Archive | Học giả phương Tây với Việt Nam RSS feed for this section

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

26 Oct

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Có một thuyết xuất hiện ở đầu thế kỉ 20 cho rằng ở cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch, người Việt đã di cư đến đồng bằng sông Hồng từ quê hương gốc ở một vùng mà ngày nay là Đông Nam Trung Quốc.

Ý tưởng này đầu tiên do Edouard Chavannes đề xuất vào năm 1901, rồi sau đó được Leonard Aurousseau phát triển thêm vào năm 1923. Ngày nay thuyết này không còn được tin, mặc dù người ta vẫn có thể thấy nó được đề cập đến. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là nhiều người biết vì sao thuyết này vô nghĩa.

Ở Việt Nam thời hậu thuộc địa, lí thuyết này dần bị bác bỏ vì bị xem là “mang tính thực dân”, tôi đoán vậy bởi nó khẳng định rằng người Việt đến từ một nơi bên ngoài Việt Nam. Tuy nhiên  tôi không thấy việc khẳng định rằng kiểu học thuật đó là “mang tính thực dân” giải thích được gì nhiều.

Vâng, có những vấn đề với học thuật của Chavannes và Aurousseau, nhưng tôi không quy những vấn đề đó cho quan điểm “thực dân”. Thay vào đó, những vấn đề đó đôi khi phụ thuộc vào kiểu học thuật cẩu thả, và hơn nữa là vào cái mà tôi gọi là một phương pháp luận sơ hở, mà chúng ta có lẽ có thể gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nhìn nhận quá khứ.

cover1

Trong một cước chú ở tập 4 (a footnote in the fourth volume) của bản dịch 5 tập cuốn Sử kí của Tư Mã Thiên, Edouard Chavannes đưa ra thuyết rằng “chủng tộc An Nam” là hậu duệ của dân một vương quốc Việt cổ. Vương quốc đó chiếm cứ một khu vực ngày nay là phần phía bắc của tỉnh Triết Giang, và nó bị nước Sở tiêu diệt ở thế kỉ IV trước Công nguyên.

Sau đó, theo  Chavannes, có nhiều chính thể hình thành từ những “mảnh vỡ” của nước Việt, như Nam Việt ở khu vực ngày nay là Quảng Đông, Mân Việt ở tỉnh Phúc Kiến ngày nay, và Việt Đông Hải ở tỉnh Triết Giang ngày nay.

vol-4-page-418

Chavannes cho rằng “những nước này chắc chắn có liên hệ với chủng tộc An Nam”, và ông đưa ra hai chứng cứ để củng cố tuyên bố này.

Thứ nhất, ông trích dẫn cuốn Lịch sử An Nam (Cours d’histoire annamite) của Trương Vĩnh Kí để khẳng định rằng các sử gia An Nam xem “Nam Việt Vương” là đã dựng nên triều đại thứ ba của “An Nam”.

Thứ hai, ông lưu ý rằng kinh đô của nước Việt Đông Hải là Đông Âu (nghĩa đen Âu phía Đông), và rồi trích dẫn cuốn Nghiên cứu lịch sử và khảo cổ của Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc cổ [Étude historique et archéologique sur Co-Loa, capitale de l’ancien royaume de Âu Lc (255-207 av. J.-C.) (Paris, E. Leroux, 1893)] của Gustave Dumoutier, để nhắc rằng các sử gia An Nam cho rằng có một nước An Nam có tên Tây Âu (nghĩa đen, Âu phía Tây) có kinh đô là Cổ Loa ở đồng bằng sông Hồng.

Dựa trên những thông tin trên, Chavannes kết luận rằng Đông Âu, Nam Việt và Tây Âu đều là bộ phận của một chủng tộc An Nam đơn nhất.

dumoutier

Có nhiều vấn đề  với ý tưởng này của Chavannes. Trước hết, “Nam Việt Vương” mà Chavannes nhắc đến là Triệu Đà và hậu duệ của ông, những người ít nhất có nguồn gốc thuộc sắc tộc Hán như chúng ta gọi ngày nay, tức là, những người đến từ các vùng phương Bắc (Triệu Đà là người Hà Bắc), và không phải là thành viên của cư dân bản địa trong khu vực này, hay có liên hệ với những nhóm dân từ nước Việt cổ. Vì vậy thực tế nước này trở thành một phần của truyền thống lịch sử Việt không có nghĩa nó tương đồng “về chủng tộc”.

Thứ hai, trong công trình nghiên cứu năm 1893 về thành cổ Cổ Loa, Gustave Dumoutier khẳng định rằng “[sách] địa lí của Cố Hi Phùng顧nói rằng dưới triều nhà Chu, nước bị Giao Chỉ chiếm cứ được gọi là Lạc Việt, và dưới triều Tần tiếp theo nó lấy tên là Tây Âu hay Âu Lạc” (tr.8).

Cố Tây Phong là Cố Dã Vương顧野王(518-581), tác giả của một công trình thế kỉ 6 có tên Dư địa chí (Yudi zhi 輿地志), và đoạn văn mà Dumoutier dẫn ra được đề cập trong một bản chú giải thế kỉ 8 cho Sử kí của Tư Mã Thiên. Đây là những gì nó viết:

Dư địa chí chép: Giao Chỉ ở thời Chu là Lạc Việt, đến thời Tần gọi là Tây Âu, Họ xăm mình, cắt tóc để tránh rồng rắn. Thế thì Tây Âu Lạc lại ở phía Tây Nam của Phiên Ngô. Việt và Âu Lạc đều có họ là Mị/Mi”. [輿地志云:交趾周時為駱越,秦時曰西甌,文身斷髮避龍。則西甌駱又在番吾之西南。越及甌駱皆羋姓也。]

shiji

 

Đoạn văn này rất không rõ ràng ở chỗ nó có nhiều danh xưng. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Dumoutier đã “giản hoá” nó bằng việc nói rằng khu vực ngày nay là đồng bằng sông Hồng ở thời nhà Tân được gọi là Tây Âu hay Âu Lạc.

Dumoutier thực sự không nói rằng Cổ Loa là kinh đô của Tây Âu. Và ông cũng không nói rằng các sử gia An Nam đã nói như thế. Tuy nhiên, đây là điều mà Chavannes đã nói trong sách của mình (bằng việc trích dẫn trang 8 sách của Dumoutier).

Vậy là dứt khoát có loại học thuật cẩu thả ở đây. Tuy nhiên, hơn thế nữa, những ý tưởng mà Chavannes trình bày cũng có vấn đề. Đầu tiên, ông đánh đồng địa danh (hoặc tên các nước) với chủng tộc. Song le, nếu chúng ta đang dùng quan niệm về chủng tộc để xem xét quá khứ thì chúng ta biết rằng Triệu Đà thuộc về một “chủng tộc” khác (tôi nghĩ Chavannes đang dùng thuật ngữ “chủng tộc” để nói về cái gì đó gần hơn với khái niệm mà chúng ta ngày nay gọi là “nhóm sắc tộc”) với nhiều nhóm dân cư mà ông cai trị trong nước Nam Việt của mình, vì vậy thực sự là vô nghĩa khi đánh đồng địa danh với các chủng tộc đơn nhất.

Thêm nữa, chỉ có mỗi một nguồn tư liệu mà chúng ta có thể dùng để khẳng định rằng đồng bằng sông Hồng ở thời Tần được gọi là Tây Âu (cuốn Dư địa chí của Cố Dã Vương), nhưng một là, văn bản này được viết nhiều thế kỉ sau đó, hai là, biết rằng văn bản này chứa đựng khác nhiều danh xưng khác nhau, khó mà thấy rằng từ “Tây Âu” thực sự có ý nghĩa.

Tuy nhiên, đối với Chavannes, từ “Tây Âu” rất quan trọng, như thể nó đóng vai trò một bản sao của từ Đông Âu.

nodes-and-links

Điều này đem chúng ta đến cái mà tôi gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nghiên cứu quá khứ. Nếu chúng ta xem xét quá khứ theo cái cách Chavannes trình bày các ý tưởng của mình, thì nó cứ như thể ông đang khám phá một mạng lưới ẩn các điểm nút và đường nối trong ghi chép lịch sử.

Các chính thể – Việt, Nam Việt, Tây Âu – cũng như thành, Đông Âu, đều đóng vai trò những nút mà Chavannes sau đó khám phá ra các đường nối để nối chúng.

Đông Âu và Tây Âu được nối với nhau bởi từ chung là “Âu”, cũng giống như việc cặp đôi “tây” và “đông”.

Tây Âu và Nam Việt được nối với nhau bởi thực tế là các sử gia Việt xem Nam Việt là triều đại thứ ba trong sử của họ.

Và rồi khi mà Nam Việt được nối với Tây Âu, và Tây Âu được nối với Đông Âu, thì có vẻ như đối với Chavannes rõ ràng là Việt phải là bộ phận của đường nối này.

map

Tôi đã nhận thấy rằng các học giả như Henri Maspero cũng khảo sát quá khứ theo một lối tương tự. Đối với tôi, lối tiếp cận này quá rắc rối, và nó sẽ sụp đổ một khi người ta bắt đầu chỉ ra những vấn đề liên quan đến một số đường nối trong mạng lưới đó.

Vì vậy thuyết mà Chavannes đưa ra vào năm 1901 này có ít nhất 3 vấn đề liên quan:

  • Nó chứa đựng một số lỗi do cẩu thả.
  • Nó có vấn đề khi đánh đồng chủng tộc với địa danh.
  • Nó áp dụng một lối tiếp cận khi khảo sát quá khứ không hiệu quả nhằm việc diễn giải quá khứ.

Trong khi thuyết mà Chavannes đưa ra này có những giới hạn như thế, như tôi đề cập ở trên, thì năm 1923 Leonard Aurousseau phát triển nó xa hơn, Tuy nhiên, trong quá trình này, Aurousseau không đính chính những sai lầm này trong thuyết của Chavannes. Tôi sẽ cố gắng viết về công trình của Aurousseau một lúc nào đó sơm sớm.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/25/the-yueviet-migration-theory-and-the-hidden-network-approach/

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor

27 Aug

Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor
By Liam C Kelly
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Ở thập niên 1990s, khi còn là một sinh viên, tôi dần nhận ra rằng những ý tưởng mà tôi thấy ấn tượng trong những công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam không được củng cố bằng những thông tin tôi tìm thấy trong các nguồn tư liệu nguyên cấp. Đây là cái mà nhiều học giả trẻ khác lúc bấy giờ cũng bắt đầu nhận ra, đặc biệt là những người chuyên chú vào thế kỉ XX. Trong hơn 20 năm qua, các học giả ấy đã tạo ra nhiều công trình hoài nghi tri thức họ nhận được về quá khứ của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn tri thức mà một thế hệ trước đó đã tích luỹ được vẫn còn ảnh hưởng. Keith Taylor là một thành viên của thế hệ đó, và trong công trình Lịch sử dân tộc Việt Nam dầy 696 trang của mình, ông đã đảo lại và viết lại nguồn tri thức mà ông và các thành viên khác của thế hệ đó đã tích luỹ.
Đối với các độc giả quen thuộc với những công trình hiện có bằng tiếng Anh viết về lịch sử Việt Nam, ngay từ những trang mở đầu của cuốn sách có một điều trở nên rõ ràng là Taylor đang nỗ lực dấn vào một lối đi mới. Tuy nhiên, Taylor không làm rõ điều này cho đến khi ông đi đến chương kết luận, mang tiêu đề “Hồi tưởng”, trong đó ông tóm tắt các quan niệm của mình:
“Xem xét các sự kiện được thảo luận trong cuốn sách này, không có kết luận nào được rút ra theo cái nghĩa khám phá logic sâu sắc nào đó đã dẫn dắt số phận tiền định của người Việt Nam. Tri thức về quá khứ của người Việt bằng tiếng Anh được tích luỹ ở cuối thế kỉ XX bị phủ bóng bởi chiến tranh; giới học thuật, phóng viên, chính trị gia đã cấp cho người đứng đầu cái đặc quyền định hình sự tích luỹ đó cho nhóm người Việt đủ may mắn có được những đồng minh được duy trì tương đối vững vàng cho đến trận chiến cuối cùng. Những điều được tích luỹ đến từ sự tuyên truyền thời chiến dựa trên một phiên bản dân tộc chủ nghĩa chói tai của lịch sử Việt Nam, cái đã đặc tả, trước hết, một sự quả quyết về căn cước Việt Nam có trước khi tiếp xúc với người Hán cổ, và thứ đến, là những chủ đề chính về sự nổi dậy chống lại sự áp bức thực dân và sự kháng cự ngoại xâm; không có một ý tưởng nào trong đó có thể được xác nhận bằng việc nghiên cứu những chứng cứ về quá khứ hiện còn” (620).
Những tuyên bố trong đoạn văn này là quan trọng và quá chậm trễ. Chúng cũng được củng cố đầy đủ bằng phần còn lại trong cuốn sách của Taylor.
Keith Taylor
Phương diện đầu tiên trong khối tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng có một căn cước của người Việt trước khi tiếp xúc với người Hán cổ – là một điều mà bản thân Taylor đã nỗ lực chứng minh trong cuốn sách đầu của mình – Việt Nam khai sinh (University of California Press, 1983). Ở cuối thập niên 1960s đầu thập niên 1970s, các học giả ở Việt Nam dân chủ cộng hoà đã nỗ lực một cách có chủ ý nhằm khẳng định sự tồn tại của một dân tộc và nền văn hoá Việt trước khi người Trung Hoa đặt chân đến khu vực này vào thế kỉ III trước Công lịch, và Taylor du nhập những tìm tòi của họ vào công trình của mình. Lịch sử dân tộc Việt Nam, trái lại, bắt đầu với quá trình bành trướng về phía Nam của đế chế Tần vào năm 221 trước Công lịch, và lập luận rằng ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam được hình thành trong suốt thiên niên kỷ mà khu vực này thuộc về các đế chế Trung Hoa. Ở đây Taylor theo những ý tưởng của nhà ngôn ngữ học John Phan, người đã cho rằng ngôn ngữ Việt như chúng ta biết được hình thành trong suốt đoạn cuối của thiên niên kỉ người Hán cai trị khi người dân nói một phương ngữ tiếng Hán địa phương chuyển sang một ngôn ngữ địa bản địa. Tuy nhiên, sự thay đổi về ngôn ngữ này là một phần đơn giản của một quá trình chuyển đổi rộng lớn hơn. Như Taylor lập luận “Chính phương diện văn hoá Việt Nam cũng có vẻ như là kết quả của việc nằm trong đế chế [của người Hoa] và từ sự tồn tại của một nhóm cư dân nói tiếng Hán rộng lớn hơn phát triển qua vài thế hệ và rốt cuộc hoà nhập vào nhóm cư dân bản địa khi mà sự kết nối của đế chế bị cắt đứt” (621).
Bằng việc cho rằng nhóm ngôn ngữ và văn hoá mà chúng ta gọi là người Việt xuất hiện trong phạm vi, và là một bộ phận, của đế chế Trung Hoa, Taylor đã hoài nghi phương diện thứ hai của nguồn tri thức được tích luỹ về lịch sử Việt Nam – rằng người Việt luôn luôn chống lại ngoại xâm, đặc biệt là Trung Hoa. Taylor làm việc đó bằng 2 cách. Thứ nhất, ông chỉ ra trong luận thuật của mình về việc một ít “các hoạt động quân sự của người Hoa” được “thực hiện để chống lại các lãnh tụ người Việt” qua hàng trăm năm trước “là hệ quả của những hoàn cảnh đặc biệt” như thế nào và do đó không tiêu biểu cho những hiện tượng thường xuyên nào đó (622). Thứ hai, bằng việc giữ lập trường rằng người Việt về mặt văn hoá là một bộ phận của một thế giới trong đế chế như người Hoa, ông chứng minh rằng tuyên bố về sự khác biệt văn hoá, như các sử gia quan niệm, mà người Việt cố gắng gìn giữ và bảo vệ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài là không tồn tại. Theo Taylor, các quan niệm của Nho giáo cũng mang đặc tính Việt như quả cau vậy.
Birth
Taylor cũng nghi ngờ nguyên lí có liên quan đến hai phương diện của nguồn tri thức đã được tích luỹ về lịch sử Việt Nam, tức là quan niệm về sự thống nhất. Trên thực tế, đây có lẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong tập sách của Taylor và là một cái nhìn về quá khứ mà ông đã phát triển qua nhiều năm. Thông qua cuốn sách dài hơi này, Taylor nhiều lần hướng sự chú ý của độc giả vào các chiều kích về địa vực của lịch sử Việt Nam. Đó là tình trạng căng thẳng giữa Thanh Hoá và Thăng Long nhiều thế kỉ trước hay giữa Sài Gòn và Hà Nội gần đây hơn, chủ nghĩa địa phương đã là một khía cạnh lâu dài trong sự trải nghiệm lịch sử của những người nói tiếng Việt, và Taylor đã chứng thực điều đó một cách rõ ràng.
Khi nghi ngờ những quan niệm cốt lõi trong nguồn tri thức đã được tích luỹ bằng tiếng Anh về lịch sử Việt Nam, Taylor đã có một cống hiến có ý nghĩa. Một cống hiến có ý nghĩa khác mà Taylor đã làm được đơn thuần là tạo ra một tự sự bằng tiếng Anh về hơn 2000 năm của lịch sử Việt Nam. Trong khi Taylor có thể dựa trên cuốn sách trước của mình để tạo ra một tự sự cho đến thế kỉ thứ 10 sau Công lịch, và trong khi nhiều nghiên cứu về thế kỉ 19 và 20 không nghi ngờ gì nữa đã tạo điều kiện cho quá trình viết một tự sự cho các thế kỉ đó, Taylor hẳn phải đọc và tóm lược các biên niên sử của Việt Nam nhằm tạo ra một tự sự cho giai đoạn từ thế kỉ 10 đến đầu thế kỉ 19. Tự sự mà ông viết cho giai đoạn đó nặng về chi tiết, và có lẽ làm một số độc giả hết sức choáng ngợp, nhưng đối với một số sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về quá khứ của Việt Nam, những chương này là một nguồn tư liệu vô giá.
Do đó, có nhiều điều tuyệt vời để nói về cuốn Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, một điểm dường như sẽ không làm thoả mãn một số độc giả là quyết định của Taylor không đính kèm các chú dẫn. Ông đã cung cấp một tiểu luận mang tính thư mục, nhưng biết rằng phần lớn tập sách dựa trên việc đọc các cuốn sử biên niên của riêng ông, thì tiểu luận ấy có công dụng hạn chế; phần tốt nhất của nó là phần lên danh sách những nghiên cứu gần đây về lịch sử thế kỉ XX. Phải nói rằng, đối với những độc giả có khả năng về tiếng Việt hay Hán cổ, họ tương đối dễ định vị được những chỗ trong các cuốn biên niên sử mà Taylor lấy thông tin.
Lịch sử dân tộc Việt Nam phải mất một thời gian dài mới ra đời được. Đó không chỉ là việc Taylor mất nhiều năm viết nó, mà ông cũng mất nhiều thời gian để kiểm tra lại những tri thức đã được tích luỹ về Việt Nam và xét lại những quan niệm của bản thân. Có nhiều học giả lão thành hẳn sẽ không băn khoăn gì khi trải qua quá trình đó và còn ít hơn những học giả sẽ viết một công trình 696 trang để chứng thực những hiểu biết có xét lại về quá khứ. Keith Taylor ở phương diện này là một ngoại lệ, và chúng ta may mắn có được công trình nghiên cứu phi thường này của ông để dựa vào trong những năm phía trước.
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies , Volume 9 (1) – Jan 1, 2014

Nhà nghiên cứu lịch sử hay kẻ “đốt đền”?

17 Jun

Từ bài báo của Ð.Cô-xi-rép (D. Kosyrev) và việc RIA Novosti phải gỡ bỏ bài báo này, nhìn rộng tới một số công trình, bài viết về lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam, có thể thấy việc làm của Ð.Cô-xi-rép không phải là hiện tượng đơn lẻ trong giới nghiên cứu Việt Nam học và Ðông phương học hiện nay.

 

Gần đây trong bài Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền của L.C Ken-li (L.C Kelley) ở Trường đại học Ha-oai trên blog cá nhân có đăng mấy tấm bản đồ cổ. Ðăng kèm theo bản đồ, tác giả lý sự rằng, khi bản đồ không có biểu hiện về biên giới thì khái niệm chủ quyền là không có! Với lối nghiên cứu “hiện đại hóa quá khứ” như thế, L.C Ken-li đã lấy cái cá biệt thay cái toàn thể, bỏ qua nhiều tấm bản đồ biểu thị rất rõ các nội dung hoàn toàn bác bỏ lý sự của ông ta. Và dù từng viết: “Chủ quyền được chứng minh không phải bằng việc đưa cái gì đó lên một tấm bản đồ, mà là đưa ra một sự hiện diện nhà nước liên tục ở một khu vực. Nhà Nguyễn là chính quyền đầu tiên đã cố gắng làm như vậy ở Hoàng Sa, và người Pháp đã thiết lập một sự hiện diện nhà nước lâu dài hơn ở đó trong thập niên 1930s. Ðó là chứng cứ ủng hộ cho một tuyên bố chủ quyền”, thì trong bài viết khác, ông lại đưa ra kết luận: “với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels” (Paracels – Hoàng Sa).

Trong các thế kỷ trước ở Việt Nam, chủ quyền chưa tồn tại với tư cách là một khái niệm khoa học, nhưng không vì thế quan niệm về chủ quyền lại không tồn tại trong ý thức dân tộc. Bởi vậy từ thế hệ này đến thế hệ khác, Việt Nam luôn có các vị anh hùng, các tấm gương hy sinh để bảo vệ chủ quyền đất nước, mà với quần đảo Hoàng Sa thì “Ðội hùng binh Hoàng Sa” và “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” là thí dụ. Nhưng có lẽ L.C Ken-li cố tình không nhận ra, tương tự như trước đây, ông không thể lý giải tại sao người Việt Nam lại đánh thắng đội quân xâm lược nhà Tống, nhà Minh, vì theo ông người Việt đã bị “Hán hóa” và triều cống là một biểu hiện của sự lệ thuộc! Hoặc với Bình Ngô đại cáo, ông lý giải một cách kỳ quái rằng, tác phẩm này là sự răn đe những người Việt đi theo quân Minh, bất chấp việc trong Bình Ngô đại cáo không có câu chữ nào đề cập tới nội dung đó!

Mấy năm qua, “tiếng tăm” của L.C Ken-li nổi lên không phải vì ông có đóng góp trong ngành Việt Nam học, mà chủ yếu là do một số công trình và bài viết có quan điểm gây tranh cãi. Biết tiếng Việt và tiếng Trung, say mê nghiên cứu Việt Nam, thậm chí lấy tên Việt là Lê Minh Khải,… L.C Ken-li được người đọc tin sẽ có cái nhìn khách quan, khoa học. Song qua các công trình, bài viết ông công bố, có thể thấy cùng với nhiều diễn giải lòng vòng về việc cần thay đổi hệ hình trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li ngày càng thể hiện rõ tham vọng muốn soi chiếu, xem xét lịch sử Việt Nam để đạt tới mục đích duy nhất là… đưa ra kết luận ngược với hầu hết các kết luận về lịch sử Việt Nam từng công bố! L.C Ken-li xác định, tự xây dựng một phương pháp nghiên cứu kỳ lạ là “đi qua Trung Hoa để tới Việt Nam”, từ đó cố gắng chứng minh Việt Nam từng là “tiểu Trung Hoa” và ông tỏ ra khéo léo khi ngụy trang cho các suy biện của mình bằng lý thuyết hiện đại của B. An-đéc-xơn (B. Anderson), A.Xmít (A. Smith). Nên không phải là ngẫu nhiên L.C Ken-li lại tán thưởng tác phẩm Ngàn năm áo mũ của nhà nghiên cứu trẻ Trần Quang Ðức. Với cung cách nghiên cứu vốn có, L.C Ken-li ngỡ đây là bằng chứng cho thấy “người Việt đã bị Hán hóa” để qua đó phủ nhận quan niệm người dân ở Ðông – Nam A đã chọn lọc các nhân tố từ các truyền thống văn hóa ngoại lai và rồi “bản địa hóa”, hay vận dụng chúng vào những hoàn cảnh bản địa. Tuy nhiên, Ken-li lại như “không biết!?” tiểu luận Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn hóa trang phục cung đình Việt Nam của Trần Quang Ðức, trong đó nhà nghiên cứu trẻ đã chứng minh Việt Nam không phải là một “tiểu Trung Hoa”. Tác giả Trần Quang Ðức nêu rõ: “Do có sự nhận đồng về điển chương, văn hiến của Trung Quốc, trong suốt một thời gian dài, cũng giống như Triều Tiên, triều đình phong kiến Việt Nam đã coi thể chế, văn hiến Trung Hoa là nguồn tham khảo chính thống. Chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã mô phỏng chế độ của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng đất nước theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên các nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt”.

Sử dụng phương pháp thực chứng một cách máy móc, xem xét và đánh giá từ nguồn sử liệu lỗi thời hoặc không nhận được sự đồng tình, không được lưu giữ trong ký ức cộng đồng,… có thể coi khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li đã trở thành một người “đốt đền” hơn là một nhà nghiên cứu. Không những không nhìn thấy một đặc điểm của sử liệu Á Ðông là thường trong tình trạng xen kẽ, hỗn dung giữa huyền thoại và hiện thực, giữa văn chương, triết học với lịch sử, L.C Ken-li còn nhào nặn làm méo mó nguồn sử liệu cổ và hiện đại về Việt Nam để đạt mục đích. Tự mặc định tài liệu lịch sử là sản phẩm của giới tinh hoa, L.C Ken-li thường tách tác phẩm lịch sử khỏi môi trường văn hóa, biến sách vở trở thành công cụ để từ đó hư cấu nên câu chuyện nước Việt Nam chỉ là mô phỏng bên ngoài, yếu kém hơn mọi mặt. Trong bài “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại, với gần 90 chú thích trong một văn bản ngắn, một người Việt Nam nào đó có thể sẽ tin vào lập luận của L.C Ken-li, từ đó thất vọng rồi ngộ nhận về nguồn gốc dân tộc mình. Song, nếu biết những văn bản L.C Ken-li sưu tầm đều thuộc phần ngoại sử, truyền kỳ, ai cũng dễ dàng nhận ra những lập luận này dựa trên những mối liên hệ không có tính chất áp đặt của văn hóa dân gian trong quá khứ để suy diễn tùy tiện.

Có một điều kỳ lạ là trong nhiều nghiên cứu lịch sử của L.C Ken-li, ông chỉ quan tâm tới việc đưa ra các kiến giải cho thấy Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly (nay là Triều Tiên và Hàn Quốc) chỉ là các “tiểu Trung Hoa không hoàn hảo”. Bởi vậy, như với Việt Nam, ông ta rất hứng thú truy tìm các tài liệu mà giới nghiên cứu không quan tâm, vì chúng không biểu thị cho tinh thần tự chủ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc. Ông không thừa nhận (không muốn thừa nhận?) một vấn đề then chốt là trong lịch sử Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly là Nho giáo đã chỉ được sử dụng như công cụ phục vụ triều đình phong kiến, còn trong đời sống văn hóa mỗi dân tộc từ đời này sang đời khác vẫn tồn tại hệ thống các giá trị có tính bền vững, không thể lay chuyển. Như văn hóa dân gian Việt Nam chẳng hạn, đó là tài sản văn hóa khiến một số nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp phải ngỡ ngàng, không thể lý giải. Ðó chính là một yếu tố góp phần làm nên bản sắc của người Việt, để ngay cả khi triều đình phong kiến bị khuất phục thì dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hóa bởi bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Trong lịch sử, sự tồn tại độc lập của Việt Nam, Nhật Bản, Cao Ly là thách thức mà nếu chỉ vận dụng lý thuyết “Hoa tâm” sẽ không bao giờ có câu trả lời thỏa đáng.

Một số lý thuyết hiện đại cũng tỏ ra bất lực khi muốn giải thích tại sao tinh thần phản kháng của các dân tộc này lại thể hiện qua sự cố kết của những giá trị văn hóa lâu đời bất chấp các “giá trị” từng được “chủng tộc ưu việt” đưa đến trong quá trình “giáo hóa”; cũng không giải thích được sự chủ động trong tiếp nhận văn hóa của các dân tộc thuộc địa bên cạnh sự “cưỡng bức văn hóa” của các quốc gia thực dân. Các thách thức đó làm cho khá nhiều nhà nghiên cứu phải thay đổi quan niệm cũ, thay đổi cách đánh giá về những dân tộc từng bị họ “xúc phạm”, “đơn giản hóa”. Ngay các học giả Mỹ từng được đào tạo bài bản, chịu ảnh hưởng của quan niệm Việt Nam là “tiểu Trung Hoa” cũng đã ít nhiều thay đổi cách nhìn, giảm bớt thiên kiến. Nhưng L.C Ken-li lại coi đó là sai lầm về nhận thức nên cách đây mấy năm, ông cho công bố tiểu luận Thay đổi cách nhìn về văn hóa Việt – Trung, trong đó L.C Ken-li như muốn nhấn mạnh có thể nghiên cứu trực tiếp từ văn bản gốc, không cần thông qua tài liệu dịch; và như một thông điệp ngầm, L.C Ken-li muốn khẳng định ngôn ngữ sẽ là chìa khóa giúp ông khai thác mọi vấn đề trong sử liệu (mà theo ông, các nhà Việt Nam học của Hoa Kỳ do nhiều lý do đã không dịch thuật đầy đủ).

Trong những năm gần đây, L.C Ken-li vẫn qua lại Việt Nam, vẫn tham dự một số hội thảo và công bố nhiều bài viết phần lớn nhằm chứng minh lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chỉ là hư cấu, một số giá trị văn hóa người Việt Nam tự hào chỉ có được sau khi tiếp xúc với phương Tây! Và “mưa dầm thấm lâu”, không chỉ một số kết luận về lịch sử Việt Nam của tác giả này, mà cả phương pháp làm việc của ông cũng đã ảnh hưởng tới quan niệm và phương pháp làm việc của một vài tác giả, nhất là tác giả trẻ. Phải chăng đó là một biểu hiện của xu hướng “sùng ngoại” đến mức không cần phân biệt đúng hay sai? Phải chăng khối lượng tri thức L.C Ken-li huy động trong các công trình, bài viết đã mê hoặc các tác giả này để họ cũng học theo ông và tiến hành công việc kỳ khôi là “xét lại lịch sử”. Do vậy, đây là xu hướng cần được cảnh báo. Nghiên cứu lịch sử cần cẩn trọng khi xem xét, đánh giá, kết luận về một vấn đề cụ thể, nếu không, sẽ không chỉ làm nhiễu loạn tri thức xã hội, mà còn có thể đi tới sự xúc phạm, xuyên tạc các giá trị cốt lõi và tốt đẹp vốn là niềm tự hào của cả dân tộc. 

LÊ VIỆT ANH
 
Nguồn: http://nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/23521102-%20nha-nghien-cuu-lich-su-hay-ke-dot-den.html 

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

13 Jun

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Giờ đã là hè. Đã đến lúc tôi phải nghỉ post bài lên blog này. Vì vậy tôi sẽ viết entry cuối này sau đó nghỉ cho đến tháng Tám.

Mấy tuần vừa rồi rất thú vị. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã di chuyển vào “Địa Trung Hải Đông Nam Á” một cách hùng hổ, và một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh một cuốn sách về nguồn gốc người Việt. Hai sự kiện này không nên bị gắn cho nhau, nhưng trên thực tế chúng đã bị như vậy, và đó là một vấn đề.

Gần đây một tác giả có tên là Tạ Đức đã viết một cuốn sách về nguồn gốc người Việt trong định vị nguồn gốc người Việt ở Trung Hoa và sách của ông đã được các học giả rất khác nhau là Trần Trọng Dương và Hà Văn Thuỳ, và nhận được một bài phê bình mang động cơ chính trị của Bùi Xuân Đính.

Image

Tôi đồng ý với những lời phê bình của Tạ Đức về các quan niệm của Hà Văn Thùy, nhưng cũng đồng ý với những lời phê bình của Trần Trọng Dương về công trình học thuật của Tạ Đức.

Rốt cuộc, Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ là 2 tác giả: 1) không có khả năng đọc các nguồn tư liệu nguyên cấp (Hán cổ), và 2) cũng không có khả năng hiểu các nguồn tư liệu tiếng nước ngoài – Pháp, Anh,v.v… Và khi dùng từ “hiểu”, tôi muốn nói rằng họ không thể đọc các nguồn tư liệu bằng tiếng nước ngoài và thẩm định được mức độ khả tín của các nguồn tư liệu đó (Tạ Đức đã chỉ ra điều này cho Hà Văn Thuỳ và tôi nghĩ tôi đã chỉ ra điều này cho Tạ Đức).

Image

Vì vậy cũng có những vấn đề với học thuật của cả Tạ Đức lẫn Hà Văn Thuỳ, nhưng vấn đề thực sự là ở chỗ không có triển vọng nghiêm túc cho học thuật của họ.

Cái nhìn “chính thức” về quá khứ của người Việt đã không thay đổi gì kể từ đầu thập niên 1970s. Sự diễn giải lịch sử Việt Nam được tiến hành lúc bấy giờ được tạo ra trong thời gian chiến tranh và có mục đích đưa người dân đến sự đoàn kết với nhau để bảo vệ và xây dựng quốc gia/dân tộc.

Đó là một nhiệm vụ rất quan trọng, và những sự diễn giải lịch sử trong thời gian đó phục vụ mục đích ấy tốt một cách khác thường.

Vấn đề hiện nay là Việt Nam không còn chiến tranh, và quốc gia/dân tộc đã được thiết lập. Hơn nữa, hàng nghìn công dân của nó giờ đây đang học tập ở nước ngoài và đã được nhìn thầy nhiều cách nhìn thế giới và quá khứ phức tạp hơn. Kết quả là, “câu chuyện cũ mèm” không thoả mãn được thế hệ trẻ.

Quan trọng hơn, phiên bản chính thống về quá khứ không đủ tinh vi để đối mặt với những sự phức tạp của hiện tại.

Image

Quá khứ phức tạp và hiện tại cũng phức tạp. Khi quá khứ được trình bày bằng những cách thức quá đơn giản (như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã làm cũng như sử học chính thống đã có) thì nó dẫn đến tình trạng rất khó cho người ta có thể dựa vào các phương pháp luận hiệu quả để ứng xử với hiện tại.

Không may cho Việt Nam, không có ai đang cố gắng để hình dung quá khứ theo những cách thức phức tạp. Các nhà sử học không chính thức như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã phổ biến những quan niệm quá giản đơn, mà các nhà sử học chuyên nghiệp vẫn im lặng (như Nguyễn Hòa đã lưu ý), hoặc đơn giản chỉ lặp lại những ý tưởng tương tự từng tồn tại từ thập niên 1970s.

Vấn đề là bây giờ đã là năm 2014, và thế giới giờ đây đã phức tạp hơn nhiều trước đó.

Image

Vậy là sau khi đã nói như vậy, bây giờ tôi sẽ đánh dấu năm 2014 bằng việc đến Borneo và xăm mình để “thoát Tàu” (thoát Trung) và trải nghiệm nền văn hoá Đông Nam Á “đích thực”.

Cảm ơn mọi người đã đọc và bình luận (hoặc ở đây hoặc ở facebook). Tôi hi vọng các bạn đã học được nhiều từ tôi như tôi đã học được từ các bạn. Và tôi mong sẽ tiếp tục cuộc đàm luận vào tháng Tám.

 

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

10 Jun

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi từng đề cập trong bài viết trước rằng ở thập niên 1860s một người Pháp có tên là Théophile Marie Legrand de la Liraye đã xuất bản một cuốn sách có tên  Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chú lịch sử về dân An Nam).

Rồi năm 1868, Legrand de la Liraye lại xuất bản một cuốn từ điển Việt-Pháp, và trong văn bản này, không có từ nào để ông dịch là “nation”. Ông tìm thấy các từ trong tiếng Việt mà ông có thể dịch thành “kingdom” (quốc, nhà nước – royaume) và “homeland” (nước – la patrie), nhưng không có từ nào để dịch thành “nation”.

Vì sao có tình trạng đó?

Image

Để trả lời câu hỏi ấy chúng ta cần phải xem xét nghĩa của khái niệm “nation” trong tiếng Pháp qua thời gian ((web site này sẽ giúp chúng ta).

Từ chí ít là cuối thế kỉ XVII, từ “nation” trong tiếng Pháp được dùng như một khái niệm chung để chỉ “toàn bộ người dân của cùng một nhà nước, trong cùng một địa vực, những người sống dưới cùng hệ thống luật pháp và ngôn ngữ” (Tous les habitants d’un mesme Estat, d’un mesme pays, qui vivent sous mesmes loix, & usent de mesme langage &c.)

Một từ ngữ có vấn đề trong định nghĩa này là “pays” mà tôi dịch ở đây là “địa vực”. Trên thực tế, nó cũng có nghĩa là “đất nước”, và khái niệm “nation” vì thế có thể chỉ người dân trong cùng một đất nước.

Cụ thể là, có những nghĩa phức (nhưng có liên quan đến nhau) của khái niệm “nation” vào lúc bấy giờ.

Image

Chuyển sang đầu thế kỉ XIX, chúng ta thấy định nghĩa sau: “toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền”. (La totalité des personnes nées ou naturalisées dans un pays, et vivant sous un même gouvernement.)

Điều thú vị là ngôn ngữ không được đề cập đến trong định nghĩa này. Thay vào đó, “nation” ở đây có nhiều nghĩa chính trị hơn.

Tuy nhiên, nghĩa chính trị này không xoá đi cái cảm giác rằng có cái gì đó nữa đã gắn bó các nhóm người với nhau, và điều này được hé lộ trong định nghĩa tiếp đây ở cuối thế kỉ XIX:

“Một tập hợp người dân sống trong cùng vùng lãnh thổ, chịu sự chi phối hoặc không của một chính quyền, và duy trì những mối quan tâm chung mà nhờ đó họ được xem là thuộc về cùng một sắc tộc”  (Réunion d’hommes habitant un même territoire, soumis ou non à un même gouvernement, ayant depuis longtemps des intérêts assez communs pour qu’on les regarde comme appartenant à la même race.)

Image

Có hai khái niệm mới trong định nghĩa này. Thứ nhất, có một ý tưởng rằng các quan niệm – những mối quan tâm chung – có ý nghĩa quan trọng với các “nation”. Thứ hai, khái niệm “sắc tộc” cũng là mới.

Người ta có thể hỏi, làm thể nào thực trạng một dân tộc nào đó có cùng các quan niệm lại khiến cho những dân tộc khác nghĩ rằng họ thuộc cùng một sắc tộc?

Điều đó khó mà trả lời, nhưng nó chỉ ra những quan niệm phức tạp và tranh cãi rằng người dân ở Pháp (và châu Âu nói chung) ở cuối thế kỉ XIX đã nghĩ về khái niệm này. Đây là lí do vì sao một học giả Pháp có tên Ernest Renan đã viết một bài báo mà giờ đây được xem là bài báo có ảnh hưởng lớn trong đó ông nỗ lực lí thuyết hoá cái gọi là “nation”, một bài báo có tên “một nation là gì?” (Qu’est-ce qu’une nation?).

Image

Điều Renan cố gắng chỉ ra cho người ta là những thứ như ngôn ngữ, sắc tộc và địa lí là có vấn đề khi chúng được dùng để xác định một “nation”. Chẳng hạn, nếu ngôn ngữ có vai trò trung tâm cho một nation, thì dân Thuỵ Sĩ đa ngôn ngữ không thể là một nation, và điều đó là rõ ràng.

Vậy thị cái gì là một nation, theo Renan? Renan cho rằng một nation được dựa trên 2 thứ: “Một là sự sở hữu một di sản kí ức chung phong phú; hai là sự đồng thuận trong hiện tại, khát vọng sống chung”.

Đối với Renan, một nation là một nhóm người chia sẻ những kí ức về quá khứ, và những người nhất trí sống cùng nhau trong hiện tại.

Có một luận điểm khác mà Renan đưa ra rất quan trọng và đã rất có ảnh hưởng. Xem xét những kí ức về quá khứ, Renan khẳng định rằng “Quên, tôi thậm chí muốn nói đến sai lầm lịch sử, là một nhân tố cần thiết trong việc kiến tạo một nation”.

Người dân “nhớ” quá khứ chỉ “nhớ” những phương diện của quá khứ ủng hộ nỗ lực thống nhất người dân lại với nhau trong hiện tại. Vì vậy, họ “quên” rằng tổ tiên họ đã chinh phục dân tộc láng giềng, và “nhớ” rằng tổ tiên họ đã chống lại một cuộc xâm lược, cụ thể là những tư tưởng tích cực giúp kiến tạo sự gắn bó tình cảm giúp đoàn kết nation đó.

Image

Tại sao nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi theo thời gian? Nó thay đổi bởi xã hội châu Âu thay đổi. Trong khi “nation” chỉ một nhóm dân từ một địa vực nói chung một ngôn ngữ, thì có nhiều chế độ quân chủ ở Châu Âu cai trị các nhóm dân cư đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Vì vậy nó là một khái niệm được dùng để nhận dạng các nhóm trong phạm vi một vương quốc.

Định nghĩa dễ hiểu ở đầu thế kỉ XIX về một nation là ““toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền” phản ánh những thay đổi trong xã hội và các nhu cầu của chính quyền ấy từ hệ quả của Cách mạng Pháp. Với việc chế độ quân chủ biến mất, giờ đây có một nỗ lực nhằm linh động hoá “toàn bộ người dân” trong một đất nước nhằm ủng hộ chính quyền, và nghĩa của khái niệm “nation” thay đổi để phù hợp với nhu cầu mới này.

VÀ sự thay đổi này rất quan trọng khi mà ở thời điểm này ý tưởng cốt lõi về một nation như người ta nghĩ hôm nay – là nó chỉ toàn thể người dân trong một đất nước – trở nên quan trọng.

Rồi với sự xuất hiện của khái niệm sắc tộc, và khi các nước châu Âu trở nên dân chủ hơn và  đề cao ý tưởng rằng “các công dân” hay “nhân dân” đóng một vai trò quyết định vận mệnh của đất nước, nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi.

Image

Tuy nhiên, không có sự phát triển nào như thế xảy ra ở Việt Nam trong suốt giai đoạn này. Ở thế kỉ XIX, khi Legrand de la Liraye soạn cuốn từ điển của mình, triều Nguyễn là một chế độ quân chủ thuần tuý, giống như chế độ quân chủ ở Pháp trước Cách mạng. Vì vậy không có nhu cầu chính trị cần đến “toàn thể người dân” như bắt đầu xảy ra ở châu Âu sau khi các chế độ quân chủ thuần tuý bị lật đổ, và vì vậy, không có nhu cầu cần đến một khái niệm như thế.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi năm 1868 Legrand de la Liraye có thể tìm thấy các từ chỉ “kingdom” (quốc, nhà nước) and “homeland” (nước), nhưng không thấy từ chỉ “toàn thể người dân” trong nước này, tức là “nation” (dân tộc).

Từ đó (dân tộc), tuy vậy, rốt cuộc cũng xuất hiện, nhưng đó là một câu chuyện phức tạp khác…

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/06/10/legrand-de-la-liraye-and-the-missing-word-for-nation-in-nineteenth-century-vietnam/

  

 

Công trình lịch sử về dân An Nam của Legrand de la Liraye năm 1865

8 Jun

Công trình lịch sử về dân An Nam của Legrand de la Liraye năm 1865

Tác giả : Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Gần đây tôi vừa đọc một cuốn sách mà Théophile Marie Legrand de la Liraye công bố vào (tôi nghĩ) năm 1865 có tên gọi Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chú lịch sử về dân An Nam)

Image

Legrand de la Liraye là một nhà truyền giáo được Hội truyền giáo ngoại quốc ở Paris [Missions Étrangères de Paris] gửi đến Đồng bằng sông Hồng năm 1843, nơi ông làm việc cho đến khi bệnh tật buộc ông phải trở lại Pháp năm 1856. Ông hồi phục và trở lại châu Á để giúp quân đội Pháp với tư cách thông ngôn trong cuộc tấn công triều Nguyễn của họ bắt đầu năm 1858.

Những năm sau đó khi người Pháp chiếm Sài Gòn, Legrand de la Liraye định cư ở đó và tiếp tục thiên hướng tôn giáo của mình. Tuy nhiên, một năm sau ông lại trở lại nghề thông ngôn và tiếp tục nghề này suốt thập niên 1860 khi người Pháp thiết lập quyền cai trị ở Đồng bằng sông Mekong.

Image

Cuốn sách ông viết rất có ý nghĩa khi mà tôi nghĩ rằng nó chính là cuốn sách sớm nhất giới liệu lịch sử của “người Việt Nam” với tư cách là lịch sử của một “dân (tộc)”, khái niệm mà ở Pháp lúc bấy giờ có nghĩa là “dân” giống như nghĩa của từ “nationality” (người một nước) trong tiếp Anh.

Trước năm 1865, các học giả Việt Nam đã viết vài công trình lịch sử, nhưng không ai từng đặt “dân (tộc)” vào trung tâm của lịch sử.

Thay vào đó, họ viết các công trình lịch sử về các vị vua và một phả hệ “chính thống” 正統 kết nối các vương quốc qua thời gian.

Image

Legrand de la Liraye, khác hẳn, bắt đầu công trình của mình không phải bằng việc nói về các vị vua hay phả hệ chính thống, mà cố gắng xác định người An Nam (tức người Việt Nam) là ai.

Ông lưu ý rằng trong các nguồn tư liệu Trung Hoa và Việt Nam, người ta có thể thấy nhiều tên gọi khác nhau trải qua tiến trình lịch sử được dùng cho các thực thể chính trị và các khu vực hành chính từng tồn tại ở Đồng bằng sông Hồng, nhưng có một khái niệm cổ xưa mà người Trung Hoa thường dùng để chỉ phương Nam xa xôi và ông cho là quan trọng nhất – khái niệm Giao Chỉ 交趾.

Mặc dù khái niệm này có nghĩa đen là “các ngón chân xoè ngang”, Legrand de la Liraye nói rằng nó có nghĩa là ngón chân cái “toẽ ra” (écarté), và rằng đây là một dấu hiệu khác biệt mà người ta có thể tìm thấy trong những người An Nam bản địa.

Cụ thể là, Legrand de la Liraye cho rằng khái niệm “Giao Chỉ” có thể chỉ người An Nam về mặt chủng tộc.

Image

Điều này hoàn toàn rất mới mẻ. Các sử gia Việt Nam lúc bấy giờ không biết về khái niệm chủng tộc, và họ không trình bày lịch sử của họ là lịch sử về một dân (tộc). Tuy nhiên, đến đầu thế kỉ XX, có một số học giả Việt Nam đã bắt đầu viết về quá khứ theo các cách thức (phương Tây) này.

Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền

4 Jun

Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi thực sự đã thấm mệt khi nhìn người ta đưa ra những tấm bản đồ thời tiền hiện đại như là các chứng cứ mà họ tin có thể chứng minh cho chủ quyền. Chúng không chứng minh, và vì vậy nếu người ta muốn chứng minh một tuyên bố chủ quyền trong lịch sử đối với một khu vực nhất định, các tấm bản đồ sẽ không giúp gì cho họ.

Image

Lấy tấm bản đồ trên làm ví dụ, nó thể hiện Paracels (Hoàng Sa) như là một đảo đơn, và rồi ở trên nó là hai “đảo” nữa, – theo tôi biết đây là một nơi trên đảo Hải Nam, tôi sai chăng?) và Hainan/Hải Nam. Hải Nam là một hòn đảo thực sự, và vâng nó được thể hiện theo cùng cách thể hiện đảo Paracels. Hơn nữa, không có gì trên tấm bản đồ (màu sắc, đường nét,v.v…) phân biệt Hải Nam với Hoàng Sa.

Vậy thì phải chăng điều đó có nghĩa là nhà Nguyễn có chủ quyền với Hải Nam?

Thế còn biên giới phía Tây của triều Nguyễn? Không có biên giới phía Nam trên tấm bản đồ này. Vậy thì phải chăng nó có nghĩa là đất Lào cũng là lãnh thổ thuộc chủ quyền của nhà Nguyễn?

Không, nghĩa của nó là những nhà vẽ bản đồ tiền hiện đại vẽ các tấm bản đồ mà không có ý niệm trong đầu rằng họ cần phải vạch rõ “lãnh thổ thuộc chủ quyền” vương quốc của họ. Và bởi họ không có ý niệm ấy trong đầu, nên chúng ta không thể dùng cái họ vẽ ra để chứng minh chủ quyền.

Image

Tấm bản đồ trên đây cũng chứng minh quan điểm này. Nó thể hiện đảo Hải Nam bao quanh bởi màu xanh, cũng như bờ biển của đế chế Nguyễn được vẽ bằng màu xanh, và các con sông cũng vậy. Do đó, nó có vẻ như biểu thị sông biển, nhưng chỗ nào là chỗ các đường vạch đó phân định chủ quyền? Chả có gì cả.

Image

Đây là một tấm bản đồ “toàn vương quốc” Đại Nam, và một lần nữa nó có đảo Hải Nam và không có đường biên giới phía Tây rõ ràng.

Image

Cuối cùng, ở đây chúng ta có một tấm bản đồ tuyệt đẹp khác có đảo Hải Nam, và không có đường biên giới phía Tây hay phía Bắc.

Vậy thì làm thế nào các tấm bản đồ đó chứng minh chủ quyền? Cách duy nhất chúng có thể làm vậy là nếu người nhìn có xu hướng chọn lựa và chỉ chú ý đến một số phần của các tấm bản đồ trong khi họ lờ đi những phần khác của chúng.

Kiểu chọn lựa như thế, tuy vậy, có nghĩa là bất cứ nỗ lực nào nhằm sử dụng những tấm bản đồ đó để “khẳng định” chủ quyền rốt cuộc sẽ thất bại, bởi vì tất cả những “mặt đối lập” phải làm là nhắm tới những phần khác của các tấm bản đồ (như tôi làm ở trên) để làm xói mòn logic của những tuyên bố rằng các tấm bản đồ như thế có thể được dùng để chứng minh chủ quyền.

Chủ quyền được chứng minh không phải bằng việc đưa cái gì đó lên một tấm bản đồ, mà là đưa ra một sự hiện diện nhà nước liên tục ở một khu vực. Nhà Nguyễn là chính quyền đầu tiên đã cố gắng làm như vậy ở Hoàng Sa, và người Pháp đã thiết lập một sự hiện diện nhà nước lâu dài hơn ở đó trong thập niên 1930s. Đó là chứng cứ ủng hộ cho một tuyên bố chủ quyền.

Những người vẽ bản đồ thời tiền hiện đại không nghĩ gì về chủ quyền khi họ vẽ các tấm bản đồ của mình. Các tấm bản đồ của họ rất đẹp, nhưng nó dựa trên một cách nhìn khác về thế giới.

%d bloggers like this: