Archive | Thời đại số RSS feed for this section

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – PLF)

12 May

Bản đồ cổ được số hóa khá đẹp (và đã đến lúc hình thành Mặt trận Giải phóng Paracel – Hoàng Sa: PLF)

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Nếu bạn chưa bao giờ xem  Bộ sưu tập bản đồ của David Rumsey thì nên xem qua một lượt, nó hoàn toàn tuyệt vời.

Khi tiến đến lĩnh vực địa lí học, dĩ nhiên có những vấn đề hiện ra trong đầu người dân ở Đông Nam Á, và họ quay sang những tấm bản đồ để làm “bằng chứng”.

Tuy nhiên, như tôi đã nói trên blog này trước đây, khái niệm “chủ quyền” là một khái niệm phương Tây/hiện đại, vì vậy rất khó tìm chứng cứ cho nó trên các tấm bản đồ có niên đại trước khi khái niệm đó du nhập vào châu Á ở thế kỉ XX.

Người phương Tây có khái niệm này trước thế kỉ XX, nhưng khi họ vẽ bản đồ về Á Châu, họ dường như không có ý nghĩ rằng “những bãi đá trên biển đó” thuộc về bất cứ ai.

Hãy xem tấm bản đồ như tấm được vẽ năm 1780 này (Les Isles Phiilippines, Celle de Formose. . .).

Image

Nó có quần đảo Paracels (Hoàng Sa), và hình các đảo có một đường viền bao quanh, nhưng đường viền đó có nghĩa gì? Có phải nó có nghĩa là chúng thuộc về Nam Kỳ? Làm sao chúng ta biết? Hoặc nó đơn thuần chỉ có nghĩa là chúng là một nhóm đảo?

Cũng có một đường viền xung quanh vùng Basse d’Agent (trên bản đồ). Đường viền đó có nghĩa gì?

Image

Rồi bạn có tấm bản đồ được vẽ năm 1864 dưới đây (Bản đồ về Burma, Siam, Nam Kỳ và Malaya). Nó được bôi đen ở những khu vực nước nông, và nó bao quanh quần đảo Paracels, Hải Nam và dọc bờ biển, nhưng ai có “chủ quyền” với quần đảo Paracels?

Image

Cuối cùng, có một tấm vẽ năm 1806 (Quần đảo Đông Ấn và những khu vực lân cận với các kênh mạch nằm giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Tân Hà Lan). Ở đây chúng ta thấy rằng “Trung Quốc” màu xanh lá cây, “Việt Nam màu hồng, và quần đảo Paracels… không màu gì cả (tấm bản đồ trên cũng vậy).

Tôi nghĩ đã đến lúc phải hình thành Mặt trận giải phóng Paracel. Những đảo đó thuộc về những sinh vật biển, chim và côn trùng đã sinh sống ở đó từ thời thượng cổ. Tất cả con người nên rời khỏi đó.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/08/23/beautifully-digitized-old-maps-and-time-to-form-the-plf/   

Hợp tác phiên âm bản đồ Hồng Đức

4 Dec

Hợp tác phiên âm bản đồ Hồng Đức

By Le Minh Khai

Hồng Đức bản đồ là một bộ tập hợp bản đồ Việt Nam cũ rất quan trọng. Năm 1962, một phiên bản của bộ tập hợp này được xuất bản ở Sài Gòn. Tập sách này gồm cả phần phiên âm những chữ Hán Nôm trên các bản đồ. Tuy nhiên, những hình chụp của các bản đồ này khá mờ, khiến cho người đọc không dễ dàng nhìn ra các kí tự trên bản đồ.

Với cố gắng đưa tập Hồng Đức bản đồ đến với nhiều độc giả, người thiết kế dự án này xin mời bất kì tình nguyện viên nào có thể và có hứng thú hợp tác làm một phiên bản tốt hơn cho bản đồ Hồng Đức. Những ảnh rõ nét hơn cho các bản đồ đang được chuẩn bị và tải lên trang này, song đây là những ảnh của các bản đồ không kèm theo phiên âm các chữ Hán Nôm có trên bản đồ. Vì vậy, dự án được thiết kế nhằm kêu gọi mọi người hợp tác làm phần phiên âm cho các bản đồ này. Trang mạng sẽ cung cấp phần phiên âm trong phiên bản năm 1962 của Sài Gòn và bằng việc đối chiếu với thông tin phiên âm này, mọi người có thể gõ ra phần phiên âm gắn vào những hình sao bản đồ rõ nét hơn trên trang này.

Xin mời xem đoạn video sau đây về hướng dẫn cách làm phiên âm:

Kế hoạch của đề tài này là sẽ để Hồng Đức bản đồ và phần phiên âm do các tình nguyện viên thực hiện mở trên trang mạng này; bất kì ai muốn đọc đều có thể truy cập vào đọc.

Phiên bản trình bày trên trang mạng này được làm ra dưới sự bảo trợ của một cam kết bản quyền Creative Commons “Attribution-NonCommercial-ShareAlike” (CC BY-NC-SA) (nghĩa là, giấy phép Tài sản Sáng tạo Công cộng cam kết “Ghi nhận công của người sáng tạo-Không thương mại-Sao truyền giống gốc). Điều này nghĩa là, bất kì ai thực hiện theo cam kết bản quyền sẽ 1) phải trích dẫn trang mạng này, 2) không sử dụng nội dung của trang mạng này vào mục đích thương mại, và 3) đảm bảo rằng bất kì sự tái bản hay chuyển đổi thông tin của trang mạng này phải tuân theo qui tắc của cam kết bản quyền này.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/12/04/crowdsourcing-the-hong-duc-ban-do/

Mẫu hình Nidhi trong thế giới phẳng của chúng ta

10 Nov

Mẫu hình Nidhi trong thế giới phẳng của chúng ta

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Hôm qua, tôi có một cuộc nói chuyện khá lâu về tri thức với một người bạn, và hôm nay tôi thức dậy với ý nghĩ về sử gia và học giả Thái Lan Nidhi Aeusrivongse.

Cuộc nói chuyện ngày hôm qua là về “vấn đề” của những dạng tri thức thức khác biệt mà các học giả ở các nước “châu Á” và “phương Tây” đang có và câu hỏi về việc, bất cứ việc gì, cần làm để giải quyết vấn đề này.

Một điều chúng tôi đồng ý với nhau là đây không phải là một câu hỏi về một sự khác biệt giữa các dạng tri thức của “châu Á” và “phương Tây”. Không hề có cái gọi là các dạng tri thức của “châu Á” hay “phương Tây” như thế. Sự tiếp xúc mạnh mẽ giữa các cư dân từ các xã hội khác nhau trong suốt quá khứ 200 năm qua đã thay đổi cách nghĩ của mọi người trên khắp địa cầu.

Và trong khi những sự biến đổi đó không dẫn đến sự đồng thuận, thì những sự khác biệt không đơn thuần có thể được lí giải bằng cách viện dẫn đến những thứ như các dạng tri thức “châu Á”.

Image

Chẳng hạn, ở Bắc Kinh năm nay là năm 2013, còn ở Đài Bắc là năm 102 [?].

102 năm trước, triều Thanh đã bị lật đổ và Cộng hoà Trung Hoa được hình thành. Giống như các chính phủ Trung Hoa “truyền thống”, chính phủ mới này cũng lấy mốc thời gian khởi đầu cho sự thành lập của nó [tức đặt niên hiệu “Trung Hoa dân quốc” – HQV], nhưng chính phủ được thiết lập lúc bấy giờ là một kiểu chính phủ mới, một kiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ý tưởng về sự cai trị có nguồn gốc từ “phương Tây”.

Về quyết định áp dụng nghị trình phương Tây trong Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tôi không biết chi tiết nhưng tôi ngờ rằng điều này có liên quan đến những sự tương tác với Liên Xô và sự nhấn mạnh quyết liệt vào tri thức “khoa học” của nó.

Vì vậy luận điểm của tôi là muốn nói rằng nguyên nhân những nơi như Đài Loan và Hoa lục trở thành như ngày nay là bởi những sự tương tác toàn cầu.

Vậy điều này có tác động thế nào đến “vấn đề” tôi đề cập ở trên? “Vấn đề” là khi các học giả từ các nước “châu Á” và “phương Tây” bất đồng, hay không hiểu nhau, thì nguyên nhân không còn là bởi họ có những cách nghĩ khác nhau. Thay vào đó, nguyên nhân là bởi những người ở những khu vực nhất định đã khảo xét những ý tưởng nào đó xa hơn những người ở các nơi khác.

Image

Hãy xét chủ điểm mà tôi ưa thích là chủ nghĩa dân tộc. Vào thập kỉ 1950s, hiểu biết về chủ nghĩa dân tộc khá là thống nhất. Lúc bấy giờ, các nền học thuật ở Liên Xô, Trung Quốc, Philippines, Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam,… đều có thể nói chuyện với nhau và có một cuộc tranh luận lành mạnh. Và họ có thể làm điều này bởi những tương tác toàn cầu trong suốt nhiều thập kỉ trước (xảy ra rộng rãi bởi chủ nghĩa thực dân và đế quốc) đã thay đổi thế giới và tạo ra một lối nghĩ chung cho các học giả (vẫn còn những sự chia rẽ và khác biệt, nhưng cách nghĩ của các học giả trên toàn cầu lúc bấy giờ thống nhất hơn so với 50 năm trước đó).

Rồi ở thập kỉ 1980s, có sự bùng nổ hứng thú với chủ đề chủ nghĩa dân tộc ở những nơi như Anh quốc và Hoa Kì, và đến lúc ấy một thập kỉ hay đại loại như thế đã trôi qua, các học giả ở những nơi đó không còn có một cuộc tranh luận lành mạnh với các học giả ở những nơi [khác] như Liên Xô hay Trung Quốc.

Image

Giờ đây, ở cuối thập kỉ 1980s, nếu các học giả Xô Viết và Mỹ không đồng tình hay hiểu nhau thì nó không còn thực sự quan trọng bởi những sự chia rẽ của Chiến tranh Lạnh cách li họ với nhau. Họ thực sự đã không nói chuyện với nhau.

Điều đó bây giờ (về mặt lí thuyết) đã thay đổi. Với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và với sự quốc tế hoá giáo dục, hàng nghìn người đang học tập và nghiên cứu ở nước ngoài và đang được chứng kiến những ý tưởng phát triển ở đó xa hơn những gì họ có ở nước nhà. Trong khi đó, “các hội thảo quốc tế” đã và đang được tổ chức ở mọi xó xỉnh của thế giới đang đưa mọi người với những thực thể tri thức khác nhau lại gần nhau.

Và với toàn bộ những sự phát triển đó, chúng ta có những người như Thomas Friedman nói cho chúng ta biết rằng thế giới đang trở nên “phẳng”. Trong khi điều đó có lẽ đúng với những thứ như sự phát triển của công nghệ thông tin (là một trong những chủ đề mà ông tập trung vào), thì tri thức học thuật trong Khoa học nhân văn và ở phạm vi hẹp hơn là khoa học xã hội vẫn còn xa mới phẳng. Một lần nữa, trong lĩnh vực những dạng thức tri thức, tôi cho rằng thế giới ở thập kỉ 1950 còn phẳng hơn nhiều ngày nay.

Vậy là sau đó điều này dẫn tôi đến chủ đề mà tôi và bạn tôi thảo luận. Điều gì cần làm để giải quyết vấn đề này. Hay có thứ gì nên làm cho nó hay không? Chúng tôi chưa đi đến một đáp án, nhưng chúng đã tôi đồng ý với nhau rằng chúng tôi đã nhận thấy 2 cách thức nổi bật mà các học giả ở/từ châu Á đã và đang phản ứng với sự mất cân bằng tri thức trong kỉ nguyên “phẳng toàn cầu” này – đó là, bác bỏ hoặc chấp nhận (hoàn toàn) tri thức “phương Tây” và chúng tôi không nghĩ rằng một trong hai cách tiếp cận đó là lí tưởng.

Image

Vì vậy, tôi đi ngủ mà trong đầu vẫn miên man suy nghĩ về vấn đề này, rồi tôi thức dậy với ý nghĩ về Nidhi Aeusrivongse.

Ajarn (tức Giáo sư) Nidhi là một học giả và sử gia Thái Lan, người đã đạt được học vị Tiến sĩ ở trường Đại học Michigan năm 1976. Luận án của ông có tên là Hư cấu như một lịch sử: Nghiên cứu về Tiểu thuyết và các tiêu thuyết gia Indonesia tiền chiến 1920 – 1942.

Image

Rồi tôi nghĩ chúng ta có thể thấy cái gì đó nhất quán ở Ajarn Nidhi. Khá nhiều nghiên cứu sinh lấy bằng Tiến sĩ ở nước ngoài bằng cách nghiên cứu về xã hội quê nhà của họ. Ajarn Nidhi không chọn làm như vậy, và điều này đòi hỏi phải học thêm một ngoại ngữ – tiếng Indonesia.

Những giáo sư hướng dẫn của ông là một số trong những học giả chủ công trong lĩnh vực lịch sử Đông Nam Á ở Bắc Mỹ lúc bấy giờ – John Whitmore, Benedict Anderson,v.v.. – và Đại học Michigan là một đại học hạng ưu, vì vậy tôi ngờ rằng nếu Ajarn thực sự muốn, ông đã có thể có cách ở lại nước ngoài.

Tuy nhiên, ông đã không làm thế. Trên thực tế, không chỉ không ở lại nước ngoài, ông còn dừng viết bằng tiếng Anh. Tôi biết một chương ông viết về Campuchia [bằng tiếng Anh?] trong một tập sách (biên soạn chứ không phải chuyên luận) từ (tôi nghĩ) cuối thập kỉ 1970s, nhưng về ở bản từ sau khi ông hoàn thành luận án Tiến sĩ trở đi, ông chỉ viết bằng tiếng Thái.

Và ông viết nhiều, và công trình học thuật của ông được đề cao bởi các học giả Thái Lan và nước ngoài – những người có thể đọc được tiếng Thái.

Trên cả việc tạo ra các công trình học thuật tin cậy, Ajarn Nidhi cũng trở thành kiểu mà chúng ta có thể gọi là “trí thức của công chúng” và viết báo cho các tạp chí, và sau đó lập ra một nhóm và một trang web được biết đến dưới cái tên “Đại học nửa đêm” (Midnight University) để chia sẻ các ý tưởng và công trình học thuật có tính chất phê phán với công chúng.

Một lần nữa, tất cả được viết bằng tiếng Thái.

Vậy là, về cơ bản những gì Ajarn Nidhi làm là học từ chính xã hội quê nhà, học từ giai đoạn ông nghiên cứu ở Hoa Kỳ, và rồi sau đó đi theo một lối đi nhất quán của riêng mình. Ông không bác bỏ thế giới bên ngoài, nhưng ông cũng không tôn sùng nó hay bác bỏ chính xã hội quê nhà.

Ông chỉ học cả hai và tạo ra công trình học thuật có thể được cả người trong và ngoài nước tôn trọng.

Thật lạnh lùng [Thật tuyệt!]. Và với tôi nó dường như là một lối đi hay để xuyên qua những thực thể tri thức không bình đẳng trong thế giới phẳng của chúng ta.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/09/the-nidhi-model-in-our-flattening-world/

Lý Công Uẩn trong phim và trên truyền hình

17 Sep

Lê Minh Khai – Trà Mi lược dịch

Có rất nhiều bộ phim và phim truyền hình thực hiện trong thời gian gần đây về Lý Công Uẩn. Những bộ phim này nhắm phát hành cùng lúc với lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long / Hà Nội, nhưng một số đã không hoàn thành kịp lúc và một số khác lại bị chỉ trích.

Một trong những bộ phim đã bị chỉ trích nặng nề là “Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long”. Bộ phim truyền hình 12 phần này là một hợp tác sản xuất của Công ty Trường Thành tại Hà Nội và EASTV tại Hồng Kông. Trường Thành cung cấp tiền, và EASTV sản xuất bộ phim.

Bộ phim được thu hình phần lớn ở tỉnh Chiết Giang và chi phí khoảng 100 tỷ đồng Việt Nam hay 5,3 triệu USD, sản phẩm cuối cùng đã bị chỉ trích tại Việt Nam là một “phim Tàu nói tiếng Việt”.

Thử nghĩ lại xem sao. Đạo diễn và một giám đốc điều hành của bộ phim này là người Tàu, trong khi một giám đốc điều hành khác là người Việt Nam. Họ cùng nhau tạo ra một bộ phim truyền hình trông rất là “Tàu”.

Hiện nay đã có bằng chứng lịch sử Lý Công Uẩn là người Mân [ngày nay là vùng đất thuộc tỉnh Phúc Kiến] và Lý Công Uẩn đã dùng người Mân phục vụ cho ông. Và như tôi đã viết ở đây [Le Minh Khai’s SEAsian History Blog], Nhà Trần cũng được coi là người Mân.

Sau đó đọc lại các tài liệu “Việt Nam”, tài liệu mà chúng ta đang có. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được viết theo mô hình Sử ký của Tư Mã Thiên [Thái Sử Công Thư, 太 史 公 書 của 司 馬 遷]. Thiền Uyển Tập Anh viết phỏng theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên [景德傳燈錄 gọi tắt là Truyền Đăng lục, là tác phẩm lịch sử cổ nhất của Thiền tông Trung Quốc, được một vị Thiền sư thuộc tông Pháp Nhãn là Đạo Nguyên 道原, môn đệ của Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, biên soạn vào năm Cảnh Đức, đời Tống Nhân Tông (1004). Bộ sách này nói về cơ duyên của chư tổ cho đến Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958).] Còn Truyền Kỳ Mạn Lục thì viết theo phong cách cuốn Tiễn Đăng Tân Thoại [剪燈新話] của Tuy Hựu [睢佑 1347-1433]. Và Lĩnh Nam Chích Quái như đã ghi rõ trong lời nói đầu là sách này viết theo phong cách của Sưu Thần Ký [搜神記] của Can Bảo [干寶, fl. 317-322].

Vì thế thì có gì đáng nói về việc làm một bộ phim truyền hình về Lý Công Uẩn trông như phim “Tàu” qua cả nội dung lẫn hình thức khi chính Lý Công Uẩn và một số quan chức của ông có thể là người đến từ một khu vực ngày hôm nay thuộc về “Tàu” và khi tầng lớp sĩ phu ngày ấy viết lịch sử và tiểu sử của chính mình đã sử dụng hình thức diễn đạt do “người Tàu” sáng tạo?

Tôi nghĩ rằng không có bất kỳ một vấn đề với những việc này. Tuy nhiên, tôi vẫn không thích bộ phim “Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long”, không phải vì nó trông “Tàu” quá, nhưng vì nó có quá nhiều tính chất giống như một “vở tuồng phẩm chất kém về lịch sử Trung Hoa hiện đại.”

Đơn giản mà nói, tất cả mọi thứ trông rất giả tạo. Tôi cảm thấy như đang ở một phim trường giả tạo. Tôi không cảm thấy được đưa trở lại không gian của ngàn năm trước.

Một bộ phim đã thành công hơn ở mặt đưa tôi về với quá khứ là “Khát Vọng Thăng Long”.

Mặc dù phần giới thiệu của bộ phim này (tôi chỉ coi phần giới thiệu phim) đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của Hollywood, và trong khi các cảnh đấu võ sẽ làm cho người xem nghĩ về những phim ảnh Trung Quốc “hiện đại”, từ màu sắc, trang phục và phong cảnh ở bộ phim này không giả tạo như trong phim “Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long”.

Tuy nói thế, những bộ trang phục trong bộ phim này vẫn không thực tế như có thể. Những năm trước, khi mới nghe nói bộ phim về Lý Công Uẩn đang được thực hiện, tôi đã tự hỏi có ai đã đi tham khảo sử sách để tìm hiểu xem con người thời đại đó trông ra sao, và ăn mặc như thế nào hay không.

Image

Một tác phẩm có giá trị rất lớn là một tài liệu mà Trần Phu [Chen Fu, 陳孚] còn được gọi như Trần Cương Trung [Chen Gangzong, 陳剛中], một sứ giả của triều đại nhà Nguyên, biên soạn sau khi thăm viếng Đại Việt năm 1293.

Tài liệu này ghi rằng tất cả đàn ông thời đại đó đều cạo trọc đầu. Thật vậy, sách đó ghi “mọi người đều là các nhà sư.” Chỉ có các quan viên thời đó mới quấn khăn xanh/lục trên đầu.

Về mặt này, “Khát Vọng Thăng Long” có phần chính xác trong cảnh quan chức quấn khăn. Nhưng nếu khi Trần Phu viết về thời đại khoảng cuối thế kỷ thứ mười ba, ứng dụng cho giai đoạn thành lập của triều đại nhà Lý, thì dưới những tấm khăn đó người ta không nên thấy sợi tóc nào.

Với câu hỏi về tóc này, Lê Quý Đôn đã ghi lại trong Kiến Văn Tiểu Lục của ông là chính Hoàng Phủ, quan Nhà Minh, đã cấm cắt tóc, và do đó chỉ từ đầu thế kỷ thứ mười lăm trở về sau đàn ông mới để tóc dài.

Năm 1293, Trần Phu cũng ghi rằng người thời đó đi chân trần, và da trên đôi chân họ rất dày. Ông cũng cho biết rằng đàn ông và phụ nữ thường tắm trên cùng một dòng sông (cảnh đó đáng lý phải xuất hiện trong một bộ phim Hollywood!)

Trần Phu còn ghi lại việc người nô lệ thời đó có hình xâm trên trán của họ cho biết họ là nô lệ của ai, chẳng hạn như “quan trung khách” (官 中 客) cho biết rằng họ là nô lệ của một viên quan.

Cuối cùng, Trần Phu nói rằng cả đàn ông và phụ nữ thời đó đều mặc mặc quần áo màu đen.

Vì vậy, trong khi “Khát Vọng Thăng Long” dường như đã vẽ lại hình ảnh quá khứ hay hơn so với bộ phim truyền hình “Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long”, nhưng vẫn còn có nhiều điểm mà có thể thực hiện sát với lịch sử hơn. Tuy nhiên, bộ phim có vẻ đã thành công trong việc đưa khán giả đến một nơi nào đó khác hơn nhiều so với một phim trường giả tạo.

Và về vấn đề của những bộ phim này có vẻ “Tàu” quá, một lần nữa, sĩ phu Bắc Hà thời Lý Công Uẩn đã chia sẻ rất nhiều với giới trí thức ở khu vực phía bắc, đặc biệt là về văn hóa và tôn giáo, và ngay cả huyết thống. Làm một bộ phim mô tả một đất nước hoàn toàn độc đáo cũng sẽ có những vấn đề như làm một bộ phim có vẻ “quá là Tàu”.

Giải pháp tốt nhất là chỉ nên ghi lại lịch sử sao cho chính xác. Nhưng tất nhiên cũng là ý hay nếu có thêm một cảnh [nam nữ] tắm sông sexy (theo kiểu Hollywood) để mọi người sẽ mua vé đi xem. Hoặc hay hơn nữa, làm phim kiểu Bollywood [phim Ấn Độ] với những cảnh nam thanh nữ tú ca hát và nhảy múa vui đùa dưới nước.

Nguồn: DVCO

Tạo ra những bản dịch sống động cho sách sử Việt Nam

18 Jun

Tạo ra những bản dịch sống động cho lịch sử Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi đã viết khá nhiều trên blog này về sự “có vấn đề” với những bản dịch tiếng Việt hiện đại các tư liệu lịch sử vốn viết bằng chữ Hán cổ (Hán).

Gần đây khi đọc cuốn Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức, tôi thấy rằng tác giả cũng đã chỉ ra điểm này. Trong trường hợp của anh, nguyên nhân các bản dịch tiếng Việt hiện đại có vấn đề là bởi những người thực hiện các bản dịch đơn giản là không sở hữu những kiến thức đầy đủ về trang phục trong quá khứ để có thể dịch từ chữ Hán [ra tiếng Việt] một cách chính xác.

Hoàn thành nhiều nghiên cứu về chủ đề này, Trần Quang Đức có thể dịch những đoạn văn đó một cách chính xác, và trong sách của mình anh đã đính kèm như một phụ lục bản dịch của chính anh phần ghi chép có liên quan đến trang phục của An Nam chí lược.

Điều đó thật tuyệt, tuy nhiên trừ phi ai đó đọc An Nam chí lược có biết rằng Trần Quang Đức đã dịch lại đoạn văn đó [trong sách của mình], còn thì người ta không bao giờ biết rằng có những vấn đề với phần viết về trang phục trong cuốn sách kia, và sẽ không biết có một bản dịch tốt hơn. Vì vậy, nếu chỉ dịch lại một phần của một văn bản và đặt nó ở một nơi mà nhiều người không bao giờ thấy thì thực sự đó không phải là cách có hiệu quả để nâng cao hiểu biết [chung].

Có cách nào tốt hơn không? Có, có đấy!!

Vài năm trước đây tôi đã có một ý tưởng về việc tạo ra một trang web chứa những bản dịch sống động. Ý tưởng của tôi là đưa lên một trang web cả bản dịch tiếng Anh của văn bản vốn viết bằng chữ Hán cổ và nguyên bản chữ Hán mà tôi dựa vào để dịch (ở đây), và rồi để cho người khác bình luận về các bản dịch.

Về cơ bản tôi nghĩ đó là một cách tốt, khiến mọi người chỉ ra những lỗi trong các bản dịch của mình, hay trong nguồn nhập văn bản Hán, hay đơn giản là cung cấp những bản dịch khác cho những đoạn văn khó hiểu, và cho những chỗ mà tôi không thể chắc chắn 100% trong cách dịch.

Quá trình để cho độc giả đóng góp vào việc biên tập hay sáng tạo các văn bản này được gọi là “chụm nguồn” (“crowdsourcing”) và nó là một kĩ thuật mà ngay cả các nhà xuất bản giờ đây cũng đang bắt đầu áp dụng, khi một số nhà xuất bản hiện tại đang đưa các cuốn sách lên mạng để người ta bình luận trước, trước khi chúng được duyệt lại để xuất bản dưới hình thức sách in (và ebook).

Tuy nhiên, khi tôi đang thực hiện các bản dịch, tôi đã không có hiểu biết về việc tạo ra một trang web có thể hiện thực hóa ý tưởng trên.

Và bây giờ chúng ta không cần kiến thức đó nữa bởi vì có một công cụ miễn phía dành cho WordPress có thể làm điều đó.

Được gọi là “CommentPress”, nó cho phép người đang dùng phần mềm WordPress có thể tạo ra một trang nơi người ta có để đặt văn bản ở bên tay trái của màn hình, và cho phép độc giả có thể viết bình luận về văn bản bên tay phải của màn hình.

Tôi mới dành ra 2 tiếng đồng hồ sáng này để cố gắng đưa nó vào hoạt động, nhưng tôi đã không thể thành công. Rồi cuối cùng tôi nhận ra rằng nó không hoạt động với phiên bản free của WordPress mà tôi dùng – WordPress.com (tôi ước tôi có thể chỉ ra điều đó sớm hơn một chút…). Thay vào đó, người ta cần phải hoặc trả tiền nâng cấp để có thể tùy nghi sử dụng WordPress.com hoặc người ta cần phải dùng WordPress.org.

WordPress.org là miễn phí, tuy nhiên bạn phải cài đặt nó trên server của riêng bạn (cái này không miễn phí, nhưng có không hề đắt nếu bạn dùng một dịch vụ như GoDaddy.com). Tôi chưa thực sự nghiên cứu cái này, nhưng tôi nghĩ việc tùy nghi sử dụng WordPress.com hay dùng GoDaddy.com để có được một tên miền và các dịch vụ host sẽ nằm vào khoảng 100USD năm (nếu một độc giả hiểu biết nào đọc bài này, có thể đính chính lại nếu tôi sai).

Giá đó đắt đối với một sinh viên nghèo, nhưng không quá đắt cho một cơ quan. Cuối cùng, nhiều cơ quan đã có miền server [riêng], trong trường hợp nào, họ cũng có thể dùng WordPress.org trên server hiện có của họ.

dvsktt

Vì vậy, quay trở lại các bản dịch tiếng Việt, cái tôi cần làm để khiến cho tri thức con người được nâng cao là tạo ra một trang dành cho “những bản dịch sống động” (tức là, những bản dịch “sống” bởi chúng luôn luôn có thể được cập nhật bởi những người để lại những lời bình luận) của những công trình lịch sử của Việt Nam. Hình ảnh trên đây là một ví dụ về diện mạo tương lai của nó.

Tôi không chắc liệu nó có khiến các nhà xuất bản tức giận hay không (trên thực tế, người ta đã có thể dễ dàng tìm thấy những bản dịch tiếng Việt trên mạng…) nhưng tôi nghĩ rằng nó thực sự có thể hỗ trợ các nhà xuất bản.

Bằng cách nào? Như thế này này:

Bạn đưa nguyên bản Đại Việt sử kí toàn thư và bản dịch tiếng Việt hiện đại trên một trang WordPress có dùng CommentPress. Bạn để cho mọi người bình luận về bản dịch đó chừng ít năm.

Rồi bạn để ai đó, hoặc một nhóm người, xem xét những bình luận đó, và rồi bạn “cập nhật” phiên bản Đại Việt sử kí toàn thư hiện tồn và xuất bản thành một “Phiên bản cập nhật, mới, 2015”!!!

Điều đó sẽ khiến cho phiên bản in của cuốn sách lôi cuốn hơn, và việc biên tập được hoàn thành miễn phí, bởi vì nó là “nguồn chung”. Cái giá duy nhất sẽ nằm trong việc mượn ai đó xem xét toàn bộ các bình luận và nguồn nhập vào để thấy những thay đổi mà họ chấp nhận.

Một “bản dịch sống động” và một bản dịch dưới dạng in hay ebook nên để ở khả năng cùng tồn tại. Sẽ là thú vị khi đọc một cuốn sách hay ebook hơn nhiều so với đọc một  văn bản với nhiều ngôn ngữ và bình luận. Tuy nhiên, với mục đích học thuật, những văn bản đa ngữ là rất quan trọng. Và sẽ là đặc biệt giá trị khi có thể thấy những bình luận mà mọi người viết, ở đó họ đề nghị nhiều bản dịch chính xác hơn (chẳng hạn những người như Trần Quang D Dức sẽ bình luận ở những đoạn có lỗi trong các bản dịch [các tư liệu] viết về trang phục).

Thư viện Quốc gia Việt Nam và Quỹ Bảo tồn chữ Nôm Việt Nam đã tạo ra một phiên bản đa ngữ của Đại Việt sử kí toàn thư, nhưng nó “đóng băng trong thời gian”. Những gì sai lầm trong bản dịch đó không thể thay đổi được.

Chúng ta nên có khả năng thay đổi những lỗi như thế, và để làm như vậy bằng một cách khiến cho người khác có thể dễ dàng thấy được những biến đổi (hơn là xuất bản chúng dưới dạng những cuốn sách mà mọi người có thể không bao giờ gặp). Giờ đây chúng ta có thể dễ dàng làm điều đó. Tất cả những gì chúng ta cần, đối với ai đó hay tổ chức nào đó, là hướng dẫn và thực hiện nó.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/06/03/creating-living-translations-for-vietnamese-history/

Có “mục đích” gì với blog này không?

17 Jun

Có “mục đích” gì với blog này không?

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi đoán tôi sẽ nói “đôi khi”

Nếu có một mục đích nào đó cho blog này thì đó là để chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc trong các công trình sử học. Đó là “mục tiêu” mà phần lớn các entry trong blog  này nhắm vào.

Nếu ai không quen với chủ đề về ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc đối với trước thuật sử học, thì có một chỗ để bắt đầu tự làm quen với chủ đề này là trang Wikipedia về “Sử học và Chủ nghĩa dân tộc” (Tôi không thường khuyến khích đọc Wikipedia, nhưng bài đó thì tốt)

Cũng có một danh sách những thứ cần đọc rộng hơn, tôi đính theo dưới đây, đưa lại một cảm quan về công việc đã được hoàn thành với chủ đề này. Trên thực tế, số lượng các bài báo và cuốn sách về chủ đề này đã được xuất bản trong 30 năm trở lại đây ở phương Tây có lẽ lên tới  con số hàng nghìn.

Chẳng hạn, với bất cws ai học hệ sau đại học (theo hệ thống Liên hiệp anh) hay đại học (theo hệ thống Hoa Kỳ) ở Châu Âu, Bắc Mỹ hay Australia, những khái niệm mà blog này quan tâm nên trở thành rất quen thuộc. Thực vậy, có một khối các khóa học ở vô số trường đại học được dành cho chủ đề về chủ nghĩa dân tộc và các cách thức ảnh hưởng khác nhau của nó lên các xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, đối với những người ở những nơi mà blog này hướng tới, vấn đề này không thực sự đơn giản, khi chủ đề về ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc đối với nền sử học đã không nhận được sự chú ý nhiều (có lẽ cá nhân thì có nhưng in ấn công khai thì không). Thực tế là, chủ nghĩa dân tộc vẫn tạo ra những ảnh hưởng đáng chú ý đối với học thuật (ở những mức độ khác nhau và bằng các cách thức khác nhau) xuyên qua không chỉ nhiều nước Đông Nam Á mà còn ở một số phần [khác] của châu Á.

“Mục đích” của nhiều entry trong blog này là nhằm chỉ ra điều đó.

Và đây là danh sách [tài liệu cần] đọc từ trang Wikipedia đươc đề cập ở trên (ai đó lập danh sách này có vẻ như có hứng thú với khảo cổ học, một lĩnh vực cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa dân tộc):

Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism (Verso, 1991 [2nd ed.]).

George C. Bond and Angela Gilliam, eds., Social Construction of the Past: Representation as Power (Routledge, 1994).

Margarita Díaz-Andreu, A World History of Nineteenth-Century Archaeology: Nationalism, Colonialism and the Past (Oxford University Press, 2007).

Margarita Díaz-Andreu and Tim Champion, eds., Nationalism and Archaeology in Europe (Westview Press, 1996).

Marc Ferro, The Use and Abuse of History: Or How the Past Is Taught to Children(Routledge, 2003).

Patrick J. Geary, The Myth of Nations: The Medieval Origins of Europe (Princeton University Press, 2002).

Ernest Gellner, Nations and Nationalism (Cornell University Press, 1983).

Eric J. Hobsbawm, Nations and Nationalism Since 1780 (Cambridge University Press, 1992).

Eric J. Hobsbawm and Terence Ranger, eds.. The Invention of Tradition(Cambridge University Press, 1992).

Philip L. Kohl, “Nationalism and Archaeology: On the Constructions of Nations and the Reconstructions of the Remote Past,” Annual Review of Anthropology 27(1998): 223-246.

Anthony D. Smith, The Ethnic Origins of Nations (Blackwell Publishers, 1988).

Ronald Grigor Suny, “Constructing Primordialism: Old Histories for New Nations,”The Journal of Modern History 73.4 (2001): 862-896.

Michael Bergunder, “Contested Past: Anti-Brahmanical and Hindu Nationalist Reconstructions of Indian Prehistory,” Historiographia Linguistica 31.1 (2004): 59-104.

Garrett G. Fagan, ed.), Archaeological Fantasies: How Pseudoarchaeology Misrepresents the Past and Misleads the Public (Routledge, 2006).

Philip L. Kohl and Clare Fawcett, eds., Nationalism, Politics and the Practice of Archaeology (Cambridge University Press, 1996).

Bruce Lincoln, Theorizing Myth: Narrative, Ideology, and Scholarship (University Of Chicago Press, 2000).

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/09/12/is-there-a-purpose-to-this-blog/

Hiển thị Đạo giáo triều Trần ở Việt Nam

6 Jun

Hiển thị Đạo giáo triều Trần ở Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi đang đọc một cuốn sách có tên Máy tính, Hiển thị và Lịch sử: Cách thức công nghệ mới sẽ biến đổi hiểu biết về quá khứ của chúng ta (Computers, Visualization, and History: How New Technology Will Transform Our Understanding of the Pastcủa  David J. Staley. Đây là cách tóm tắt cuốn sách trên bìa sau của nó:

Trong hàng trăm năm, các sử gia đã sử dụng văn xuôi – tự sự để nghiên cứu lịch sử. Điều này sẽ thay đổi nhờ vào công nghệ mới, học thuật số, và “sự hiển thị” vi tính hoá. Bản thân văn bản có những giới hạn rõ ràng: dùng quá nhiều từ ngữ – ý nghĩa và sự liên kết của chúng – định hình và giới hạn cách các sử gia nghĩ và trao đổi ý tưởng. Sự phát triển của máy tính đang thay đổi triệt để cách nhân loại tiếp nhận và xử lí thông tin. Các môi trường số và thực tại ảo đang bổ sung chiều thứ ba cho truyền thông và tạo ra một ngôn ngữ hiển thị mới”.

Image

Ngôn ngữ hiển thị về quá khứ mới mẻ này, giờ đây, đang được tạo ra bằng nhiều cách thức.  Tom Chandler ở Đại học Monash, chẳng hạn, đang phát triển những trình hiện 3D về đế chế Angkor, và đang nỗ lực để làm như vậy một cách chính xác nhất có thể, bằng cách dựa vào, ví như, công trình của các nhà khảo cổ học để xác định chiều cao của người thời đó, và bằng cách dựa vào những văn bản, văn bia và bích hoạ để xác định xem họ phục sức thế nào.

Trong khi đó, những người khác, đã cố gắng tái tạo chính xác cái mà các phi công Nhật, những người đã ném bom Trân Châu cảng, đã nhìn thấy buổi sáng hôm ấy, bằng cách xác định chính xác diện mạo địa hình đúng lúc bấy giờ, rồi vị trí của mặt trời, tình trạng ánh sáng mặt trời,v.v…

Trong khi những kiểu hiển thị đó là những nỗ lực để xem xét diện mạo thế giới thực trong những thời điểm khác nhau, thì các học giả khác đang cố gắng để hiển thị những thông tin hay dữ liệu. Khi chúng ta có một số lượng lớn dữ liệu hay thông tin mà chúng ta muốn nó trở nên có ý nghĩa, những cách tìm tòi để hiển thị các thông tin hay dữ liệu đó là một cách để biến mong muốn đó thành hiện thực.

Gần đây tôi đang nghĩ rằng các cách tìm tòi để hiển thị những gì mà chúng ta “biết” về lịch sử Việt Nam là một cách tốt cho chúng ta để kiểm tra tri thức của mình. Chẳng hạn, như hiểu biết của chúng ta về Đạo giáo.

Thỉnh thoảng tôi nghe người ta bàn về “Đạo giáo triều Trần” hay “Đạo giáo trong thời Lý Trần”,v.v… Vậy, chúng ta thực sự biết gì về Đạo giáo trong suốt giai đoạn nhà Trần nắm quyền?

Chúng ta biết rằng, trong một số dịp vị Hoàng đế [triều Trần] đội một cái mũ bắt nguồn từ Đạo giáo. Chúng ta biết rằng có những thuật sĩ của Đạo giáo đã tiến hành cầu mưa. Chúng ta biết rằng có ít nhất một Đạo sĩ đến từ Phúc Kiến và ẩn cư trong một hang động. Và … đó là tất cả những gì chúng ta biết (dĩ nhiên, tôi đang phóng đại sự việc ở một mức độ nào đó).

Nếu chúng ta nghĩ ngay về tình trạng hạn chế thông tin của mình, chúng ta hẳn có thể cảm thấy khó khăn thế nào khi nói về “Đạo giáo” ở thời Trần, nhưng nếu chúng ta có một cách để hiển thị điều này, thì tôi nghĩa luận điểm đó sẽ còn sáng rõ hơn.

Chẳng hạn, nếu chúng ta có thể tìm cách lấy trong Đại Việt sử kí toàn thư những ví dụ ở thời Trần có liên hệ với các sinh hoạt mà chúng ta gắn nó với “Nho giáo”, “Phật giáo” và “Đạo giáo”, và rồi hiển thị những thông tin đó, chúng ta sẽ thấy gì?

Tôi đoán rằng chúng ta sẽ nhận ra khi chúng ta bàn về “Đạo giáo triều Trần”, chúng ta thực sự đưa ra ý tưởng/khái niệm đó dựa trên những thông tin rất ít ỏi.

Thay vào việc có những sự truyền dạy hay truyền thống hoặc tổ chức mà chúng ta có thể mệnh danh là “Đạo giáo”, điều chúng ta sẽ nhận ra là: tất cả những gì chúng ta biết chỉ là vị Hoàng đế đội một cái mũ, ai đó cầu mưa, và có một vị nào đó sống trong một hang động. Chúng ta có thể gọi đó là “Đạo giáo triều Trần” chăng?

Một lần nữa, ở đây tôi đang phóng đại sự việc một chút, nhưng luận điểm của tôi muốn nói là: nhiều thứ chúng ta nói về quá khứ có lẽ sẽ hết vị nếu chúng ta có thể hiển thị những điều mà những từ ngữ chúng ta đang nói biểu thị. Bởi vì những điều chúng ta nói, và thông tin mà chúng ta dựa vào đó để đưa ra những nhận định, thường khá khác nhau.

Nếu chúng ta cố gắng hiển thị những điều chúng ta bàn bạc, tôi nghĩ chúng ta sẽ “thấy” điều này, vừa về mặt thị giác vừa về mặt nhận thức.

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/06/06/visualizing-daoism-in-tran-dynasty-vietnam/

%d bloggers like this: