không đủ tinh vi để đối mặt với những sự phức tạp của hiện tại.

Image

Quá khứ phức tạp và hiện tại cũng phức tạp. Khi quá khứ được trình bày bằng những cách thức quá đơn giản (như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã làm cũng như sử học chính thống đã có) thì nó dẫn đến tình trạng rất khó cho người ta có thể dựa vào các phương pháp luận hiệu quả để ứng xử với hiện tại.

Không may cho Việt Nam, không có ai đang cố gắng để hình dung quá khứ theo những cách thức phức tạp. Các nhà sử học không chính thức như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã phổ biến những quan niệm quá giản đơn, mà các nhà sử học chuyên nghiệp vẫn im lặng (như Nguyễn Hòa đã lưu ý), hoặc đơn giản chỉ lặp lại những ý tưởng tương tự từng tồn tại từ thập niên 1970s.

Vấn đề là bây giờ đã là năm 2014, và thế giới giờ đây đã phức tạp hơn nhiều trước đó.

Image

Vậy là sau khi đã nói như vậy, bây giờ tôi sẽ đánh dấu năm 2014 bằng việc đến Borneo và xăm mình để “thoát Tàu” (thoát Trung) và trải nghiệm nền văn hoá Đông Nam Á “đích thực”.

Cảm ơn mọi người đã đọc và bình luận (hoặc ở đây hoặc ở facebook). Tôi hi vọng các bạn đã học được nhiều từ tôi như tôi đã học được từ các bạn. Và tôi mong sẽ tiếp tục cuộc đàm luận vào tháng Tám.

 

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

10 Jun

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi từng đề cập trong bài viết trước rằng ở thập niên 1860s một người Pháp có tên là Théophile Marie Legrand de la Liraye đã xuất bản một cuốn sách có tên  Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chú lịch sử về dân An Nam).

Rồi năm 1868, Legrand de la Liraye lại xuất bản một cuốn từ điển Việt-Pháp, và trong văn bản này, không có từ nào để ông dịch là “nation”. Ông tìm thấy các từ trong tiếng Việt mà ông có thể dịch thành “kingdom” (quốc, nhà nước – royaume) và “homeland” (nước – la patrie), nhưng không có từ nào để dịch thành “nation”.

Vì sao có tình trạng đó?

Image

Để trả lời câu hỏi ấy chúng ta cần phải xem xét nghĩa của khái niệm “nation” trong tiếng Pháp qua thời gian ((web site này sẽ giúp chúng ta).

Từ chí ít là cuối thế kỉ XVII, từ “nation” trong tiếng Pháp được dùng như một khái niệm chung để chỉ “toàn bộ người dân của cùng một nhà nước, trong cùng một địa vực, những người sống dưới cùng hệ thống luật pháp và ngôn ngữ” (Tous les habitants d’un mesme Estat, d’un mesme pays, qui vivent sous mesmes loix, & usent de mesme langage &c.)

Một từ ngữ có vấn đề trong định nghĩa này là “pays” mà tôi dịch ở đây là “địa vực”. Trên thực tế, nó cũng có nghĩa là “đất nước”, và khái niệm “nation” vì thế có thể chỉ người dân trong cùng một đất nước.

Cụ thể là, có những nghĩa phức (nhưng có liên quan đến nhau) của khái niệm “nation” vào lúc bấy giờ.

Image

Chuyển sang đầu thế kỉ XIX, chúng ta thấy định nghĩa sau: “toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền”. (La totalité des personnes nées ou naturalisées dans un pays, et vivant sous un même gouvernement.)

Điều thú vị là ngôn ngữ không được đề cập đến trong định nghĩa này. Thay vào đó, “nation” ở đây có nhiều nghĩa chính trị hơn.

Tuy nhiên, nghĩa chính trị này không xoá đi cái cảm giác rằng có cái gì đó nữa đã gắn bó các nhóm người với nhau, và điều này được hé lộ trong định nghĩa tiếp đây ở cuối thế kỉ XIX:

“Một tập hợp người dân sống trong cùng vùng lãnh thổ, chịu sự chi phối hoặc không của một chính quyền, và duy trì những mối quan tâm chung mà nhờ đó họ được xem là thuộc về cùng một sắc tộc”  (Réunion d’hommes habitant un même territoire, soumis ou non à un même gouvernement, ayant depuis longtemps des intérêts assez communs pour qu’on les regarde comme appartenant à la même race.)

Image

Có hai khái niệm mới trong định nghĩa này. Thứ nhất, có một ý tưởng rằng các quan niệm – những mối quan tâm chung – có ý nghĩa quan trọng với các “nation”. Thứ hai, khái niệm “sắc tộc” cũng là mới.

Người ta có thể hỏi, làm thể nào thực trạng một dân tộc nào đó có cùng các quan niệm lại khiến cho những dân tộc khác nghĩ rằng họ thuộc cùng một sắc tộc?

Điều đó khó mà trả lời, nhưng nó chỉ ra những quan niệm phức tạp và tranh cãi rằng người dân ở Pháp (và châu Âu nói chung) ở cuối thế kỉ XIX đã nghĩ về khái niệm này. Đây là lí do vì sao một học giả Pháp có tên Ernest Renan đã viết một bài báo mà giờ đây được xem là bài báo có ảnh hưởng lớn trong đó ông nỗ lực lí thuyết hoá cái gọi là “nation”, một bài báo có tên “một nation là gì?” (Qu’est-ce qu’une nation?).

Image

Điều Renan cố gắng chỉ ra cho người ta là những thứ như ngôn ngữ, sắc tộc và địa lí là có vấn đề khi chúng được dùng để xác định một “nation”. Chẳng hạn, nếu ngôn ngữ có vai trò trung tâm cho một nation, thì dân Thuỵ Sĩ đa ngôn ngữ không thể là một nation, và điều đó là rõ ràng.

Vậy thị cái gì là một nation, theo Renan? Renan cho rằng một nation được dựa trên 2 thứ: “Một là sự sở hữu một di sản kí ức chung phong phú; hai là sự đồng thuận trong hiện tại, khát vọng sống chung”.

Đối với Renan, một nation là một nhóm người chia sẻ những kí ức về quá khứ, và những người nhất trí sống cùng nhau trong hiện tại.

Có một luận điểm khác mà Renan đưa ra rất quan trọng và đã rất có ảnh hưởng. Xem xét những kí ức về quá khứ, Renan khẳng định rằng “Quên, tôi thậm chí muốn nói đến sai lầm lịch sử, là một nhân tố cần thiết trong việc kiến tạo một nation”.

Người dân “nhớ” quá khứ chỉ “nhớ” những phương diện của quá khứ ủng hộ nỗ lực thống nhất người dân lại với nhau trong hiện tại. Vì vậy, họ “quên” rằng tổ tiên họ đã chinh phục dân tộc láng giềng, và “nhớ” rằng tổ tiên họ đã chống lại một cuộc xâm lược, cụ thể là những tư tưởng tích cực giúp kiến tạo sự gắn bó tình cảm giúp đoàn kết nation đó.

Image

Tại sao nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi theo thời gian? Nó thay đổi bởi xã hội châu Âu thay đổi. Trong khi “nation” chỉ một nhóm dân từ một địa vực nói chung một ngôn ngữ, thì có nhiều chế độ quân chủ ở Châu Âu cai trị các nhóm dân cư đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Vì vậy nó là một khái niệm được dùng để nhận dạng các nhóm trong phạm vi một vương quốc.

Định nghĩa dễ hiểu ở đầu thế kỉ XIX về một nation là ““toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền” phản ánh những thay đổi trong xã hội và các nhu cầu của chính quyền ấy từ hệ quả của Cách mạng Pháp. Với việc chế độ quân chủ biến mất, giờ đây có một nỗ lực nhằm linh động hoá “toàn bộ người dân” trong một đất nước nhằm ủng hộ chính quyền, và nghĩa của khái niệm “nation” thay đổi để phù hợp với nhu cầu mới này.

VÀ sự thay đổi này rất quan trọng khi mà ở thời điểm này ý tưởng cốt lõi về một nation như người ta nghĩ hôm nay – là nó chỉ toàn thể người dân trong một đất nước – trở nên quan trọng.

Rồi với sự xuất hiện của khái niệm sắc tộc, và khi các nước châu Âu trở nên dân chủ hơn và  đề cao ý tưởng rằng “các công dân” hay “nhân dân” đóng một vai trò quyết định vận mệnh của đất nước, nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi.

Image

Tuy nhiên, không có sự phát triển nào như thế xảy ra ở Việt Nam trong suốt giai đoạn này. Ở thế kỉ XIX, khi Legrand de la Liraye soạn cuốn từ điển của mình, triều Nguyễn là một chế độ quân chủ thuần tuý, giống như chế độ quân chủ ở Pháp trước Cách mạng. Vì vậy không có nhu cầu chính trị cần đến “toàn thể người dân” như bắt đầu xảy ra ở châu Âu sau khi các chế độ quân chủ thuần tuý bị lật đổ, và vì vậy, không có nhu cầu cần đến một khái niệm như thế.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi năm 1868 Legrand de la Liraye có thể tìm thấy các từ chỉ “kingdom” (quốc, nhà nước) and “homeland” (nước), nhưng không thấy từ chỉ “toàn thể người dân” trong nước này, tức là “nation” (dân tộc).

Từ đó (dân tộc), tuy vậy, rốt cuộc cũng xuất hiện, nhưng đó là một câu chuyện phức tạp khác…

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/06/10/legrand-de-la-liraye-and-the-missing-word-for-nation-in-nineteenth-century-vietnam/

  

 

Công trình lịch sử về dân An Nam của Legrand de la Liraye năm 1865

8 Jun

Công trình lịch sử về dân An Nam của Legrand de la Liraye năm 1865

Tác giả : Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Gần đây tôi vừa đọc một cuốn sách mà Théophile Marie Legrand de la Liraye công bố vào (tôi nghĩ) năm 1865 có tên gọi Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chú lịch sử về dân An Nam)

Image

Legrand de la Liraye là một nhà truyền giáo được Hội truyền giáo ngoại quốc ở Paris [Missions Étrangères de Paris] gửi đến Đồng bằng sông Hồng năm 1843, nơi ông làm việc cho đến khi bệnh tật buộc ông phải trở lại Pháp năm 1856. Ông hồi phục và trở lại châu Á để giúp quân đội Pháp với tư cách thông ngôn trong cuộc tấn công triều Nguyễn của họ bắt đầu năm 1858.

Những năm sau đó khi người Pháp chiếm Sài Gòn, Legrand de la Liraye định cư ở đó và tiếp tục thiên hướng tôn giáo của mình. Tuy nhiên, một năm sau ông lại trở lại nghề thông ngôn và tiếp tục nghề này suốt thập niên 1860 khi người Pháp thiết lập quyền cai trị ở Đồng bằng sông Mekong.

Image

Cuốn sách ông viết rất có ý nghĩa khi mà tôi nghĩ rằng nó chính là cuốn sách sớm nhất giới liệu lịch sử của “người Việt Nam” với tư cách là lịch sử của một “dân (tộc)”, khái niệm mà ở Pháp lúc bấy giờ có nghĩa là “dân” giống như nghĩa của từ “nationality” (người một nước) trong tiếp Anh.

Trước năm 1865, các học giả Việt Nam đã viết vài công trình lịch sử, nhưng không ai từng đặt “dân (tộc)” vào trung tâm của lịch sử.

Thay vào đó, họ viết các công trình lịch sử về các vị vua và một phả hệ “chính thống” 正統 kết nối các vương quốc qua thời gian.

Image

Legrand de la Liraye, khác hẳn, bắt đầu công trình của mình không phải bằng việc nói về các vị vua hay phả hệ chính thống, mà cố gắng xác định người An Nam (tức người Việt Nam) là ai.

Ông lưu ý rằng trong các nguồn tư liệu Trung Hoa và Việt Nam, người ta có thể thấy nhiều tên gọi khác nhau trải qua tiến trình lịch sử được dùng cho các thực thể chính trị và các khu vực hành chính từng tồn tại ở Đồng bằng sông Hồng, nhưng có một khái niệm cổ xưa mà người Trung Hoa thường dùng để chỉ phương Nam xa xôi và ông cho là quan trọng nhất – khái niệm Giao Chỉ 交趾.

Mặc dù khái niệm này có nghĩa đen là “các ngón chân xoè ngang”, Legrand de la Liraye nói rằng nó có nghĩa là ngón chân cái “toẽ ra” (écarté), và rằng đây là một dấu hiệu khác biệt mà người ta có thể tìm thấy trong những người An Nam bản địa.

Cụ thể là, Legrand de la Liraye cho rằng khái niệm “Giao Chỉ” có thể chỉ người An Nam về mặt chủng tộc.

Image

Điều này hoàn toàn rất mới mẻ. Các sử gia Việt Nam lúc bấy giờ không biết về khái niệm chủng tộc, và họ không trình bày lịch sử của họ là lịch sử về một dân (tộc). Tuy nhiên, đến đầu thế kỉ XX, có một số học giả Việt Nam đã bắt đầu viết về quá khứ theo các cách thức (phương Tây) này.

Chủ nghĩa tượng trưng sắc tộc và dân tộc Việt Nam

28 May

Chủ nghĩa tượng trưng-sắc tộc và dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Khải
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Nghiên cứu về các dân tộc và chủ nghĩa dân tộc là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn và phức tạp, nhưng có thể chỉ ra 3 hướng tiếp cận chính đã được áp dụng trong việc nghiên cứu này.
1) Có cái nhìn theo hướng vĩnh cửu chủ nghĩa cho rằng các dân tộc ít hay nhiều luôn luôn tồn tại (một cái nhìn giờ đây hầu như đã bị nghi ngờ).
2) Có cái nhìn theo hướng hiện đại chủ nghĩa cho rằng các dân tộc xuất hiện ở thế kỉ XIX và XX cùng với quá trình hiện đại hóa.
3) Có cái nhìn theo hướng chủ nghĩa tượng trưng-chủng tộc nhất trí với các nhà hiện đại chủ nghĩa rằng các dân tộc đương đại được đúc ra ở thời hiện đại, nhưng còn lập luận xa hơn rằng người ta có thể tìm thấy những gốc rễ của nhiều dân tộc ở thời tiền hiện đại trong hình thức của những cộng đồng sắc tộc hay những “tộc người”.
esn
Ngày nay một trong những người đề xướng hướng tiếp cận tượng trưng-chủng tộc này là Anthony Smith. Smith đã viết nhiều về chủ đề này, và dễ dàng nhận thấy rằng lịch sử dân tộc Việt Nam rất hợp với những ý tưởng của ông.
Trong công trình gần đây của mình: Chủ nghĩa tượng trưng-chủng tộc và Chủ nghĩa dân tộc: Một hướng tiếp cận văn hóa (2009), Smith định nghĩa một “tộc người” như sau:
“… một cộng đồng người có tên gọi và tự xác định, trong đó các thành viên có một huyền thoại về tổ tiên chung, kí ức chung, một hoặc nhiều nhân tố văn hóa chung, bao gồm sự kết nối với lãnh thổ, và một tiêu chuẩn về sự thống nhất, chí ít là trong tầng lớp trên” (27).
esn-quote
Vậy là, đối với Smith, một cộng đồng sắc tộc có thể tồn tại ở “tầng lớp trên”, giữa những thành viên của giới tinh hoa. Ông gọi kiểu “tộc người” này là “tộc người bên trên” (một cộng đồng sắc tộc bao trùm đỉnh của một xã hội). Cách thức những dân tộc được hình thành từ “tộc người bên trên như thế” là thông qua sự mở rộng của nhà nước quan liêu” (mà tộc người bên kiểm soát).
niquote
Smith bàn về việc làm thế nào hiện tượng này xảy ra ở trường hợp các dân tộc châu Âu trong công trình năm 1991 của ông, Căn cước dân tộc, như sau: “Ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển và ở một mức độ nào đó là Ba Lan và Nga, tộc người bên chính, cái cấu thành nên hạt nhân sắc tộc của nhà nước, dần dần có thể sáp nhập tầng lớp trung lưu và các khu vực viễn tâm vào nền văn hóa sắc tộc chủ lưu. Trung gian hàng đầu của sự sáp nhập đó là một nhà nước quan liêu mới.
“Thông qua công cụ quân sự, hành chính, tài chính và luật pháp, nó có thể quy định  và phổ biến nguồn giá trị, biểu tượng, huyền thoại, truyền thống và kí ức những thứ cấu thành di sản văn hóa của hạt nhân quý tộc chủ lưu” (55).
Trong khi những ý tưởng của Smith được phát triển thông qua nghiên cứu của ông về lịch sử châu Âu thì tôi cho rằng Việt Nam rất hợp với khuôn mẫu này.
Ở thời trung đại (khoảng thế kỉ X đến XV) có một giới tinh hoa ở đồng bằng sông Hồng duy trì một hệ giá trị giúp phân biệt họ với phần cư dân còn lại (chẳng hạn các giá trị Nho giáo), hệ giá trị cấu thành khác với phần dân cư còn lại, cái viết bằng một ngôn ngữ ngoại lai (tiếng Hán cổ), và cái tạo nên các truyện kể/huyền thoại về quá khứ bằng ngôn ngữ ngoại lai đó và bằng các thể loại trước thuật không phải là bản địa ở Đồng bằng sông Hồng. Nói khác đi, giới tinh hoa Việt trung đại là một ví dụ kinh điển về “tộc người bên”. Và sẽ dễ dàng chứng chính được việc nền văn hóa của tộc người bên này dần dần đã truyền bá ra các thành viên khác của cả khối cư dân như thế nào qua các thế kỉ tiếp theo song hành với sự mở rộng của nhà nước quan liêu.
ni
Cuối cùng, có 2 luận điểm quan trọng nữa về các ý tưởng của Smith và hướng tiếp cận theo chủ nghĩa tượng trưng-sắc tộc có liên quan đến Việt Nam. Thứ nhất, trong khi Smith cho rằng các dân tộc hiện đại có các cội rễ tiền hiện đại, ông chỉ thấy những cội rễ này tỏa ngược về đến thời cận đại hoặc trung đại, không đến thời cổ đại. Chẳng hạn, ông không cho rằng dân tộc Ý có thể được kết nối với một tộc người ở đế chế La Mã. Thứ hai, Smith thừa nhận rằng một số huyền thoại và tín ngưỡng mà các tộc người và các dân tộc sử dụng đã được sáng tạo ra.
Đối với ông, không có vấn đề gì khi mà một tộc người bên thời trung đại đã sáng tạo ra các huyền thoại về quá khứ hay các huyền thoại tương tự đã được biến đổi ở thời hiện đại.
vietethsym
Trên thực tế, đây là một trong những đóng góp chính của hướng tiếp cận sắc tộc-tượng trưng chủ nghĩa, khi nó chỉ ra việc làm thế nào các ý tưởng được sáng tạo/kiến tạo, truyền bá và rồi bị biến đổi ở thời hiện đại đến nỗi chúng dần có vẻ giống với một phần “tự nhiên” của một dân tộc “tự nhiên”.
Cụ thể, cái nhìn sắc tộc-tượng trưng chủ nghĩa khá hoàn hảo cho việc hiểu cách thức một giới tinh hoa thời trung đại đã tạo ra ra các ý tưởng và tín ngưỡng dần dần được các thành viên khác của cả khối dân cư chấp nhận, và sau đó chúng bị biến đổi và trở thành trung tâm trong quá trình xây dựng dân tộc Việt hiện đại ở thế kỉ XX.

Đông phương luận và những con tem bưu chính ở Đông Pháp

24 May

Đông phương luận và những con tem bưu chính ở Đông Pháp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một bản dịch tiếng Việt cuốn Orientalism  (Đông phương luận) của Edward Said rõ ràng vừa mới được xuất bản. Cuốn sách này trở nên rất có ảnh hưởng sau khi nó xuất hiện lần đầu tiên năm 1978, trở thành một văn bản nền tảng cho lĩnh vực nghiên cứu hậu thực dân/hậu thuộc địa.

Trong sách của mình, Said khảo sát cách các tác giả phương Tây miêu tả về mặt lịch sử “phương Đông”, và ông cho rằng người phương Tây đã tạo ra một hình ảnh về phương Đông huyền bí và chưa phát triển, và bằng việc làm vậy họ ngầm tạo ra một lí do hợp lí để thuộc địa hóa phương Đông.

Image

Chủ điểm của Said là những trước tác về Trung Đông, nhưng các học giả được truyền cảm hứng từ tác phẩm của ông đã khảo sát các trước tác về các khu vực khác ở châu Á và phát hiện ra rằng khung diễn của ông vẫn đúng ở đó.

Gần đây tôi có lướt qua một bài báo xuất hiện trên các tờ báo Bắc Mỹ năm 1922 minh họa cho điều này. Bài báo được gọi là “Vụ bê bối về một con tem! Tại sao nước Pháp lại ban hành những mệnh lệnh chính thức đầy kích động khi được biết rằng những nàng tiên xinh xắn trên những con tem Đông Dương là những vũ nữ bản địa đẹp chết người đang khiêu vũ” và nó xuất hiện trên các tờ The Morning Tulsa Daily World và Richmond Times-Dispatch vào ngày 9 tháng 7 năm 1922 và Vancouver Daily World vào ngày 15 tháng 7 năm 1922.

Image

BÀi báo lưu ý rằng có một cơ quan cố vấn cho chính quyền Pháp có tên “Hội đồng tối cao về các Thuộc địa”, và cho biết rằng một trong các ủy viên của hội đồng, một “quý ngài tôn quý nào đó” có tên là Maitre Duchene” đã đến điều tra ở Đông Dương.  

“Hoàn thành việc điều tra các sự vụ về bưu chính, đường sắt, công nghiệp, chính trị và tài chính xong, ông được các ông hoàng bà chúa địa phương chiêu đãi trang trọng – và một trong những tiết mục chiêu đãi bao gồm một chuyến thăm chính thích đến “Cung điện nhạc Jazz” ngoài trời tốt nhất của Hà Nội, nơi các người đẹp vũ hội của An Nam, Cambodia và Bắc Kỳ lắc vai theo nhịp trống theo một cung cách mà nhờ nó phương Đông trứ danh đáng được biết đến”…

“Ban đầu không thể nói rằng cảnh tượng đó đã làm cho Maitre Duchene có bất kì cảm xúc nào mạnh hơn một sự tò mò tội lỗi – nhưng ngày sau sự xuất diện trên sân khấu của một nàng tiên An Nam nào đó với những đặc trưng rõ nét, đôi mắt long lanh và mái tóc đen nhánh, vị ủy viên hội đồng tối cao bị bắt gặp đang chỉnh lại cái kính một mắt của mình và ngả người về phía trước trong trạng thái kinh ngạc”.

Image

Maitre Duchene nhận ra rằng người phụ nữ nhảy trên sân khấu trông giống với người phụ nữ trên con tem mà ông đã thấy, và ông đến gặp Toàn quyền Maurice Long để phản đối việc đó.

Bên cạnh nhiều bình luận khác, Duchene còn nói thế này:

“Năm ngoái chúng ta có 1.583.672 con bò. Bò là một động vật cao quý. Trông nó sẽ rất tuyệt trên những con tem bưu chính. Tôi yêu cầu ông so sánh tấm ảnh những con bò và những vũ nữ của chúng ta và nói cho tôi biết có phải bò không có vẻ mặt đức hạnh và đáng tôn quý hơn…

“Rồi tại sao phải trang trí những con tem bưu chính chính thức của chúng ta bằng chân dung của những gái nhảy và những cô ả An Nam trơ trẽn ở Hà Nội?”

Image

Vị Toàn quyền khuyến khích Duchene đưa vấn đề lên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Albert Sarraut, người từng là Toàn quyền Đông Dương khi những con tem kia được phát hành lần đầu.

Sarraut nói rằng ông đã rất bận bịu với nhiều vấn đề quan trọng hơn nên không chú ý tới những con tem, nhưng ông đồng ý với Duchene và nói “Tịch thu những con tem này bằng tất cả các phương tiện và đưa ra một mẫu mới. Trang trí nó bằng ảnh của những con bò, nhà sư, linh mục, nhà máy đóng hộp hoặc những con lạc đà. Nhưng đừng khiến trách tôi”.

Image

Ở phần cuối bài báo, nó lưu ý là tờ “Journal Officiel” của Đông Pháp trước đó không lâu đã công bố một thông báo trong đó khuyến khích mọi người đệ trình thiết kế cho những con tem mới. Tôi đoán rằng bài báo này là một tác phẩm hư cấu được sáng tác bởi người đã nhìn thấy một thông báo ở một trong những ấn bản do chính quyền thuộc địa ở Đông Dương phát hành.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ở cái cách nó tái tạo những kiểu mô tả mang tính Đông phương luận mà Said bàn đến trong cuốn Đông phương luận. Thực tế là, một số từ ngữ và hình ảnh bắt nguồn trực tiếp từ Trung Đông, ví dụ như việc đề cập đến một “nàng tiên” (một cô gái trẻ đẹp), và những ông hoàng bà chúa.

Image

Một điều cũng thú vị nữa là có một bức ảnh của Evan-Burrows Fontaine đi kèm theo bài báo về Đông Dương này. Fontaine là một vũ nữ nổi tiếng ở thời điểm bài báo được viết nhờ việc trình diễn những vũ điệu “kiểu phương Đông” khác nhau, những vũ điệu có lẽ ít giống với bất kì vũ điệu có thực nào ở phương Đông và giống nhiều hơn với những sự tưởng tượng của người Mỹ về một Kẻ Khác huyền bí.

Còn nhiều điều khác người ta có thể nói về bài báo này, nhưng rõ ràng nó là một ví dụ hay về những ý tưởng và hình tượng mà Edward  Said bàn đến trong cuốn sách của mình. Từ khi nó được xuất bản năm 1978, có khá nhiều ông trình học thuật đã xuất hiện hoài nghi những phượng diện khác nhau trong lập luận của Said. Sự mô tả phương Đông của phương Tây không đơn giản như những gì Said nhiều lần đề xuất, nhưng khi người ta nhìn vào những bài báo như bài báo này, rõ ràng phần nhiều những gì Said viết là đúng hướng.

[Bài báo có thể tìm thấy ở đây: Chronicling America]

Chồng của bà Trưng Trắc: Thi [Sách]

23 May

Chồng của bà Trưng Trắc: Thi [Sách]

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi có đọc một bài báo của một sử gia Nam Việt là Nguyễn Phương viết ở thập kỉ 1960s về hai bà Trưng. Tôi chưa bao giờ xem xét kĩ các nguồn thông tin về cuộc nổi dậy này, nhưng bài báo của Nguyễn Phương khiến tôi nhận ra rằng chúng có vấn đề.

Điều giờ đây tôi có thể thấy là có hai bản tường thuật về hai bà Trưng và rằng một trong hai bản đó đã dần chi phối truyền thống sử học (mặc dù nó cũng thay đổi theo thời gian), trong khi bản kia thì không. Và trong phạm vi tôi có thể nói, phiên bản không chi phối đó là chính xác hơn.

Image

Phiên bản đầu tiên xuất hiện khoảng năm 445 sau Công lịch trong cuốn Hậu Hán thư (Hou Hanshu 後漢書)  của Fan Ye (Phạm Việp), như sau:

“Năm thứ 16, người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái Trưng Nhị làm phản, tấn công [đầu não của] quận. Trưng Trắc là con gái của một Lạc tướng ở huyện Mê Linh (Mê đọc là Mê, Linh đọc là Linh). Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ, rất khỏe mạnh và can đảm. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật để trừng phạt thị. Trắc phẫn nộ vì vậy nổi dậy. Sau đó, các tộc Man ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Bố đều hưởng ứng [lời kêu gọi của chúng] và chiếm 65 thành. Trắc tự xưng là vua” 至十六年,交阯女子徵側及其妹徵貳反,攻郡。徵側者,麊泠縣雒將之女也。(麊音莫支反,泠音零。) 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。交阯太守蘇定以法繩之,側忿,故反。於是九眞、日南、合浦蠻里皆應之,凡略六十五城,自立為王.

Image

Phiên bản thứ hai xuất hiện sau đó gần một thế kỉ (~515-524) trong cuốn Thủy kinh chú  (Shuijing zhu 水經注)của Li Daoyuan (Lịch Đạo Nguyên), như sau:

“Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm. Thị lôi kéo Thi khởi loạn (chú: gần đây khắc sai “Thi” thành “thê”), tấn công [đầu não của] châu quận và chinh phục các Lạc tướng khác, họ đều tôn Trắc làm vua, đóng đô ở Mê Linh” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇,將詩起賊 (案近刻訛為妻),攻破州郡,服諸雒將,皆屬徵側為王,治麊泠縣.

Image

Sự khác biệt đầu tiên mà chúng ta thấy ở đây là trong Thủy kinh chú, tên của chồng Trưng Trắc là Thi chứ không phải Thi Sách. Điều này thực sự hữu lí hơn.

Ở thế kỉ XVIII có một học giả có tên là Zhao Yiqing đã chỉ ra vấn đề này trong một bản chú thích cuốn Thủy kinh chú do ông thực hiện – cuốn Thủy kinh chú thích (Shuijing zhu shi 水經注釋).

Vấn đề liên quan đến chữ  mà Phạm Việp hiểu là bộ phận của một cái tên, và Lịch Đạo Nguyên hiểu là một động từ có nghĩa là “tìm lấy”. Zhao Yiqing chú như sau:

 “sách thê” (索妻)  cũng giống như “thú phụ”  (娶婦). Đoạn văn trong Nam Man Tây Nam Di truyện nói “giá vi Chu Diên nhân thi sách thê” hoàn toàn nhầm lẫn” 一清按索妻猶言娶婦。範史南蠻西南夷傳云,嫁為朱鳶人詩索妻,亦謬之甚矣。嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。

Image

Điều này là có lí, bởi câu văn trong Hậu Hán thư là rối rắm (“Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ mình, rất khỏe mạnh và can đảm” – 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇), đặc biệt là câu “lấy … làm vợ mình” 嫁為. . . 妻  và sự chuyển mạch giữa “thê” và từ tiếp theo “thậm” 甚 (rất).

Mặc khác, câu văn trong Thủy kinh chú rất thuận “Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇.

Image

Rồi ở đầu thế kỉ XX, Yang Shoujing và Xiong Huizhen đã làm một bản chú thích khác về cuốn Thủy kinh chú – tức Thủy kinh chú sớ  (Shuijing zhu shu 水經注疏) trong đó họ chỉ ra rằng có một đoạn văn trong một cuốn loại thư thế kỉ X có tên Thái Bình hoàn vũ kí  (Taiping huanyu ji 太平寰宇記) trong đó chứng minh rằng từ được dùng ở khu vực đồng bằng sông hồng (tức Giao Chỉ hoặc Giao Châu) với nghĩa là “tìm lấy (vợ).

Có một đoạn văn nói về phong tục ở Giao Châu, trong đó khẳng định rằng về người đàn ông tìm lấy vợ, trước khi anh ta lấy vợ, anh ta gửi đến một mâm cau. Khi cô gái ăn hết mâm cau đó thì họ trở thành vợ chồng” 索婦之人,未婚前,先送檳榔一盤,女食盡則成親.

Image

Vậy là có vẻ như đối với tôi đã rõ ràng rằng đoạn văn nói về hai bà Trưng trong Thủy kinh chú chính xác hơn ở điểm này. Tuy nhiên, thông tin được người Việt Nam ghi chép rốt cuộc lại theo Hậu Hán thư của Phạm Việp. Các nguồn tư liệu của người Việt cũng theo Hậu Hán thư theo những cách thức khác.

Tôi băn khoăn tại sao lại có chuyện đó? Có phải người ta không nhớ tên chồng bà Trưng Trắc?

Tôi đính kèm bài báo của Nguyễn Phương ở đây  (Nguyen Phuong on Trung sisters).

%d bloggers like this: