Archive | Học thuật Trung Quốc RSS feed for this section

Người Trung Quốc chống lại “chủ nghĩa Đại Thái” năm 1949

22 Oct

Người Trung Quốc chống lại “chủ nghĩa Đại Thái” năm 1949

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Ngày 16 tháng Năm năm 1949, tờ Nhân dân nhật báo của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đăng tải một câu chuyện về sự thay đổi tên nước từ Siam sang Thái Lan. Năm 1939, Thủ tướng Phibunsongkhram đã đổi tên Siam sang Thái Lan. Cuối Đại chiến thế giới II, cái tên lại được đổi lại là Siam, nhưng sau đó năm 1949 Phibunsongkhram, trở lại nắm quyền, đã đổi tên thành Thái Lan một lần nữa.

Image

Đây là nội dung bài báo của tờ Nhân dân nhật báo:

“Lãnh đạo phát xít của Siam, Luan Piwen [tức là Phibunsongkhram] tuyên bố vào ngày 11 rằng cái tên Siam một lần nữa được đổi thành Thái Lan. Lưu ý rằng cái tên Thái Lan là cái tên cực kì mang tính xâm lược và tự cao tự đại [do] những phần tử phát xít nước Siam tạo ra.

Theo những phần tử phát xít đó, khu vực thực thi quyền lực của Siam bao gồm cả đảo Hải Nam, Vân Nam, những tộc người thiểu số trong phạm vi của khu vực Tứ Xuyên, rằng mọi người ở những khu vực đó đều thuộc tộc người “Thái”.

Luan Piwen đổi tên nước lần đầu năm 1939 trong đêm trước của cuộc Đại chiến. Lúc bấy giờ, Luan Piwen đang thực thi sự thống trị khủng bố phát xít của mình và đang phân biệt đối xử điên cuồng chống lại Hoa kiều, gọi họ là “người Do thái của châu Á”.

Điều này chứng minh rằng dưới sự cổ vũ của những chính sách xâm lược của bọn đế quốc Anh Mỹ, những phần tử phát xít người Siam đang quay trở lại với giấc mơ cũ về “chủ nghĩa Đại Thái”.

[本条数据为:人民日报1949.05.16第3版 作者:新华社

“暹罗”又改“泰国”法西斯分子銮披汶妄自尊大还想侵略

【新华社北平十四日电】曼谷讯:暹罗法西斯头子銮披汶于十一日宣布再一次把暹罗改称为泰国。按泰国的名称是暹罗法西斯分子极具侵略性的妄自尊大的称号。照法西斯分子的说法,暹罗的邻近地区,包括中国海南岛、云南、四川境内的少数民族,据说都是所谓“泰”族。銮披汶第一次更换暹罗国号为泰国是在一九三九年第二次大战爆发前夕。当时,銮披汶厉行法西斯恐怖统治,疯狂地排斥华侨,指华侨为所谓“东方犹太人”。一九四五年日寇投降后,暹罗统治者曾一度把泰国的名称收起。銮披汶重掌政权以后,现在又采用了泰国的名称。这表明暹罗法西斯分子在美英帝国主义者侵略政策的鼓励下,正在重温其“大泰族主义”的旧梦。]

Trước thế kỉ XX, người dân ở Siam đều không nghĩ gì nhiều về “nguồn gốc”. Nó chỉ xuất hiện khi người phương Tây lần lượt đến đây và bắt đầu kiếm tìm “các sắc tộc” và “nguồn gốc”, những khái niệm phổ biến ở “phương Tây” lúc bấy giờ và là những nhân tố quan trọng của chủ nghĩa dân tộc, để rồi một số người ở Siam cũng bắt đầu nghĩ theo cách ấy.

Những công trình như cuốn The Tai Race: Elder Brother of the Chinese (Tộc người Thái: Người anh của người Hoa) (xuất bản năm 1923) đã cho rằng người Thái có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cuối thập kỉ 1930s và trong suốt Thế chiến II,

ImagePhibunsongkhram đã dùng ý tưởng này để cổ xúy cho một dạng thức cực đoan của chủ nghĩa dân tộc Thái, và điều đó khiến một số người ở Trung Quốc tức giận, như bài báo của tờ Nhân dân nhật báo dẫn ở trên đã chỉ ra.

Trong khi ngày nay người Trung Quốc không còn viết về vấn đề này với một mức độ xúc cảm như thế, nó vẫn là một vấn đề nhạy cảm đối với họ. Liang Yongjia có một  tiểu luận hay [Inalienable Narration: The Nanzhao History between Thailand and China – Sự trần thuật bất khả di dịch: Lịch sử nước Nam Chiếu chẹt giữa Thái Lan và Trung Quốc] bao quát những cuộc tranh luận sử học về  chủ đề này và những cách thức mà các sử gia Trung Hoa đi đến một kết luận đầy áp đặt về vị trí của người Tai/Thái trong quá khứ Trung Hoa.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/09/29/the-rectification-of-signifiers-for-the-historical-inhabitants-of-the-red-river-delta/#comments

Advertisements

Việc giữ cánh cổng tri thức lịch sử trong kỉ nguyên số hoá

27 May

VIỆC GIỮ CÁNH CỔNG TRI THỨC LỊCH SỬ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ HÓA
By Le Minh Khai
Viết blog này là một trải nghiệm thú vị. Nhiều người thích những gì tôi viết trong khi số khác không. Điều mà tôi nhận ra đó là những dẫn đầu trong nhóm phản đối những gì tôi viết là những người mà tôi gọi là “người giữ cửa”.
Trong khung cảnh học thuật, “người giữ cửa” là những người kiểm soát việc tiếp cận tri thức. Họ có thể là người can dự vào việc kiểm soát tuyển dụng nghề nghiệp trong học giới.
Ví dụ, trong nửa sau của thế kỷ XX ở miền bắc Việt Nam, có bốn học giả những người đóng vai trò hàng đầu liên quan đến tri thức lịch sử Việt Nam: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, và Trần Quốc Vượng.
Nếu bạn muốn biết về Việt Nam trong quá khứ, bạn phải đi qua một trong các cửa mà những người này gác. Họ diễn giải quá khứ gần như là cho tất cả mọi người và nếu bạn muốn hiểu về quá khứ, bạn phải tiếp cận nó thông qua khung cảnh/ cửa của những người này.
Các đạo luật cũng có thể giúp sức cho “việc gác cửa” này. Trong trường hợp Thailand, ví dụ Luật bảo vệ Hoàng gia (lese-majesty law) tham gia vào việc kiểm soát tri thức liên quan đến hoàng gia. Và ở Indonesia, hạn chế tự do báo chí trong thời kỳ Trật Tự Mới (1965-1998) cũng kiểm soát cánh cửa dẫn đến tri thức về quá khứ.
Trong khi nỗ lực để gác cánh cửa dẫn đến tri thức trong quá khứ là rất chặt chẽ, internet đã là cho việc giữ những cánh cửa này ngày càng khó khăn. Bây giờ người ta có thể tiếp cận thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ từ những “người gác cửa”.
Thêm nữa, sự gia tăng nhanh chóng những người học ở nước ngoài trong những năm gần đây cũng tham gia chống lại nỗ lực của những “người gác cửa” vì khi học sinh tới quốc gia khác, họ có thể nhận ra rằng học giả ở đó không đồng tình (hoặc thậm chí không biết bất cứ điều gì hoặc không quan tâm) với những người gác cửa ở quốc gia mà học sinh đó đã ra đi.
Vậy làm thế nào để bạn có thể duy trì một cánh cửa trong một thế giới như vậy? Và làm như vậy có đáng hay không?
Mỉa mai là, trong lúc đó những người gác cửa ngày càng khó khăn trong việc duy trì ảnh hưởng/ sự thống trị cá nhân của mình, Wikipedia đang đại chúng hóa ý tưởng của họ.
Nghiên cứu được thực hiện ở Mỹ chỉ ra rằng thông thường một trang Wikipedia được viết bởi một người đàn ông da trắng vào cuối tuổi teens hoặc đầu tuổi 20 (loại người thường theo các quan điểm bảo thủ của những người gác cửa). Vì thế, về cơ bản tất cả tri thức của nhân loại (ở trang Wikipedia) bằng tiếng Anh hiện tại được tạo ra bởi những người da trắng trẻ tuổi ủng hộ ý tưởng của những người gác đền…
Nhận ra điều này, hiện tại đã có những người ở Mỹ bắt đầu nỗ lực viết lại Wikipedia bằng cách tập hợp những người có quan điểm khác nhau cùng đóng góp.
Sẽ rất thú vị để xem cuộc vận động này sẽ dẫn đến cái gì.
Theo tôi, tất cả những điều này chỉ ra ý tưởng rằng tri thức học thuật là cái gì đó được kiểm soát bởi một thiểu số đặc quyền thông qua các cánh cửa mà họ canh gác sẽ ngày càng khó khăn để duy trì trong những năm sắp tới.
Vậy nếu bạn là một người gác cửa của tri thức, bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có nên từ bỏ cánh cửa và cố gắng tồn tại trong một thế giới mà việc sáng tạo ra tri thức đang được dân chủ hóa? Liệu bạn có nên tiếp tục gác cánh cửa trong một thế giới mà ở đó các cánh cửa đang ngày càng bị công phá và trở thành thứ yếu/ ít quan trọng?
Hoặc có thể sẽ có các lựa chọn khác?
(Vũ Đức Liêm dịch)
Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/27/gatekeeping-historical-knowledge-in-the-digital-age/

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/nguyen15581885/posts/523265691060529

Những tự sự kiểu “nạn nhân” đậm tính dân tộc chủ nghĩa ở Trung Hoa và Việt Nam

6 May

Những tự sự kiểu “nạn nhân” đậm tính dân tộc chủ nghĩa ở Trung Hoa và Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Gần đây có những biểu hiện chống Nhật ở Trung Hoa, và những biểu hiện chống Tàu ở Việt Nam. Những biểu hiện này trong cả hai trường hợp đều liên quan đến những vấn đề về các hòn đảo không người ở nào đó (“những đảo đá ngoài biển” là khái niệm tôi thích dùng để gọi chúng hơn những khái niệm khác), nhưng cũng còn cái gì đó khác mà chúng cùng chia sẻ. Chúng đều được định hình bởi “tự sự kiểu ‘nạn nhân’ đậm tính dân tộc chủ nghĩa”.

Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người Trung Hoa nói về “nỗi nhục của đất nước” (quốc sỉ) mà họ phải đối mặt khi những người phương Tây xâm phạm đất đai của họ, bắt đầu với cuộc chiến tranh Nha phiến.

Khi những người Cộng sản nắm quyền từ năm 1949, họ tuyên bố rằng họ đã kết thúc “nỗi nhục của đất nước trong một trăm năm” (bách niên quốc sỉ). Tuy nhiên, tự sự này đã được khôi phục vào thập kỉ 1990s, và điều đó rõ ràng nằm trong những sự phản kháng gần đây.

Vào giữa thế kỉ XX, người Việt bắt đầu nói nhiều về “xung đột” và “kháng cự” và điều này cuối cùng dẫn đến ý niệm về một “lịch sử chống ngoại xâm”. Tự sự này đã tiếp tục đóng một vai trò quan trọng cho đến nay.

“Bách niên quốc sỉ” và “lịch sử chống ngoại xâm” đều là những “tự sự kiểu ‘nạn nhân”. Chúng đều khuấy động những cảm xúc bằng cách phản kháng lại cái cảm giác được tiếp nhận của người dân về việc bị đối xử sai bởi những kẻ khác, nhưng chúng cũng đang xoa dịu [người dân], bằng cách chúng ngụ ý, rằng những sự sai trái như thế đã được khắc phục trong quá khứ, và rằng toàn bộ những sự sai trái trong tương lai cũng sẽ được khắc phục như thế “nếu” người dân tiếp tục hành động cũng như họ đã được cho hành động như vậy trong quá khứ.

Trong cuốn Chủ nghĩa dân tộc mới của Trung Hoa: Niềm tự hào, nền chính trị và ngoại giao (Berkeley: University of California Press, 2005), Peter Hays Gries đã có một lời giải thích khá hay về cách thức hoạt động của những tự sự như thế trong đời sống con người. Ông nói như sau:

“Các tự sự là những câu chuyện về quá khứ của chúng ta. Những câu chuyện này, các nhà tâm lí học cho rằng, đã bao bọc lấy những đặc điểm nhận dạng của chúng ta bằng tính đơn nhất, ý nghĩa và mục đích. Vì vậy, chúng ta không thể thay đổi triệt để chúng bằng ý chí. Từ việc là những công cụ đơn giản trong phát kiến của chúng ta, những câu chuyện chúng ta kể về quá khứ vừa câu thúc vừa bị câu thúc bởi những gì chúng ta làm trong hiện tại.

Nói một cách đơn giản, ”Đặc điểm cuộc sống xã hội được kể cung cấp cho đặc điểm nhận dạng của chúng ta các nghĩa. “Đặc điểm nhận dạng”, Stuart Hall lưu ý, ‘là những cái tên chúng ta đặt cho những con đường mà chúng đã được đặt vào, và vị trí mà bản thân chúng ta đứng, bởi các tự sự về quá khứ” (trang 46).

Vì vậy, trong trường hợp Trung Hoa, “nỗi nhục của đất nước trong trăm năm” không phải là “sự thực” (bởi vì có nhiều cách khác để người ta có thể lí giải cùng giai đoạn này, đặc biệt là bằng việc xoáy vào “những thất bại” của Trung Hoa), nhưng nó cũng không phải là “chế tác” hoàn toàn (bởi những sự kiện như Chiến tranh Nha phiến thực sự đã xảy ra).

Những gì mà Peter Hays Gries đang chỉ ra, tuy vậy, là cái cách để tự sự về “nỗi nhục của đất nước trong trăm năm” trở thành một phần trong những đặc điểm nhận dạng của người dân thông qua việc nó được kể đi kể lại. Và rồi một khi đã xảy ra, nó định hình cách nghĩ và làm của họ.

Vì vậy ngày nay người Trung Hoa quyết định “rửa sạch” “nỗi nhục của đất nước” khi Nhật Bản tuyên bố chủ quyền đối với một số đảo đá ngoài biển [Hoa Đông] và người Việt quyết định “chống ngoại xâm” khi họ thấy Trung Hoa tuyên bố chủ quyền đối với các đảo đá khác ngoài biển [Đông].

Trong cả hai ví dụ này, lần lượt là người Trung Hoa rồi người Việt Nam đều nhận thấy một cảm giác về sự chính đáng mạnh mẽ của họ khi họ “hiểu” rằng họ đã bị “nạn nhân hóa” như thế bởi lần lượt là người Nhật rồi người Trung Hoa trước kia. Đồng thời, sự “hiểu biết” của họ rằng họ đã chiến thắng những sai trái đó trong quá khứ đã đưa lại cho họ sự tin tưởng trong hiện tại rằng họ sẽ chiến thắng một lần nữa.

Một điểm tôi thấy thú vị là các giá trị mà những tự sự đó tuyên xưng rõ ràng là những giá trị có thể nhận thấy là thiếu vắng trong khi những tự sự đó được tạo ra.

Paul Cohen đã chỉ ra rằng trong những năm cuối thời Thanh đầu thời Dân quốc ở Trung Hoa, có nhiều nhà văn đã chán nản khi thấy nhiều người Trung Hoa có vẻ như không hề cảm thấy nhục nhã bởi “những nỗi nhục của đất nước” đang xảy ra [Paul A. Cohen, “Remembering and Forgetting National Humiliation in Twentieth-Century China,” Twentieth-Century China 27.2 (2002): trang 1-39.]

Vì vậy, một phần nguyên nhân khiến một số trí thức nào đó viết về “nỗi nhục của đất nước” là: họ cảm thấy quá nhiều người không hề cảm thấy nhục nhã và rằng sự thay đổi tích cực sẽ không bao giờ xảy ra nếu như người dân vẫn thụ động và bàng quan.

Điều tương tự có thể áp dụng cho Việt Nam. Tự sự “chống giặc ngoại xâm” bắt đầu định hình vào nửa sau của thập kỉ 1940 khi có một nhu cầu tức thời cho việc đánh đuổi người Pháp, và rồi nó định hình lần cuối vào thập kỉ 1960 khi quốc gia bị chia cắt và khi có nhiều người không coi mình là đang “chống giặc ngoại xâm”.

Peter Hays Gries nói rằng chúng ta không thể “thay đổi triệt để [các tự sự] bằng lí trí. Điều đó có thể đúng, nhưng ít nhất cũng đáng để thay đổi chúng.

Không khó để xác định bao giờ một tự sự nào đó xuất hiện và tại sao. Khi chúng ta khám phá ra thông tin đó, thì “sự thực dễ xúc động” của tự sự ấy sẽ suy yếu đi.

Nếu có những lí giải phức tạp hơn cho những gì đã xảy ra ở Trung Hoa từ cuộc chiến tranh Nha phiến đến năm 1949 (hơn là một sự lí giải quá giản đơn – cái gợi lên những xúc cảm), thì cũng nên có những lí giải phức tạp về những gì đang xảy ra hôm nay.

Nếu lịch sử Việt Nam đã từng phức tạp hơn câu chuyện xúc động mà giản đơn về việc người dân đoàn kết chống ngoại xâm, thì những vấn đề mà Việt Nam đối mặt ngày hôm nay cũng nên được nhìn nhận phức tạp hơn.

Những vấn đề sẽ dễ được giải quyết hơn khi có ít xúc cảm hơn can dự vào và khi có nhiều dạng thức phức tạp hơn của tư duy được sử dụng. Tuy nhiên, những tự sự kiểu ‘nạn nhân’ dựa trên cực đối lập rõ ràng. Không có một liều nặng cảm xúc và một cảm quan giản đơn về thế giới, một tự sự kiểu ‘nạn nhân’ không thể sống sót.

Chừng nào những tự sự kiểu nạn nhân còn chi phối, các vấn đề sẽ còn kéo dài. Đời sống nhân loại có lẽ không thể tồn tại nếu thiếu những tự sự về bản thân con người, nhưng người ta có lẽ có thể tạo ra những tự sự cho phép sự hoạt động phức tạp hơn sự hoạt động của các tự sự kiểu nạn nhân.

Thu được một sự hiểu biết rõ ràng về thời điểm và nguyên nhân xuất hiện của các tự sự hiện hành là bước đi đầu tiên rõ ràng để đạt được điều đó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/08/25/nationalist-victim-narratives-in-china-and-vietnam/

Kiểu hai mặt trong học thuật Trung Quốc?

24 Apr
Trò hai mặt trong học thuật Trung Quốc?
Le Minh Khai
Bản dịch 1:
Người dịch: Hà Hữu Nga
Hôm qua tờ New York Times đăng một bài viết về một quỹ học bổng mới được tạo ra sẽ giúp cho người không phải Trung Quốc đến học tập, nghiên cứu tại Trung Quốc. “Ông trùm quỹ tư Stephen A. Schwarzman, được một đội quân của hầu hết các công ty tài chính vững chắc của phương Tây kiếm lợi ở Trung Quốc hỗ trợ, tạo dựng một quỹ học bổng 300 triệu USD cho việc học tập tại Trung Quốc mà ông hy vọng sẽ cạnh tranh với quỹ học bổng Rhodes Scholarship về danh tiếng và ảnh hưởng”.
Quỹ Rhodes Scholarship là một quỹ danh tiếng vẫn hỗ trợ cho việc học tập nghiên cứu tại Đại học Oxford. Vậy thì có phải việc tạo ra quỹ học bổng mới này cho thấy rằng công trình của các học giả Trung Quốc giờ đây đã đạt tới trình độ ngang với các đối tác của họ ở những nơi chẳng hạn như tại Vương quốc Anh? Các học giả Trung Quốc giờ đây đã là những tay chơi đồng hạng trong giới học thuật quốc tế (điều đó có nghĩa gì vậy)?
Tôi tự hỏi mình điều này vào sáng nay khi tôi vào trang blog Tiếng vọng Kattigaravà thấy một bản dịch bài viết của Lý Huy, một giáo sư tại Đại học Phục Đán; bài viết có nhan đề là Common Origin of the Austronesian and Daic Populations. [1] Đây là một bài viết tham gia hội nghị được công bố trong một tạp chí có tên làCommunication on Contemporary Anthropology, “một tạp chí mở cho cả các tác giả chuyên nghiệp lẫn không chuyên đánh giá”.
Tôi quan tâm đến việc cố gắng hiểu những tộc người khác nhau hiện sống tại Đông Nam Á đã đến đó như thế nào, và họ từ đâu đến, …v.v., vì vậy mà tôi đã quyết định đọc bài viết này. Đoạn tóm tắt tuyên rằng “Trong bài viết này, chúng tôi đã phát hiện ra mối quan hệ gần gũi giữa các cư dân Nam Đảo và Daic tại miền nam Đông Á, và đã tái dựng quá trình phát sinh của hai nhóm cư dân bằng cách sử dụng các nhiễm sắc thể Y dòng cha và ti thể DNA dòng mẹ”.
Vậy là bài viết khai thác thông tin có được từ DNA để xem xét quá khứ. Tôi không biết nhiều về lĩnh vực này, vì vậy không thể thực sự đánh giá được loại học thuật này, nhưng tôi dù sao thì cũng cứ đọc hết bài viết.
Khi thực sự đọc bài viết tôi thấy không hề có một chú thích, một tài liệu dẫn nào, và cũng không hề có thảo luận về phương pháp. Đồng thời nó lại cực kỳ chi tiết. Chẳng hạn như đoạn sau:
“Trong khoảng thời gian từ 5000 đến 3000 năm trước người Mân Việt ở Phúc Kiến và Nam Việt ở Quảng Đông đã phân cực và sinh ra một số nhóm mới di cư khỏi vùng hạch. Các nhóm cư dân này thường được gọi là người Âu, có nghĩa là người ngoài. Thực ra thì người Đông Âu đã di cư theo hướng bắc ra ngoài nhóm Mân Việt đến nam Chiết Giang, còn người Tây Âu chuyển về phía tây, đi khỏi nhóm Nam Việt đến Quảng Tây. Người Tây Âu hòa hợp với người Lạc Việt và trở thành tổ tiên của người Tráng-Thái. Cũng trong khoảng thời gian đó, nhóm Kadai [仡央 Ngật Ương*] di chuyển theo hướng tây bắc đến Quý Châu và tạo dựng nên một vài vương quốc chẳng hạn như Dạ Lang. Họ đồng hóa một số lớn cư dân bản địa là người 百濮* Bách Bộc ở đó, vốn nói tiếng mẹ đẻ là nguyên Nam Á [Proto-Austro-asiatic]. Các phát hiện này đã được xác định dựa trên cơ sở sự lưỡng phân trong cấu trúc di truyền của người Kadai” [仡央 Ngật Ương*].
Toàn bộ điều này thực sự có vấn đề. Lý Huy hoàn toàn chấp nhận không phê phán việc sử dụng tên gọi các chính thể và các tộc người mà chúng ta có thể tìm được trong các văn bản cổ, như Nam Việt hoặc Âu (“Âu” nghĩa là “người ngoài”? Ngoài với ai? Làm sao chúng ta biết điều đó?). Ở những chỗ khác ông cũng làm hệt như vậy với những tập hợp di vật khảo cổ học (Lương Chử, …v.v). Lý Huy còn kết nối các nhóm tộc người đương đại với các nhóm tộc người trong quá khứ, một thứ mà các học giả ở nơi khác, chẳng hạn Bắc Mỹ đã phản bác nhiều thập kỷ nay.
Rõ ràng là Lý Huy đã làm đúng cái thứ mà các học giả bên ngoài Trung Quốc đã thải hồi, tôi chắc chắn rằng bài viết này không bao giờ có thể được chấp nhận công bố tại một nơi như Bắc Mỹ, thế nhưng Lý Huy đã công bố ở Bắc Mỹ.
Đặc biệt là ông viết một bài về một chủ đề tương tự – Paternal Genetic Affinity between Western Austronesian and Daic Populations – Mối quan hệ Di truyền dòng cha giữa người Nam đảo phía Tây và các cư dân Daic – đã được công bố trong tạp chí BMC Evolutionary Biology. Thực ra thì Lý Huy là một trong số vài tác giả của bài viết này, nhưng rõ ràng là ông đã cùng những người khác tiến hành “các nghiên cứu di truyền phân tử”, còn ông thì “đã tham gia vào thiết kế nghiên cứu và [cùng những người khác] thực hiện các phân tích thống kê”, ông đã giúp thu thập mẫu, và ông “đã đọc và duyệt bản thảo cuối cùng”.
Không giống với bài viết được công bố ở Trung Quốc, bài viết này có thêm các chú dẫn, phương pháp luận được giải thích rõ ràng, và bài viết không sử dụng các thuật ngữ như Nam Việt, Mân Việt, Âu, …v.v. Nó hoàn toàn khác với loại nghiên cứu (kể cả nội dung và tính chất), cho dù về cơ bản nó vẫn cùng một chủ đề.
Rất đáng chú ý là bài viết này chú thích rằng [顧問主席* cố vấn chủ tịch] “tư vấn trưởng” của Communication on Contemporary Anthropology Truyền thông Nhân học Hiện đại là 金力* Li Jin, Kim Lực, một nhà di truyền học chuyên về các xác ướp vùng thung lũng 吉林* Cát Lâm [Tarim] thì lại không nhất quán. Ông đã nói về một “nòi giống Đông Á” mà người ta phát hiện được trong DNA của các xác ướp này trong một vài bối cảnh, nhưng lại không có trong bối cảnh công bố ở Bắc Mỹ (Blog này [2] có nói về vấn đề này ở một mức độ nào đó).
Vậy thì điều gì đang diễn ra ở đây? Có phải các học giả Trung Quốc đang lá mặt lá trái? Hay đây chỉ là cái mà họ phải làm để tồn tại?
Quỹ học bổng mới đề xuất mà tôi đã nhắc đến ở đầu bài viết này là một cái gì đó mà tôi tin chắc là chính phủ Trung Quốc muốn làm liều. Khi nó đến với giáo dục và học thuật thì trong thời buổi khó khăn này, các quốc gia ở châu Á đang phải hết sức cố gắng để đạt được thứ hạng và uy tín. Nhưng trong trường hợp Trung Quốc và một vài nơi khác nữa, điều này vẫn đang diễn ra trong một xã hội mà cùng một lúc người ta phải ra sức kiểm soát giáo dục và học thuật.
Vì vậy tôi tự hỏi phải chăng hai bài viết của Lý Huy chính là dấu hiệu về một nơi mà toàn bộ điều đó đang diễn ra. Các học giả Trung Quốc sẽ có các công trình nghiên cứu chất lượng đủ khả năng công bố ở các nơi như Bắc Mỹ, Australia và Anh thì đồng thời ở nhà họ cũng lại trình ra rác rưởi.Tất cả câu truyện này dường như quá vô lý. Người ta trưởng thành bằng cách học rác rưởi, và sau đó sẽ lại phải gạt bỏ những thứ rác rưởi đã học, sao cho có thể học được một điều gì đó mới mẻ đến mức họ có thể tạo ra được một nền học thuật “tầm cỡ quốc tế”. Nhưng đồng thời với việc hành động như vậy, họ lại vẫn phải nhớ đến thứ rác rưởi mà họ đã trưởng thành cùng, vì họ sẽ vẫn phải trình thêm rác rưởi nữa ở nhà.
Cần phải cải thiện tình trạng đó.
___________________________
Nguồn: Duplicity in Chinese Scholarship? Trên http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/21/.
Chú thích:
1. Đó là bài: Lý Huy 2013, Cội nguồn chung của các cư dân Nam Đảo và Daic,http://Kattigara-Echo.blogspot.com/Thứ ba, ngày 19 tháng ba năm 2013.
[2] Bài dẫn: Almost Lost in Translation; trên bloghttp://languagelog.ldc.upenn.edu/nll/?p=2347; May 23, 2010 @ 10:32 pm · Filed by Victor Mair under Language and politics, Lost in translation.
Ghi chú của người dịch:
1. Bài viết của tác giả có ba hình ảnh và biểu đồ, bạn đọc có thể tham khảo trong bản gốc tại trang http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/21/.
* Các từ có dấu sao là do tôi chú thêm vào để biết rõ một số địa danh, tộc danh và tên người Trung Quốc vốn dễ bị lầm, lẫn nếu chỉ có phiên âm Latin.
Bản dịch 2:

Kiểu hai mặt trong học thuật Trung Quốc

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Hôm qua tờ New York Times có đăng một bài báo về một [quỹ] học bổng mới đang được lập ra để khuyến khích những người không phải người Trung Quốc đến nghiên cứu ở Trung Quốc.

“Ông trùm ngân quỹ tư nhân, Stephen A. Schwarzman, được hậu thuẫn bởi một loạt các công ty blue-chip hầu hết đến từ phương Tây có lợi ích ở Trung Hoa, đang lập ra một [quỹ] học bổng khoảng 300 triệu đô la Mỹ cho việc nghiên cứu ở Trung Quốc mà ông hi vọng sẽ cạnh tranh uy tín và ảnh hưởng với [quỹ] học bổng Rhodes.

[Quỹ] học bổng Rhodes là một [quỹ] học bổng có uy tín tài trợ cho việc nghiên cứu ở Đại học Oxford. Vậy liệu sự thành lập một học bổng mới có cho thấy rằng các công trình của các học giả ở Trung Quốc giờ có cùng đẳng cấp với các công trình của các đồng nghiệp ở những nơi như Vương quốc Anh? Liệu các học giả Trung Quốc ngày nay đã có thể trở thành những tay chơi bình đẳng trong giới học thuật (scholarship) quốc tế (theo bất kì nghĩa nào của từ “scholarship”)?

Tôi đang băn khoăn về điều đó khi sáng nay tôi vào blog Tiếng vọng Kattigara [http://kattigara-echo.blogspot.com/2013/03/coi-nguon-chung-cua-cac-cu-dan-nam-ao.html] và thấy ở đây có đăng một bản dịch một bài báo do Lý Huy, một giáo sư ở Đại học Phúc Đán, viết với tiêu đề “Nguồn gốc chung của các cư dân nói tiếng Đa Đảo và nói tiếng Đồng Đài” 侗台语与南岛语人群的遗传同源性 [http://comonca.org.cn/Abs/2011/028.htm]. Đây là một tham luận hội thảo được xuất bản trong một tạp chí có tên là Hiện đại nhân loại học thông tấn (Thông tin nhân chủng học đương đại), “một tạp chí mở và bình đẳng dành cho cả các tác giả chuyên nghiệp lẫn phổ thông.”

Tôi khá hứng thú muốn gắng tìm hiểu xem làm cách nào nhiều giống người khác nhau, ngày nay sống ở Đông Nam Á, đã đến nơi đó, và họ đến từ nơi nào,v.v… vì vậy tôi quyết định đọc bài báo này. Lời tóm tắt khẳng định rằng: “Trong bài viết này, chúng tôi tìm thấy một mối quan hệ gần gũi giữa người Đa Đảo và người Đồng Đài ở phía Nam của Đông Á, và dựng lại nguồn gốc phát sinh của 2 nhóm cư dân này bằng việc sử dụng các nhiễm sắc thể Y dòng cha và DNA phân bào dòng mẹ”.

Vậy là, nó là một bài viết dùng thông tin thu được từ DNA để kiểm xét quá khứ. Tôi không biết nhiều về điều này, vì vậy tôi không thể thực sự đánh giá được kiểu học thuật này, nhưng dù sao tôi vẫn quyết định đọc bài báo này.

Khi tôi thực sự đọc vào bài báo, tôi thấy rằng nó chẳng có chú thích, chẳng tài liệu tham khảo, và cũng chẳng có sự thảo luận về phương pháp nào. Đồng thời nó lại cực kì chi tiết. Đây là một ví dụ:

Trong khoảng thời gian từ 5000 đến 3000 năm trước người Mân Việt ở Phúc Kiến và Nam Việt ở Quảng Đông đã phân cực và sinh ra một số nhóm mới di cư khỏi vùng hạch. Các nhóm cư dân này thường được gọi là người Âu, có nghĩa là người ngoài. Thực ra thì người Đông Âu đã di cư theo hướng bắc ra ngoài nhóm Mân Việt đến nam Chiết Giang, còn người Tây Âu chuyển về phía tây, đi khỏi nhóm Nam Việt đến Quảng Tây. Người Tây Âu hòa hợp với người Lạc Việt và trở thành tổ tiên của người Tráng-Thái. Cũng trong khoảng thời gian đó, nhóm Kadai [仡央 Ngật Ương] di chuyển theo hướng tây bắc đến Quý Châu và tạo dựng nên một vài vương quốc chẳng hạn như Dạ Lang. Họ đồng hóa một số lớn cư dân bản địa là người 百濮 Bách Bộc ở đó, vốn nói tiếng mẹ đẻ là nguyên Nam Á [Proto-Austro-asiatic]. Các phát hiện này đã được xác định dựa trên cơ sở sự lưỡng phân trong cấu trúc di truyền của người Kadai [仡央 Ngật Ương]” (Hà Hữu Nga dịch).

Đây là một đoạn cực kì có vấn đề. Lý Huy hoàn toàn không có phê phán gì khi sử dụng tên các thể chế và các nhóm cư dân mà chúng ta có thể thấy trong các văn bản cổ, như Nam Việt và Âu (Âu có nghĩa là “người xa lạ”? Đối với ai? Làm thế nào chúng ta biết được?). Ở những chỗ khác, ông ta cũng làm như thế với những bộ sưu tập các di vật khảo cổ (chẳng hạn: Liangzhu,…). Lý Huy cũng kết nối những nhóm sắc tộc hiện nay với những nhóm cư dân quá khứ, một việc mà các học giả ở những nơi như Bắc Mỹ đã phản bác hàng thập kỉ nay.

Cho rằng Lý Huy rõ ràng đã làm những điều mà các học giả ngoài Trung Hoa từ bỏ, tôi chắc bài này sẽ không bao giờ có thể được đăng ở một nơi như Mỹ, nhưng rồi Lý Huy đã công bố nó ở Bắc Mỹ.

Cụ thể là, ông ta đã viết một bài báo về cùng một chủ đề – “Sự gần gũi về gen đằng cha giữa cư dân Đồng Đài và người Tây Đa Đảo” [http://www.biomedcentral.com/1741-7007/8/15] – đã được đăng ở tạp chí BMC Evolutionary Biology. Trên thực tế, Lý Huy là một trong một vài tác giả của bài báo này, nhưng rõ ràng ông ta đã làm việc với những người khác để cho ra “những nghiên cứu gen phân tử”, ông ta “đã tham gia vào sự thiết kế một nghiên cứu và [cùng với những người khác] thực hiện sự phân tích có thống kê”, ông ta giúp chọn những mẫu, và ông ta “đọc rồi duyệt bản thảo cuối cùng”.

Không giống như bài báo xuất bản ở Trung Quốc, bài bào này có những chú thích chi chít, phương pháp luận được giải thích rõ ràng, và nó cũng không dùng các khái niệm cổ như Nam Việt, Mân Việt, Âu,v.v… Đây là một kiểu nghiên cứu hoàn toàn khác (cả ở nội dung và chất lượng), mặc dù về bản chất nó viết về cùng chủ đề.

Ở đây có điều thú vị đáng lưu ý là “cố vấn trưởng” của tờ Hiện đại nhân loại học thông tấn chính là Li Jin, một nhà di truyền học, có công trình về những xác ướp từ Thung lũng Tarim (Cát Lâm), cũng không nhất quán [khi công bố các kết quả nghiên cứu]. Ông ta bàn về một “nòi giống Đông Á”, mà người ta có thể nhận thấy trong DNA của các xác ướp này, trong một số dịp, nhưng không đề cập đến điều đó trong dịp ông công bố nghiên cứu ở Bắc Mỹ (bài viết trên blog này  http://languagelog.ldc.upenn.edu/nll/?p=2347 nói về chủ đề này và rộng hơn).

Vậy cái gì đang diễn ra ở đây? Có phải các học giả Trung Quốc có tính hai mặt? Hay liệu đó chỉ là cái mà họ phải làm để tồn tại?

Quỹ học bổng mới được đề xuất mà tôi đề cập ở đầu bài viết này là cái mà tôi chắc chính phủ Trung Quốc muốn chí chết. Khi quỹ học bổng đến với giáo dục và học thuật, các quốc gia ở châu Á đang cố gắng khá ráo riết những ngày này để giành được sự xếp hạng và uy tín [quốc tế]. Nhưng trong trường hợp Trung Quốc, và một số nơi khác, điều này đang diễn ra trong một xã hội mà cùng một lúc người ta phải vất vả để kiểm soát giáo dục và học thuật.

Vì vậy, tôi đang băn khoăn liiệu hai bài báo của Lý Huy có phải là một chỉ dấu của cái nơi mà mọi thứ như thế đang diễn ra. Các học giả Trung Quốc sẽ tạo ra các nghiên cứu mạnh sẽ được đăng tải ở những nơi như Bắc Mỹ, Úc và Vương quốc Anh, cùng lúc đó họ sẽ công bố cái rác rưởi ở quê nhà.

Tất cả những điều này khá là luẩn quẩn. Người ta trưởng thành bằng việc tiếp thu cái rác rưởi, và rồi đến một thời điểm nào đó, sẽ phải thôi học những cái họ đã tiếp thu, để rồi họ có thể học cái gì đó mới mẻ khiến cho họ có thể tạo ra [sản phẩm] học thuật “chất lượng quốc tế”. Nhưng cùng lúc họ làm như thế, họ sẽ vẫn phải nhớ cái rác rưởi mà họ đã tiếp thu để trưởng thành bởi vì họ sẽ vẫn phải công bố nhiều thứ rác rưởi hơn nữa ở quê nhà.

Ở đó cần phải có một lối đi tốt hơn.

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/21/duplicity-in-chinese-scholarship/

%d bloggers like this: