Archive | Quan hệ Việt Trung RSS feed for this section

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

26 Oct

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Có một thuyết xuất hiện ở đầu thế kỉ 20 cho rằng ở cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch, người Việt đã di cư đến đồng bằng sông Hồng từ quê hương gốc ở một vùng mà ngày nay là Đông Nam Trung Quốc.

Ý tưởng này đầu tiên do Edouard Chavannes đề xuất vào năm 1901, rồi sau đó được Leonard Aurousseau phát triển thêm vào năm 1923. Ngày nay thuyết này không còn được tin, mặc dù người ta vẫn có thể thấy nó được đề cập đến. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là nhiều người biết vì sao thuyết này vô nghĩa.

Ở Việt Nam thời hậu thuộc địa, lí thuyết này dần bị bác bỏ vì bị xem là “mang tính thực dân”, tôi đoán vậy bởi nó khẳng định rằng người Việt đến từ một nơi bên ngoài Việt Nam. Tuy nhiên  tôi không thấy việc khẳng định rằng kiểu học thuật đó là “mang tính thực dân” giải thích được gì nhiều.

Vâng, có những vấn đề với học thuật của Chavannes và Aurousseau, nhưng tôi không quy những vấn đề đó cho quan điểm “thực dân”. Thay vào đó, những vấn đề đó đôi khi phụ thuộc vào kiểu học thuật cẩu thả, và hơn nữa là vào cái mà tôi gọi là một phương pháp luận sơ hở, mà chúng ta có lẽ có thể gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nhìn nhận quá khứ.

cover1

Trong một cước chú ở tập 4 (a footnote in the fourth volume) của bản dịch 5 tập cuốn Sử kí của Tư Mã Thiên, Edouard Chavannes đưa ra thuyết rằng “chủng tộc An Nam” là hậu duệ của dân một vương quốc Việt cổ. Vương quốc đó chiếm cứ một khu vực ngày nay là phần phía bắc của tỉnh Triết Giang, và nó bị nước Sở tiêu diệt ở thế kỉ IV trước Công nguyên.

Sau đó, theo  Chavannes, có nhiều chính thể hình thành từ những “mảnh vỡ” của nước Việt, như Nam Việt ở khu vực ngày nay là Quảng Đông, Mân Việt ở tỉnh Phúc Kiến ngày nay, và Việt Đông Hải ở tỉnh Triết Giang ngày nay.

vol-4-page-418

Chavannes cho rằng “những nước này chắc chắn có liên hệ với chủng tộc An Nam”, và ông đưa ra hai chứng cứ để củng cố tuyên bố này.

Thứ nhất, ông trích dẫn cuốn Lịch sử An Nam (Cours d’histoire annamite) của Trương Vĩnh Kí để khẳng định rằng các sử gia An Nam xem “Nam Việt Vương” là đã dựng nên triều đại thứ ba của “An Nam”.

Thứ hai, ông lưu ý rằng kinh đô của nước Việt Đông Hải là Đông Âu (nghĩa đen Âu phía Đông), và rồi trích dẫn cuốn Nghiên cứu lịch sử và khảo cổ của Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc cổ [Étude historique et archéologique sur Co-Loa, capitale de l’ancien royaume de Âu Lc (255-207 av. J.-C.) (Paris, E. Leroux, 1893)] của Gustave Dumoutier, để nhắc rằng các sử gia An Nam cho rằng có một nước An Nam có tên Tây Âu (nghĩa đen, Âu phía Tây) có kinh đô là Cổ Loa ở đồng bằng sông Hồng.

Dựa trên những thông tin trên, Chavannes kết luận rằng Đông Âu, Nam Việt và Tây Âu đều là bộ phận của một chủng tộc An Nam đơn nhất.

dumoutier

Có nhiều vấn đề  với ý tưởng này của Chavannes. Trước hết, “Nam Việt Vương” mà Chavannes nhắc đến là Triệu Đà và hậu duệ của ông, những người ít nhất có nguồn gốc thuộc sắc tộc Hán như chúng ta gọi ngày nay, tức là, những người đến từ các vùng phương Bắc (Triệu Đà là người Hà Bắc), và không phải là thành viên của cư dân bản địa trong khu vực này, hay có liên hệ với những nhóm dân từ nước Việt cổ. Vì vậy thực tế nước này trở thành một phần của truyền thống lịch sử Việt không có nghĩa nó tương đồng “về chủng tộc”.

Thứ hai, trong công trình nghiên cứu năm 1893 về thành cổ Cổ Loa, Gustave Dumoutier khẳng định rằng “[sách] địa lí của Cố Hi Phùng顧nói rằng dưới triều nhà Chu, nước bị Giao Chỉ chiếm cứ được gọi là Lạc Việt, và dưới triều Tần tiếp theo nó lấy tên là Tây Âu hay Âu Lạc” (tr.8).

Cố Tây Phong là Cố Dã Vương顧野王(518-581), tác giả của một công trình thế kỉ 6 có tên Dư địa chí (Yudi zhi 輿地志), và đoạn văn mà Dumoutier dẫn ra được đề cập trong một bản chú giải thế kỉ 8 cho Sử kí của Tư Mã Thiên. Đây là những gì nó viết:

Dư địa chí chép: Giao Chỉ ở thời Chu là Lạc Việt, đến thời Tần gọi là Tây Âu, Họ xăm mình, cắt tóc để tránh rồng rắn. Thế thì Tây Âu Lạc lại ở phía Tây Nam của Phiên Ngô. Việt và Âu Lạc đều có họ là Mị/Mi”. [輿地志云:交趾周時為駱越,秦時曰西甌,文身斷髮避龍。則西甌駱又在番吾之西南。越及甌駱皆羋姓也。]

shiji

 

Đoạn văn này rất không rõ ràng ở chỗ nó có nhiều danh xưng. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Dumoutier đã “giản hoá” nó bằng việc nói rằng khu vực ngày nay là đồng bằng sông Hồng ở thời nhà Tân được gọi là Tây Âu hay Âu Lạc.

Dumoutier thực sự không nói rằng Cổ Loa là kinh đô của Tây Âu. Và ông cũng không nói rằng các sử gia An Nam đã nói như thế. Tuy nhiên, đây là điều mà Chavannes đã nói trong sách của mình (bằng việc trích dẫn trang 8 sách của Dumoutier).

Vậy là dứt khoát có loại học thuật cẩu thả ở đây. Tuy nhiên, hơn thế nữa, những ý tưởng mà Chavannes trình bày cũng có vấn đề. Đầu tiên, ông đánh đồng địa danh (hoặc tên các nước) với chủng tộc. Song le, nếu chúng ta đang dùng quan niệm về chủng tộc để xem xét quá khứ thì chúng ta biết rằng Triệu Đà thuộc về một “chủng tộc” khác (tôi nghĩ Chavannes đang dùng thuật ngữ “chủng tộc” để nói về cái gì đó gần hơn với khái niệm mà chúng ta ngày nay gọi là “nhóm sắc tộc”) với nhiều nhóm dân cư mà ông cai trị trong nước Nam Việt của mình, vì vậy thực sự là vô nghĩa khi đánh đồng địa danh với các chủng tộc đơn nhất.

Thêm nữa, chỉ có mỗi một nguồn tư liệu mà chúng ta có thể dùng để khẳng định rằng đồng bằng sông Hồng ở thời Tần được gọi là Tây Âu (cuốn Dư địa chí của Cố Dã Vương), nhưng một là, văn bản này được viết nhiều thế kỉ sau đó, hai là, biết rằng văn bản này chứa đựng khác nhiều danh xưng khác nhau, khó mà thấy rằng từ “Tây Âu” thực sự có ý nghĩa.

Tuy nhiên, đối với Chavannes, từ “Tây Âu” rất quan trọng, như thể nó đóng vai trò một bản sao của từ Đông Âu.

nodes-and-links

Điều này đem chúng ta đến cái mà tôi gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nghiên cứu quá khứ. Nếu chúng ta xem xét quá khứ theo cái cách Chavannes trình bày các ý tưởng của mình, thì nó cứ như thể ông đang khám phá một mạng lưới ẩn các điểm nút và đường nối trong ghi chép lịch sử.

Các chính thể – Việt, Nam Việt, Tây Âu – cũng như thành, Đông Âu, đều đóng vai trò những nút mà Chavannes sau đó khám phá ra các đường nối để nối chúng.

Đông Âu và Tây Âu được nối với nhau bởi từ chung là “Âu”, cũng giống như việc cặp đôi “tây” và “đông”.

Tây Âu và Nam Việt được nối với nhau bởi thực tế là các sử gia Việt xem Nam Việt là triều đại thứ ba trong sử của họ.

Và rồi khi mà Nam Việt được nối với Tây Âu, và Tây Âu được nối với Đông Âu, thì có vẻ như đối với Chavannes rõ ràng là Việt phải là bộ phận của đường nối này.

map

Tôi đã nhận thấy rằng các học giả như Henri Maspero cũng khảo sát quá khứ theo một lối tương tự. Đối với tôi, lối tiếp cận này quá rắc rối, và nó sẽ sụp đổ một khi người ta bắt đầu chỉ ra những vấn đề liên quan đến một số đường nối trong mạng lưới đó.

Vì vậy thuyết mà Chavannes đưa ra vào năm 1901 này có ít nhất 3 vấn đề liên quan:

  • Nó chứa đựng một số lỗi do cẩu thả.
  • Nó có vấn đề khi đánh đồng chủng tộc với địa danh.
  • Nó áp dụng một lối tiếp cận khi khảo sát quá khứ không hiệu quả nhằm việc diễn giải quá khứ.

Trong khi thuyết mà Chavannes đưa ra này có những giới hạn như thế, như tôi đề cập ở trên, thì năm 1923 Leonard Aurousseau phát triển nó xa hơn, Tuy nhiên, trong quá trình này, Aurousseau không đính chính những sai lầm này trong thuyết của Chavannes. Tôi sẽ cố gắng viết về công trình của Aurousseau một lúc nào đó sơm sớm.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/25/the-yueviet-migration-theory-and-the-hidden-network-approach/

Việc nhìn nhận của người Việt về sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ

24 Oct

Việc nhìn nhận của người Việt về sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Một độc giả có hỏi: ý niệm cho rằng thời gian một ngàn năm khi Đồng bằng sông Hồng là mộ bộ phận của các đế chế “Trung Hoa” khác nhau có thể được nhìn nhận như là cái gì đó đại loại như “một ngàn năm bị người Trung Hoa thống trị” [xuất hiện] ở đâu? Đó là một câu hỏi thú vị bởi vì trong các văn bản lịch sử của người Việt từ trước thế kỉ 20, thời kì này đơn giản được gọi là thời kì “Bắc thuộc”, một từ không có những ý nghĩa như là “thống trị” hay “thực dân”, những nghĩa sẽ được gắn với giai đoạn đó ở thế kỉ XX.

Vậy cái nhìn quá khứ đó đến từ đâu?

cover

Tôi vẫn chưa chắc chắn, nhưng tôi thấy quá khứ được trình bày theo cách đó trong một cuốn sách xuất bản năm 1910 có tên On & Off Duty in Annam (tạm dịch: Bận rộn ở An Nam) của Gabrielle M..Vassal, bà vợ người Anh của một bác sỹ quân y người Pháp ở Đông Dương từ 1907 đến 1910.

Khó để xác quyết Vassal đã lấy tri thức về lịch sử Việt Nam từ đâu. Có những khía cạnh trong đó ngày nay đã không còn được tin nữa, nhưng là điều đã được nhiều tác giả người Pháp khác nhau viết cho đến lúc bấy giờ – chẳng hạn thuyết cho rằng người Việt là bộ phận của một chủng tộc có dấu hiệu đặc trưng là ngón chân cái choãi ra (Giao Chỉ), và ý tưởng cho rằng đã có hai nhóm dân ở Đồng bằng sông Hồng vào thời cổ đại cạnh tranh với nhau (một số tác giả người Pháp đã diễn giải câu chuyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh theo cách này).

Tuy nhiên, có những ý tưởng khác mà Vassal có mà có vẻ như là hoặc sự sáng tạo của chính bà (như ý tưởng của bà rằng triều Hồng Bàng đã cai trị nước “Qui” (những con quỷ ngoại lai)”, một cách diễn giải thú vị ý nghĩa tên của đất nước huyền thoại Xích Quỷ). Dù sao, chúng ta hãy xem điều mà viết về thời sơ sử của người Việt, hay “người An Nam”, như bà gọi.

12

“Người An Nam là hậu duệ của người nước Giao Chỉ – từng được thiết lập ở miền Nam Trung Quốc. Giao Chỉ có nghĩa là ngón chân cái choãi ra; đây là một nét riêng biệt mà người An Nam chưa đánh mất, và cái giúp họ sử dụng ngón chân cái của họ theo một cung cách khéo léo nhất. Nước Giao Chỉ có thể được lần ngược tới thời cổ đại xa xôi nhất. Gần 3000 năm trước thời đại chúng ta, họ đã chiếm cứ Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Kỳ.

“Một hoàng tử Trung Hoa đã gửi con trai mình là Lộc Tục xuống cai trị Giao Chỉ. Đó là gốc gác của triều Hồng Bàng, triều đại cai trị nước Qui (những con quỷ ngoại lai) đó khoảng hơn 2000 năm. Chỉ đến thế kỉ III trước Công lịch chúng ta mới có thể thấy rõ thời đại truyền thuyết đó.

“Lúc bấy giờ những cuộc đấu đá nội bộ đã chia nước Giao Chỉ ra làm hai phần: nước Văn Lang cho những người ở đồng bằng và hạ du, nước Thái cho những người ở miền đồi núi. Trung Quốc nắm cơ hội đó thiết lập một triều đại mới của người Trung Hoa. Vào năm [nào đó] trước Công lịch, nó đã xâm chiếm nước này và giữ quyền cai trị cho đến năm 968 sau Công lịch. Người An Nam vì vậy chịu sự cai trị của các quan lại Trung Quốc, những người giáo đưa họ đến với nền văn minh Trung Hoa trong hơn một thiên niên kỉ. Văn học và mã luân lí của Khổng Tử đã định hình rõ tư tưởng và tôn giáo của người An Nam. Việc tinh thần dân tộc của họ vẫn sống được khẳng định từ thời này qua thời khác trong những cuộc khởi nghĩa liên tục và những cuộc nổi dậy anh hùng chống lại những kẻ xâm lược họ. Từ năm 39 đến 36 trước Công lịch, một phụ nữ An Nam, sau khi tuyên bố độc lập cho nước mình, đã đánh bật người Trung Quốc ra [khỏi An Nam] một thời gian, và cai trị dưới vương hiệu Trưng Vương.

“Nhưng tình hình không còn như vậy ở giữa thế kỉ X khi người nước ngoài bị đánh đuổi và triều đại dân tộc đầu tiên được thiết lập” (5-6).

22

Rồi Vassal tiếp tục nói về người Chăm và những dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, hay dân tộc mà bà gọi là “Mois” [Mọi?] như sau:

“Tự cầm đầu một đội quân 260.000 người, [Lê Thánh Tông] tấn công vào kinh đô của người Chăm và tiêu diệt họ. Trong 15 thế kỉ, người Chăm đã định cư ở một phần lớn của nước An Nam. Với tư cách là đại diện của nền văn minh Hindoo, họ đã để lại những công trình đáng chú ý gợi nhớ quá khứ huy hoàng của mình. Chỉ một số ít người sống sót hiện vẫn ở đó. Sự huỷ diệt nhanh chóng một chủng tộc văn minh và mạnh mẽ này của người An Nam là một vấn đề bắt nguồn từ lợi ích tối thượng”.

“Người Mois, mặt khác, đã sống sót qua những nhiễu loạn và những cuộc cách mạng trong lịch sử của đất nước. Dạt về phía những vùng rừng núi xa xôi của An Nam, họ đã giữ lại được những tập tục thời nguyên thuỷ của mình. Một bộ sưu tập không thống nhất những bộ tộc khốn khổ có thể được tìm thấy ở đó, những người đã dâng hiến tất cả cho tình yêu tự do của mình. Ở tất cả các sự kiện, họ đã thành công trong trong việc chiếm giữ những vùng nội địa mênh mông, thứ tài sản mà những láng giềng của họ thấy không đáng chiếm giữ khi tranh chấp với họ”(7).

32

Cách miêu tả quá khứ của Vassal phản ánh rất nhiều cách mà những người châu Âu có học nhìn nhận thế giới lúc bấy giờ (cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20), cái giai đoạn quan mà chúng ta có thể gọi là thời kì đỉnh cao của chủ nghĩa đế quốc.

Câu chuyện về “các dân tộc” và “các chủng tộc” đã chiến đấu vì “tự do” hoặc đối diện với “sự huỷ diệt” hay “thống trị”, và sự đối lập giữa các dân tộc “văn minh” và “nguyên thuỷ” là những biểu ngữ thuộc về thế giới quan của Tiến hoá luận xã hội đương thời.

Chúng ta không thể thấy cái quá khứ được trình bày như thế trong các văn bản do người Việt viết trước thế kỉ 20. Tuy nhiên, trong thế giới phương Tây lúc bấy giờ, người Trung Quốc thường được miêu tả bằng những lời lẽ tiêu cực, và được nhìn nhận như là đang lăm le giày xéo các vùng khác nhau bên ngoài Trung Quốc, như Philippines, Mỹ và Hawai:

“Nỗi lo sợ về một cuộc xâm chiếm của người châu Á không phải là một con ngáo ộp cũng không phải là một sự mê tín. Nó là một nguy cơ đe doạ và hiện hữu. Kỉ nguyên mới của Trung Quốc có nghĩa là kỉ nguyên của sự di cư một phần trong hàng triệu người đông đúc của nó. Tổ ong Mông Cổ tụ thành bầy. Chúng ta phải đuổi họ khỏi Mỹ hoặc họ sẽ tàn phá nền văn minh của chúng ta như những con châu chấu tàn phá mùa màng”. (Hawaii và người Trung Quốc, The San Francisco Call, October 24, 1897, page 6)

41

Vassal không có một cái nhìn tiêu cực như thế về người Trung Quốc, nhưng những bình luận trung tính của bà vẫn miêu tả người Trung Quốc như là có khả năng giày xéo đất nước ngoài, như Việt Nam:

“Người Trung Quốc cứ tự nhiên rất nhiều ở Đông Dương, sau nhiều thế kỉ họ giành được một vị trí hiếm có ở đây, và được gọi bằng một danh hiệu tôn trọng là “cai-chu” (các chú)(*). Trong tương quan với người An Nam, họ, như lợi thế họ có được, đều tỏ ra vượt trội một kín đáo hoặc xấc láo. Trừ ở Bắc Kì, họ nắm giữa toàn bộ hoạt động buôn bán nhỏ. Họ là những chủ hiệu vô địch, hiến mình cho công việc, thong minh, trung thực, và rất là đoàn kết với nhau. Họ không cày cấy ở đồng lúa, nhưng họ giữ độc quyền buôn bán gạo, xây dựng các nhà máy để xát lúa, thuê tàu để xuất khẩu nó… Họ có lẽ là những kẻ thực dân tốt nhất ở Đông Dương, và là những người kiếm được lợi lớn nhất. Có thể không có đòi hỏi phải đuổi họ trong hiện tại như người Mỹ đã làm ở Philippines (Đạo luật cấm người Trung Quốc). Người Pháp chỉ đơn thuần hạn chế sự nhập cư của người Trung Quốc bằng cách tăng các loại thuế của các Con Giời(**), để tái thiết lập lại sự hài hoà để ủng hộ người An Nam” (3).

51

Nói khác đi, theo Vassal, chỉ nhờ việc đánh thuế người Trung Quốc của người Pháp (và sự miễn cưỡng đóng thuế của người Trung Quốc) mà Đông Dương không bị người Trung Quốc tràn lấn, có liên quan đến việc làm nghiêng sự cân bằng chống lại người An Nam.

Thêm nữa, Vassal không đưa ra bất kì chỉ dấu nào cho thấy người Việt Nam cảm thấy bất cứ sự thù oán nào với người Trung Quốc. Bà đưa ra những ví dụ ở phần sau của cuốn sách (157-158) về việc người Trung Quốc đã thành công thế nào lúc bấy giờ trong việc khiến người Việt Nam đánh bạc mất sạch tiền, và bà nhiều lần cho thấy qua cuốn sách của mình việc người Trung Quốc đã làm thống trị như thế nào về kinh tế, nhưng bà không đề cập đến bất kì sự oán giận nào đối với người Trung Quốc vì bất kì việc gì như thế.

Cái nhìn của Vassal dĩ nhiên chỉ là một cái nhìn. Tuy nhiên, tôi nghĩ dễ dàng nhận ra việc làm thế nào bà có xu hướng nhìn nhận quá khứ theo cách đó. Bà đang sống trong một thế giới mà những vùng đất đang bị xâm chiếm và thực dân, và bà sống ba năm ở một thuộc địa của Pháp, nơi mà bà bị vây quanh bởi những chứng cứ cho thấy sự thống trị về kinh tế của người Trung Quốc.

Thêm vào đó là một thực tế Tiến hoá luận xã hội là một thế giới quan phổ biến lúc bấy giờ, và tôi nghĩ dễ hiểu được việc những người như Vassal sẽ nhìn sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ của Việt Nam như thế nào.

Về việc người Việt Nam rốt cuộc đi đến nhìn nhận sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ như thế nào, tôi vẫn chưa chắc chắn, khi mà một năm sau khi Vassal xuất bản cuốn sách của mình, học giả Việt Nam Ngô Giáp Đậu đã viết về vai trò của người Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam rất khác.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/21/seeing-chinese-domination-in-the-vietnamese-past/#comments

Chú thích

(*) Độc giả Riroriro cho biết : “Cai-chu”, [hiểu là] chú  có lẽ là bị hiểu nhầm: “cai-chu đọc Nôm là “cách chú” còn Hán Việt là “khách trú” ( khách (客 guest ) trú ( 駐 s) ) có nghĩa là “người khách tạm thời”, chứ không có ý tôn trọng gì cả; trú đồng âm với chú  (nghĩa Nôm là “chú”).

(**) Nguyên văn Celestials: Ông Hà Hữu Nga cho biết: Celestials chỉ Thiên Tử, người Hoa Hạ. Trong tiếng Việt có từ “con giời/con trời” có lẽ dịch từ này với nghĩa châm biếm. Ở đây chúng tôi chọn dùng từ này. Xin cảm ơn ông Hà Hữu Nga đã chỉ giúp!

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

13 Jun

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Giờ đã là hè. Đã đến lúc tôi phải nghỉ post bài lên blog này. Vì vậy tôi sẽ viết entry cuối này sau đó nghỉ cho đến tháng Tám.

Mấy tuần vừa rồi rất thú vị. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã di chuyển vào “Địa Trung Hải Đông Nam Á” một cách hùng hổ, và một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh một cuốn sách về nguồn gốc người Việt. Hai sự kiện này không nên bị gắn cho nhau, nhưng trên thực tế chúng đã bị như vậy, và đó là một vấn đề.

Gần đây một tác giả có tên là Tạ Đức đã viết một cuốn sách về nguồn gốc người Việt trong định vị nguồn gốc người Việt ở Trung Hoa và sách của ông đã được các học giả rất khác nhau là Trần Trọng Dương và Hà Văn Thuỳ, và nhận được một bài phê bình mang động cơ chính trị của Bùi Xuân Đính.

Image

Tôi đồng ý với những lời phê bình của Tạ Đức về các quan niệm của Hà Văn Thùy, nhưng cũng đồng ý với những lời phê bình của Trần Trọng Dương về công trình học thuật của Tạ Đức.

Rốt cuộc, Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ là 2 tác giả: 1) không có khả năng đọc các nguồn tư liệu nguyên cấp (Hán cổ), và 2) cũng không có khả năng hiểu các nguồn tư liệu tiếng nước ngoài – Pháp, Anh,v.v… Và khi dùng từ “hiểu”, tôi muốn nói rằng họ không thể đọc các nguồn tư liệu bằng tiếng nước ngoài và thẩm định được mức độ khả tín của các nguồn tư liệu đó (Tạ Đức đã chỉ ra điều này cho Hà Văn Thuỳ và tôi nghĩ tôi đã chỉ ra điều này cho Tạ Đức).

Image

Vì vậy cũng có những vấn đề với học thuật của cả Tạ Đức lẫn Hà Văn Thuỳ, nhưng vấn đề thực sự là ở chỗ không có triển vọng nghiêm túc cho học thuật của họ.

Cái nhìn “chính thức” về quá khứ của người Việt đã không thay đổi gì kể từ đầu thập niên 1970s. Sự diễn giải lịch sử Việt Nam được tiến hành lúc bấy giờ được tạo ra trong thời gian chiến tranh và có mục đích đưa người dân đến sự đoàn kết với nhau để bảo vệ và xây dựng quốc gia/dân tộc.

Đó là một nhiệm vụ rất quan trọng, và những sự diễn giải lịch sử trong thời gian đó phục vụ mục đích ấy tốt một cách khác thường.

Vấn đề hiện nay là Việt Nam không còn chiến tranh, và quốc gia/dân tộc đã được thiết lập. Hơn nữa, hàng nghìn công dân của nó giờ đây đang học tập ở nước ngoài và đã được nhìn thầy nhiều cách nhìn thế giới và quá khứ phức tạp hơn. Kết quả là, “câu chuyện cũ mèm” không thoả mãn được thế hệ trẻ.

Quan trọng hơn, phiên bản chính thống về quá khứ không đủ tinh vi để đối mặt với những sự phức tạp của hiện tại.

Image

Quá khứ phức tạp và hiện tại cũng phức tạp. Khi quá khứ được trình bày bằng những cách thức quá đơn giản (như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã làm cũng như sử học chính thống đã có) thì nó dẫn đến tình trạng rất khó cho người ta có thể dựa vào các phương pháp luận hiệu quả để ứng xử với hiện tại.

Không may cho Việt Nam, không có ai đang cố gắng để hình dung quá khứ theo những cách thức phức tạp. Các nhà sử học không chính thức như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã phổ biến những quan niệm quá giản đơn, mà các nhà sử học chuyên nghiệp vẫn im lặng (như Nguyễn Hòa đã lưu ý), hoặc đơn giản chỉ lặp lại những ý tưởng tương tự từng tồn tại từ thập niên 1970s.

Vấn đề là bây giờ đã là năm 2014, và thế giới giờ đây đã phức tạp hơn nhiều trước đó.

Image

Vậy là sau khi đã nói như vậy, bây giờ tôi sẽ đánh dấu năm 2014 bằng việc đến Borneo và xăm mình để “thoát Tàu” (thoát Trung) và trải nghiệm nền văn hoá Đông Nam Á “đích thực”.

Cảm ơn mọi người đã đọc và bình luận (hoặc ở đây hoặc ở facebook). Tôi hi vọng các bạn đã học được nhiều từ tôi như tôi đã học được từ các bạn. Và tôi mong sẽ tiếp tục cuộc đàm luận vào tháng Tám.

 

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

14 May

Nơi lịch sử và chủ quyền gặp nhau

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nhiều năm qua tôi đã tránh chủ đề về các hòn đảo ở biển Đông Nam Á, một phần bởi tôi không có chung hướng tiếp cập chủ đề này với nhiều người. Bài này qua bài khác, tôi thấy các tác giả đơn thuần chỉ nắm lấy những ý tưởng hiện tại về chủ quyền rồi phóng chiếu nó vào quá khứ.

Vì vậy, chẳng hạn, nếu một tấm bản đồ ở đầu thế kỉ XIX có một đường khuyên xoanh một số hòn đảo, thì người ta sẽ diễn giải nó là một chứng cứ cho thấy các đảo đó là một phần “lãnh thổ có chủ quyền” của một quốc gia.

Image

Dĩ nhiên, vấn đề là ở chỗ khái niệm chủ quyền không tồn tại ở châu Á vào thời gian đó. Và vâng, dĩ nhiên các vương quốc có lãnh thổ và các tấm bản đồ tồn tại, nhưng không có cái gì trong đó được hình dung bằng đúng cái cách giống như ngày nay.

Thay vào đó, người ta nghĩ cái cách họ nghĩ ngày nay về mảnh đất của họ là bởi họ đã du nhập nhiều ý tưởng từ phương Tây (bao gồm khái niệm chủ quyền). Sự chuyển dịch này được minh chứng rõ đối với trường hợp Siam trong cuốn Siam Maped của Thongchai Winichakul, nhưng sự chuyển dịch tương tự cũng xảy ra ở tất cả các khu vực khác của châu Á.

Image

Hơn thế, có một mức độ phức tạp được bổ sung đến từ một thực tế là cùng lúc với việc các ý tưởng đó được giới thiệu, một nơi như Việt Nam đã chuyển từ một thực thể vương quốc tiền hiện đại thành một phần của đế quốc thực dân Pháp, thành một phần của đế chế thời chiến Nhật Bản, thành một quốc gia độc lập, tất cả điều đó có tác động đến đường biên giới lãnh thổ thực tế cũng như cách thức lãnh thổ đó được hình dung (cuốn Going Indochinese: Contesting Concepts of Space and Place in French Indochina – Đến với người Đông Dương: Tranh luận về các khái niệm không gian và vị trí ở Đông Dương thuộc Pháp của Christopher Goscha xử lí một số phương diện của chủ đề này).

Image

Và câu hỏi trở thành là: Làm thế nào bạn xác định chủ quyền ngày nay từ hệ quả của tất cả những sự thay đội về chính trị và tri thức này?

Như tôi đã nói, điều nhiều người đã và đang làm chỉ là nắm lấy hiểu biết hiện tại về chủ quyền rồi tìm kiếm các chứng cứ ủng hộ ý tưởng rằng các hòn đảo ở ngoài biển “thuộc” về một “quốc gia” trong quá khứ.

Một độc giả trung thành gần đây khuyến khích tôi đọc cuốn Les Archipels de Hoàng-Sa et de Trường-Sa selon les Anciens Ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Géographie của Võ Long Tê. Tác giả đã làm rất tốt việc tập hợp tư liệu từ các nguồn trước thế kỉ XX có nhắc đến quần đảo Pracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa). Tuy nhiên, các phân tích của ông phần lớn theo cùng một logic với nhiều người ngày nay, tức là, sự tồn tại của các dẫn chiếu về các hòn đảo trong các nguồn tư liệu của Việt Nam chứng tỏ rằng chúng từ lâu đã là một phần của lãnh thổ quốc gia.

Điều tôi thấy thú vị hơn nữa ở cuốn sách này là thông tin mà Võ Long Tê đính kèm về những nỗ lực của người Pháp nhằm chứng minh rằng Paracels và Spratlys là một bộ phận của đế chế Pháp. Cụ thể, tác giả trích các thông cáo mà chính quyền Pháp đưa ra vào thập kỉ 1930s trong đó quy định rõ rang rằng các đảo đó là một phần của Đông Dương thuộc Pháp.

Image

Điều này thôi thúc tôi tìm kiếm thêm thông tin về giai đoạn này. Trong quá trình đó, tôi đã đọc được một bài báo thú vị năm 1933 của Oliver A. Saix trong đó nói về những nỗ lực trong một bộ phận người Pháp lúc bấy giờ nhằm sáp nhập quần đảo Paracels.

Để làm việc này, người Pháp đã làm 2 việc: 1) họ cố gắng để chứng minh rằng không có ai khác có một tuyên bố có giá trị về các đảo đó; 2) họ gửi cho một số người xem xét những nguồn tư liệu của Việt Nam trước thế kỉ XX nhằm tìm kiếm những chứng cứ cho thấy các đảo đó về mặt lịch sử là một phần của đế chế Việt.

Ở phương diện này, những gì người Pháp đã làm chính là những gì nhiều người Việt đang làm. Tuy nhiên thêm vào những hành động đó, người Pháp còn làm nhiều hơn. Thứ nhất, họ ra một thông cáo về yêu sách của họ đối với các đảo (như được trình bày chi tiết trong cuốn sách của Võ Long Tê), và thứ hai, họ gửi người đến lặng lẽ thiết lập sự hiện diện của chính quyền trên các đảo đó.

Image

Tôi nghĩ hai hành động sau này rất quan trọng, khi tôi vừa đọc một bài báo hôm nay của Hong Thao Nguyen có tên “Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim” (Vị trí của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: yêu sách biển của nó) trong đó tác giả chỉ ra  rằng trong khi xác định chủ quyền của các khu vực tranh chấp, luật quốc tế trong một số trường hợp đã dựa vào cái gọi là “nguyên tắc về tính hiệu lực” cơ bản lập luận rằng một nhà nước có thể tuyên bố chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ chưa bị yêu sách (res nullius) và bị từ bỏ (res derelica) thông qua “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước”.

Trong khi triều Nguyễn thực thi quyền hạn đối với Paracels và Spratlys, với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels.

Hơn nữa, họ làm điều đó vào lúc khái niệm chủ quyền, và luật pháp quốc tế thừa nhận chủ quyền, đã được thiết lập trọn vẹn ở châu Á.

Image

Giờ đây, tôi chắc chắn rằng luật pháp quốc tế còn phức tạp hơn thế, nhưng đối với tôi dường như chiếc chìa khóa đối với việc chứng minh chủ quyền ở khu vực ấy không phải bằng cách cho thấy “ai là người đến đó đầu tiên” và cho rằng chủ quyền là cái gì đó vĩnh viễn, mà thay vào đó là bằng cách chứng minh ai thiết lập chủ quyền đối với các đảo đó thông qua những phương tiện mà luật quốc tế có thể thừa nhận.

Nếu người Pháp là những người đầu tiên rõ rang đã làm điều đó, thì câu hỏi tiếp theo cần xem xét sẽ là: quyền hạn của một đế quốc thuộc địa được chuyển giao sang một nhà nước độc lập như thế nào.

Chủ đề này quá phức tạp đối với đầu óc đơn giản của tôi, vì vậy đã đến lúc tôi phải dừng viết về chủ đề này, nhưng tôi nghĩ rằng chiếc chìa khóa cho chủ đề này là việc nhìn vào nơi lịch sử và luật pháp quốc tế gặp nhau, và trong phạm vi tôi có thể bàn, điều đó xảy ra ở thập kỉ 1930s (nhưng chắc chắn có những người có thể am hiểu chủ đề này nhiều hơn tôi sẽ có những ý kiến khác).

Dù thế nào, việc cố gắng tìm kiếm chủ quyền trước khi có khái niệm chủ quyền chỉ là điều vô nghĩa đối với tôi.

Cho những người quan tâm, tôi đính kèm một bản sao cuốn sách của Võ Long Tê và bài báo của Saix.

Võ Long Tê: Les Archipels

Saix: Saix article

 

Nguồn:   http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/14/where-history-and-sovereignty-intersect/ 

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

13 May

Chú chó của quần đảo Paracels (Hoàng Sa)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Hôm trước tôi đã đọc quá một số tài liệu ở Cục lưu trữ Quốc gia Úc nói về một tàu ngầm Mỹ tấn công quân Nhật ở đảo Woody (Phú Lâm) trong Quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Trước khi nổ súng từ tàu ngầm, U.S.S. Pargo, một đội trinh sát được gửi lên bờ, và khi ở trên đảo, họ thấy một chú chó. Dưới đây là đoạn ghi chép tiếp theo:

“… có một việc được phát hiện là có những vết chân chó trên bãi biển và trên vài vệt mờ xuyên qua những bụi cây đước. Từ một vị trí trên rìa của tầng cây thấp và cách chân cầu tàu khoảng 150 yard đến 200 yard, chú chó, lớn, lai giữa giống Alsat và giống Airdale, được thấy đang chạy ra về phía bờ biển ở cuối cầu tàu và tiếp cận hướng đi của chúng tôi.

Khi [chúng tôi đi] chếch một chút về phía Nam của đảo Crew, nó bắt được mùi của chúng tôi, đưa mũi ngửi quanh và theo dấu chúng tôi, rồi trong phạm vi 50 yard gần chúng tôi, nó nhìn thấy chúng tôi rồi quay lại bãi biển và ngồi xuống”.

Image

Khi tôi đọc được thông tin này, tôi đoán rằng đây hẳn là một chú chó mà lính Nhật đã đem theo họ, có lẽ để dùng làm chó giữ nhà. Tuy nhiên, hôm nay tôi đọc được một bản tường trình về một chuyến viếng thăm lên đảo Woody từ trước thời điểm đó hơn một thập kỉ trong dó cũng đề cập đến sự hiện diện của một chú chó trên hòn đảo ấy.

Trong một bài báo được công bố trên tập san The North – China Herald and Supreme Court & Consular Gazette (06 June 1934, pg. 366) có tên Cảnh hoang tàn trên đảo Paracel: Phác thảo ấn tượng về một chuyến thăm tới những bãi đá ngầm nguy hiểm ở biển Nam Trung Hoa”, một ông L.Dowdall nào đó đã ghi chép thông tin về một chuyến thăm của mình tới đảo Woody vài năm trước lúc bài báo được công bố.

Dowdall, người mà tôi đoán là người Anh, đang trên một con tàu du hành từ Bangkok tới Hồng Kông. Nó cần phải thả neo để trải qua vài cuộc sửa chữa động cơ, vì vậy thuyền trưởng tàu dừng tàu ở quần đảo Paracel, và để Dowdall lên bờ ở đảo Woody.

Dowdall nói rằng “tôi biết rằng đảo Woody đã từng được khai thác về phân chim bởi một số người Nhật vài năm trước, nhưng họ đã bị chính phủ Trung Hoa, người khẳng định chủ quyền đối với các đảo này, trục xuất. Từ đó vài công ty khác, cả của Trung Hoa và nước ngoài, đã được tổ chức để khai thác phân chim, nhưng họ đều thất bại theo cách này hay cách khác”.

Theo đó, Dowdall đi bộ lên bờ của một hòn đảo không có người ở lúc bấy giờ. Phần lớn bài bào của ông được dùng để miêu tả cảnh hoang tàn mà ông quan sát được trên đảo.

Và rồi ông thấy một chú chó.

“… Thật ngạc nhiên khi tôi thấy một chú chó to. Nó chạy túc tắc khỏi bụi rậm phía trước tôi chừng 200 yard, đứng lại và nhìn một chốc, rồi chạy lững thững vào một đám cây bụi và cỏ gai và biến mất.

“Có phải tôi đang mơ? Không. Khi tôi đến chỗ đó, có vết chân nó in trên cát. Ông tướng tội nghiệp, tôi nghĩ. Nó hẳn đã bị bỏ rơi bởi những người cuối cùng đến đó”.

“Nó đã ở đó một mình bao lâu rồi và có phải đôi khi nó xuống bờ biển để buồn bã nhìn ra biển chờ đợi mẹ của nó quay lại?”

“Tôi gọi và huýt sáo cho nó nhưng nó không phản ứng. Có lẽ nó đang núp trong bụi rậm nhìn tôi cảnh giác, tự hỏi tôi là bạn hay thù. Thực tế, nó hẳn thấy tôi là bạn khi đánh bạo tiến về phía tôi lúc trước”.

Image

Có thể nào có chuyện chú chó mà Dowall nhìn thấy ở đầu thập niên 1930s cũng chính là chú chó mà đội trinh sát Mỹ thấy đầu năm 1945?

Tác giả và chính trị gia quá cố người Thái tên là M.R.Kukrit Pramoj đã viết một truyện ngắn tuyệt vời những năm 1950s kể về một chú chó có tên “Mom”. Trong truyện đó, Kukrit Pramoj cơ bản miêu tả những sự kiện của Thế chiến II ở BangKok nhìn qua nhãn quan của chú chó Mom.

Trong khi truyện đó, như tôi biết, là một tác phẩm hư cấu, thì có vẻ như đã có một chú chó thực không chỉ chứng kiến Thế chiến 2 trên đảo Woody ở quần đảo Paracels, mà còn ở đó vài năm trước cuộc chiến; một chú chó đã nhìn thấy, trong vòng hơn một thập kỉ, người Nhật, người Việt, người Trung Quốc, người Mỹ và một người Anh đơn độc đều đến và đi.

Dành cho ai muốn đọc toàn bộ bài báo, tôi đính kèm bài báo ở đây (Dowdall article).

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/10/vietnamese-japanese-formosan-coolies-and-the-u-s-s-pargo-in-the-paracel-islands-in-world-war-ii/ 

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – PLF)

12 May

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – Hoàng Sa: PLF)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nếu bạn chưa bao giờ xem  Bộ sưu tập bản đồ của David Rumsey thì nên xem qua một lượt, nó hoàn toàn tuyệt vời.

Khi tiến đến lĩnh vực địa lí học, dĩ nhiên có những vấn đề hiện ra trong đầu người dân ở Đông Nam Á, và họ quay sang những tấm bản đồ để làm “bằng chứng”.

Tuy nhiên, như tôi đã nói trên blog này trước đây, khái niệm “chủ quyền” là một khái niệm phương Tây/hiện đại, vì vậy rất khó tìm chứng cứ cho nó trên các tấm bản đồ có niên đại trước khi khái niệm đó du nhập vào châu Á ở thế kỉ XX.

Người phương Tây có khái niệm này trước thế kỉ XX, nhưng khi họ vẽ bản đồ về Á Châu, họ dường như không có ý nghĩ rằng “những bãi đá trên biển đó” thuộc về bất cứ ai.

Hãy xem tấm bản đồ như tấm được vẽ năm 1780 này (Les Isles Phiilippines, Celle de Formose. . .).

Image

Nó có quần đảo Paracels (Hoàng Sa), và hình các đảo có một đường viền bao quanh, nhưng đường viền đó có nghĩa gì? Có phải nó có nghĩa là chúng thuộc về Nam Kỳ? Làm sao chúng ta biết? Hoặc nó đơn thuần chỉ có nghĩa là chúng là một nhóm đảo?

Cũng có một đường viền xung quanh vùng Basse d’Agent (trên bản đồ). Đường viền đó có nghĩa gì?

Image

Rồi bạn có tấm bản đồ được vẽ năm 1864 dưới đây (Bản đồ về Burma, Siam, Nam Kỳ và Malaya). Nó được bôi đen ở những khu vực nước nông, và nó bao quanh quần đảo Paracels, Hải Nam và dọc bờ biển, nhưng ai có “chủ quyền” với quần đảo Paracels?

Image

Cuối cùng, có một tấm vẽ năm 1806 (Quần đảo Đông Ấn và những khu vực lân cận với các kênh mạch nằm giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Tân Hà Lan). Ở đây chúng ta thấy rằng “Trung Quốc” màu xanh lá cây, “Việt Nam màu hồng, và quần đảo Paracels… không màu gì cả (tấm bản đồ trên cũng vậy).

Tôi nghĩ đã đến lúc phải hình thành Mặt trận giải phóng Paracel. Những đảo đó thuộc về những sinh vật biển, chim và côn trùng đã sinh sống ở đó từ thời thượng cổ. Tất cả con người nên rời khỏi đó.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/08/23/beautifully-digitized-old-maps-and-time-to-form-the-plf/   

Cu li người Việt, người Nhật, người Đài và tầu ngầm U.S.S Pargo ở Quần đảo Paracels (Hoàng Sa) trong Thế chiến 2

10 May

Cu li người Việt, người Nhật, người Đài và tầu ngầm U.S.S Pargo ở Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) trong Thế chiến 2

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

778px-USS_Pargo;0826404
Được biết rằng hiện nay tình hình đang được hâm nóng bởi việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (PRC) đang cố gắng đặt một giàn khoan ở một khu vực tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, tôi quyết định tìm quanh xem mình có thể tìm thấy một thông tin gì mới về lịch sử của khu vực này hay không (ít nhất là cái gì đó mới đối với tôi – tôi không phải là chuyên gia về chủ đề này).

Một tìm kiếm nhanh trong Kho lưu trữ quốc gia của Úc đem lại một số tài liệu thú vị.

Image

Chẳng hạn, tôi phát hiện một tài liệu có vẻ như là một báo cáo tình báo năm 1945 về quần đảo Paracels. Sau chiến tranh, quân lực Úc di chuyển lên phía Bắc để giải phóng Đông Nam Á khỏi tay Nhật Bản. Họ đã có công dành lại Borneo, chẳng hạn, và báo cáo này được soạn để chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ dự kiến lên quân đảo Paracels (việc đó có xảy ra không?).

Để chuẩn bị cho chiến dịch này, ai đó đã thu thập một số tài liệu khác nhau về quần đảo Paracels. Chẳng hạn, ở đây có những thông tin thu thập được từ một báo cáo năm 1940 trước cuộc chiến trong đó Paracels được xem là một bàn đạp tiềm tàng để Nhật tiến chiếm Đông Dương.

Image

Báo cáo đó có chứa thông tin dưới đây:

“Người Nhật có những công ty khai thác phosphate và khai thác nghề cá ở đây và trên một bến tàu ở đảo Woody là một tấm bia sừng sững có khắc dòng chữ “Nơi đây bắt đầu các đảo thuộc về Đế quốc của Thiên Hoàng Nhật Bản”.

“Người Pháp dựng các tấm bia ở các đảo Woody, Duncan, Drumond, Robert và Pattle vào tháng 3 năm 1938, rồi dựng các tấm bia trên đảo Lincoln và Money vào tháng 6 năm 1939, [những tấm bia đó] cho biết rằng những đảo này thuộc về Cộng hoà Pháp”.

Image

Đi vào chi tiết hơn, tài liệu này chép những thông tin về quần đảo Paracels như sau:

“Có một đồn cảnh sát trên đảo … Vào tháng 1 năm 1940, nhân sự của người Pháp bao gồm:

1 Thanh tra (người bản địa)

1 Trung sĩ (người bản địa)

1 Hạ sĩ

24 Cảnh sát (người bản địa)

1 Bác sĩ (người bản địa)

1 Thông dịch viên (người bản địa)

1 Thợ điện (người bản địa)

11 Cu li (người bản địa)

“Có một vụ làm ăn liên quan đến phosphate của người Nhật ở phía Tây Nam của hòn đảo. Vụ làm ăn này thuộc về công ty Messrs Kaiyo, Kagyo of Takao (nay là Cao Hùng) ở Formosa [tức Đài Loan], và các nhân viên tại đó gồm có một quản lí người Nhật, 30 cu li người Nhật và 150 cu li người Đài,…

“Tháng 3 năm 1938, người Nhật được chính thức cho phép treo cờ của họ, nhưng hoá ra họ chỉ được cho phép làm vậy với tư cách cá nhân, và sự cho phép không có ý nghĩa về chính trị. Từ đó trở đi, cờ Nhật được kéo lên rất ít lần…

Ngoại trừ những cơ sở của người Pháp và người Nhật, hòn đảo bị bao phủ bởi rừng rậm.

Có rất nhiều chuột”.

Image

Tôi không hình dung được đó là cuộc sống thực ở trên quần đảo Paracels cuối thập niên 1930s, nhưng rõ  ràng có một nhóm “người bản địa” Đông Dương (tôi đoán rằng họ là người Việt) cắm trại ở đó, cũng như người Nhật – những người đã thu được phosphate từ khối lượng phân chim rất lớn ở nơi ấy.

Hoặc chính xác hơn, những cu li người Đài có lẽ là những người đã đi lượm phân chim tại đó(*).

Điều  tôi không chắc là tại sao người Nhật được cho phép treo cờ Nhật ở đó. Tuy nhiên, chi tiết này, và tuyên bố rằng có một bia đá ở đảo Woody có khắc dòng chữ “Nơi đây bắt đầu các đảo thuộc về Đế quốc của Thiên Hoàng Nhật Bản” gợi ý rằng người Nhật đang lặng lẽ thiết lập ở đó cơ sở cho sự bành trướng thực sự xuống Đông Nam Á (và nó cũng chứng tỏ rằng các doanh nhân Nhật Bản đã đóng vai trò kiểu này ở Đông Nam Á cuối thập niên 1930s).

Image

Cuối cùng, tôi không nghĩ rằng người Nhật dùng các đảo này như là bàn đạp để xâm lược Đông Nam Á. Tuy nhiên, sau khi họ chiếm đóng thành công khu vực này, rõ ràng họ đã đưa một số người lên các đảo đó.

Một nhiệm vụ bí mật mà một tàu ngầm Mỹ, tàu U.S.S Pargo(*), đã hoàn thành vào đầu tháng Hai năm 1945 là phát hiện ra những binh lính Nhật trên đảo Woody, và tàu U.S.S Pargo sau đó đã bắn vào cái có vẻ là toà nhà chỉ huy của họ.

Khi họ chuẩn bị làm như vậy, ai đó đã treo cờ ba màu của Pháp lên trên toà nhà, nhưng người Mỹ đã coi việc làm này là một thủ đoạn của người Nhật ở đó và tiếp tục bắn phá.

Image

Tôi chưa bao giờ nghe gì về vụ ấy, nhưng tài liệu này chứa đứng một bản tường thuật rất chi tiết về việc trinh sát quần đảo Paracels của tàu U.S.S Pargo (họ thậm chí còn ghi chú rằng có một chú chó trên đảo Woody, lai giữa giống Alsation (chó béc-giê vùng Alsat, Đức – HQV) và giống Airdale (giống chó vùng Yorkshire, Anh – HQV), và rằng bất cứ ai đổ bộ lên đảo này cần biết để phòng trường hợp con chó sẽ sủa cắn họ) và cuộc tấn công doanh trại quân Nhật trên đảo của nó.
761px-USS_Pargo;0826401

Tôi thấy điều này đặc biệt thú vị đáng đọc vì khi tôi tham gia một cuộc hội thảo hai năm trước, có một nhà sử học rất đáng kính đến từ Đông Nam Á đã cho rằng tuyên bố chủ quyền đối với các đảo đó của Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu sau Thế chiến 2, khi người Trung Quốc cố gắng tuyên bố chủ quyền [đối với nó] cũng như chính các vùng lãnh thổ [khác] của họ mà người Nhật đã chinh phục.

Sử gia này không cung cấp bất kì chi tiết nào củng cố lập luận của mình, nhưng tôi có thể thấy rõ những chi tiết đó ở đây, trong các tư liệu này.

Vào thập niên 1930s và 1940s, không có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Paracels. Người Pháp đã tuyên bố các đảo này là một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp, và người Nhật thách thức tuyên bố đó.

Về người Trung Quốc, sự hiện diện chủ yếu của họ trên quần đảo Paracels trong những năm ấy là qua các cu li người Đài Loan (nếu chúng ta muốn xem những người Đài Loan – lúc bấy giờ là thuộc địa của Nhật Bản – là “người Trung Quốc”), những người dành cả ngày để đi lượm phân chim (tức “cứt”) cho doanh nhân Nhật Bản).

Ồ, lịch sử chẳng thú vị lắm sao!??

Tệp tài liệu đầy đủ có thể truy cập ở đây.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/05/10/vietnamese-japanese-formosan-coolies-and-the-u-s-s-pargo-in-the-paracel-islands-in-world-war-ii/ 

Chú thích:
(*) Về những mô tả này, có thể tham khảo, sánh với những chi tiết trong bài viết sau: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Vi-dai-ta-quan-doi-ke-ve-tuoi-tho-o-Hoang-Sa-truoc-nam-1945-post116641.gd
(**) Tàu ngầm U.S.S Pargo: tức tàu ngầm SS-264, được đóng năm 1942, hạ thuỷ năm 1943, tham chiến từ năm 1944. Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Pargo_(SS-264) .
Bonus:
“….[Đ]ây [tức Hoàng Sa] là một kiểu “không gian trung gian” nơi mà các đế quốc khác nhau đều có ảnh hưởng. Người Nhật bắt đầu xâm nhập khu vực này, và điều đó kích động phản ứng của người Trung Quốc. Rồi người Pháp kéo đến. Và rồi người Nhật xâm chiếm nó. Và rồi đầu tiên là những người Dân tộc chủ nghĩa sau đó là Cộng sản chủ nghĩa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, và rồi Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền,v.v…
Kết quả là rất khó xác định “chủ quyền” ở đây trong quá khứ, khi mà đây là một không gian mà các vương quốc ở vùng này không đưa ra tuyên bố chủ quyền một cách rõ ràng (một phần vì khái niệm chủ quyền không tồn tại lúc bấy giờ) và đó là nơi mà các đế quốc bành trướng ngoại lai (Nhật Bản/ Pháp) sau đó cố gắng tuyên bố chủ quyền thuộc về họ.
Vì vậy, rốt cuộc nó là một mớ hỗn độn (nhưng cũng là một ví dụ điển hình về hiện tượng các quốc gia hiện đại ở châu Á đã được kiến tạo thế nào từ mảnh vỡ của các đế chế). Tuy nhiên, điều đó không cho Trung Quốc cái quyền được đưa một giàn khoan dầu vào khu vực, hay đâm va thuyền của Việt Nam hoặc giết ngư dân Việt Nam.
Vậy là tôi hoàn toàn tự tin kết luận rằng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã gây hấn, nhưng những tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này (của bất kì ai) đều thực sự có vấn đề vì nhiều nguyên nhân” (Lê Minh Khải – Liam. Christopher Kelley – Phó giáo sư Sử học, Khoa Lịch sử, Đại học Hawaii ở Manoa).
“….[t]his [the Paracels] is a kind of “intermediate space” that various empires impinged on. The Japanese started to move into the area, and that incited a Chinese response. Then the French moved in. And then the Japanese expanded. And then first the Nationalist and then the Communist Chinese made claims, and then South Vietnam did, etc.

The result is that it is very difficult to see “sovereignty” here in the past, as this was a space that local kingdoms had not clearly laid sovereignty (in part because the concept of sovereignty did not exist) to and which expansive foreign empires (Japanese/French) then sought to claim as their own.

It is therefore ultimately a mess (but it’s a great example of how the modern nations of Asia have been created from the debris of empires). Nonetheless, that doesn’t give China the right to move an oil rig into the area, or to ram Vietnamese boats or kill Vietnamese fishermen.

So I’m fully confident in concluding that the PRC sucks, but the claims to sovereignty over this region (by anyone) are really problematic for multiple reasons” (Le Minh Khai – Liam Christopher Kelley, Associate Professor in the History Department at the Univeristy of Hawaii at Manoa.).

Nguyên bản tiếng Anh:
Vietnamese, Japanese, Formosan Coolies and the U.S.S. Pargo in the Paracel Islands in World War II
Given that things are heating up now that the PRC is attempting to set up an oil rig in an area of the sea that is claimed by Vietnam, I decided to look around to see if I could find some new information about the history of this area (at least something new to me – I’m not an expert on this topic).

A quick search in the National Archives of Australia brought up some interesting documents.

I found one document, for instance, that appears to be an intelligence report from 1945 about the Paracel Islands. Late in the war, Australian forces moved northward to liberate Southeast Asia from Japanese rule. They were instrumental in retaking Borneo, for instance, and this report was made in preparation for an anticipated landing in the Paracels (did that ever take place?).

To prepare for this operation, someone collected together various materials about the Paracels. For example, there is information here that was obtained from a 1940 pre-war report in which the Paracels were seen as a potential stepping stone in a Japanese advance towards Indochina.

That report contained the following information:

“The Japanese have phosphate and fishing companies here and on the pier at Woody Island is an imposing monument inscribed ‘Here begin the lands of the Empire of the Great King of Japan.’

“The French erected monuments on Woody, Duncan, Drummond, Robert and Pattle Islands in Mar[ch 19] 38, and on Lincoln and Money Islands in Jun[e 19]39, denoting that these islands belonged to the Republic of France.”

Going into more detail, this document recorded the following information about the Paracels:

“There is a French police station on the island. . . In Jan[uary 19]40, the French personnel consisted of

1 Inspector (native)

1 Sergeant (native)

1 Corporal (native)

24 Policement (native)

1 Doctor (native)

1 Interpreter (native)

1 Electrician (native)

11 Coolies (native)

“There is a Japanese phosphate undertaking at the SW of the island. The undertaking belongs to Messrs Kaiyo, Kagyo of Takao [now Gaoxiong] in Formosa [i.e., Taiwan], and the local staff consists of a Japanese manager, 30 Japanese and 150 Formosan collies. . .

“In Mar[ch 19]38, the Japanese were authorized officially to fly their flag, but it was pointed out that they were only allowed to do so as private individuals, and that the permission has no political significance. Since then it has been hoisted on very rare occasions. . .

“Except [a]round the French and Japanese establishments the island is densely wooded.

“There is an enormous number of rats.”

I had no idea that this is what life was like on the Paracels in the late 1930s, but apparently there was a group of Indochinese “natives” (I’m assuming that they were Vietnamese) based there, as well as Japanese who were obtaining phosphate from the large collection of guano there.

Or more accurately, Formosan coolies were probably the ones who were collecting the guano.

What I am unsure about is why the Japanese were allowed to fly the Japanese flag there. However, this detail, and the claim that there was a monument on Woody Island that had inscribed on it “Here begin the lands of the Empire of the Great King of Japan” suggests that the Japanese there were quietly setting a foundation for Japan’s eventual expansion into Southeast Asia (and it is well documented that Japanese businessmen performed this kind of role in the 1930s in Southeast Asia).

In the end, I don’t think that the Japanese used these islands as a stepping stone for their invasion of Southeast Asia. However, after they had successfully occupied the region, they apparently placed some people on these islands.

A secret mission that a US submarine, the U.S.S. Pargo, carried out in early February 1945 found Japanese soldiers on Woody Island, and the U.S.S. Pargo then fired shots at what appeared to be their administrative building.

Once they began to do so, someone raised the French Tricolor over the building, but the Americans saw this as a ruse on the part of the Japanese there and continued to fire.

I had never heard of any of this, but this file contains a very detailed account of the U.S.S. Pargo’s reconnaissance of the Paracels (they even noted that there was a dog on Woody Island, a cross between an Alsation and an Airdale, that anyone landing on the island needed be aware of, in case it started to bark at them) and its attack on the Japanese base there.

I found this particularly fascinating to read as I was at a conference a couple of years ago where a very respected historian from Southeast Asia argued that China’s claim to those islands really began after World War II when the Chinese tried to claim as their own territory areas beyond China that the Japanese had conquered.

This historian did not provide any details to support his argument, but I can clearly see those details here in these materials.

In the 1930s and 1940s, there were no Chinese claims on the Paracels. The French claimed those islands as part of French Indochina, and the Japanese tried to challenge that claim.

As for the Chinese, their main presence in the Paracels during those years was in the form of Formosan coolies (if we want to consider the inhabitants of the Japanese colony of Formosa as “Chinese”), men who spent their days collecting guano (i.e., shit) for Japanese businessmen.

Oh, isn’t history fascinating?!!

[The full file can be accessed here.]

%d bloggers like this: