Archive | Trao đổi RSS feed for this section

Trần Quốc Vượng và “phương pháp vận dụng lựa chọn” trong việc nghiên cứu quá khứ

8 Nov

Trần Quốc Vượng và “phương pháp vận dụng lựa chọn” trong việc nghiên cứu quá khứ

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi đang đọc một bài tiểu luận được kèm trong một tập bài viết của cố [học giả] Trần Quốc Vượng trong đó ông khuyến khích người ta nghiên cứu về cái mà ông gọi là “vấn đề Hùng vương”.

Mục đích của việc nghiên cứu vấn đề này, Trần Quốc Vượng khẳng định, không phải là cố gắng nhằm tìm ra cái gì đó cụ thể về một vua Hùng cụ thể, mà thay vào đó là nhằm tập trung vào “con người, xã hội và dân tộc ta trong thời đại Hùng Vương, nghiên cứu nền văn hoá cổ Việt Nam thời đại Hùng vương – thời đại bắt đầu dựng  nước của lịch sử Việt Nam” [nguyên văn tiếng Việt của Trần Quốc Vượng – HQV].

Trần Quốc Vượng tiếp tục tiểu luận này với lập luận rằng cách tốt nhất để làm việc đó là sử dụng “phương pháp vận dụng tổng hợp”, phương pháp tổng hợp các thông tin và những hiểu biết sâu sắc từ sử học và các ngành khác.

Nhìn bề ngoài, đây là một ý  tưởng hay, tuy nhiên cái cách Trần Quốc Vượng sử dụng trên thực tế phương pháp  vận dụng tổng hợp đó trong tiểu luận này thì mang tính lựa chọn và có sơ hở.

cover

Trần Quốc Vượng lập luận trong tiểu luận này rằng có 15 “bộ lạc” trước và trong thời kì Hùng Vương.  Trên thực tế, chỉ có một văn bản lịch sử (cuốn Đại Việt sử lược ở thế kỉ XIV) đề cập đến các bộ lạc. Các văn bản lịch sử khác (như Đại Việt sử kí toàn thư ở thế kỉ XV) đề cập đến các “bộ”.

Tuy nhiên,  có một vấn đề lớn hơn, và một sự thực là các văn bản ghi chép thông tin về các bộ/bộ lạc này muộn hơn 1500 năm so với thời điểm chúng được cho là đã từng tồn tại, và tất cả những cái tên bộ lạc/bộ đó được viết bằng chữ Hán cổ, với một số tên gọi có niên đại thời nhà Đường (618-907 sau Công nguyên).

Trần Quốc Vượng lưu ý rằng các học giả đã bàn luận về vấn đề này trước đây, nhưng ông khẳng định rằng chúng ta có thể đi đến một kết luận về vấn đề này, và ông trích dẫn một tuyên bố của sử gia Đào Duy Anh năm 1964 để cho biết điều mà chúng ta có thể kết luận:

“[chúng ta] có thể đoán rằng khi các sử gia xưa của nước ta muốn cho nước Văn Lang trong truyền thuyết một nội dung cụ thể thì họ đã lấy các tên đất ở các đời từ nhà Đường về trước, chọn lấy một số tên, một là nhằm cho đủ số 15 bộ trong truyền thuyết, hai là nhằm làm thế nào để cho 15 tên đất ấy trùm được cả địa bàn sinh tụ của tổ tiên ta ở thời Hùng Vương” [nguyên văn tiếng Việt trong bài của Trần Quốc Vượng – HQV].

vl

Tuyên bố này của Đào Duy Anh dựa trên nhiều giả định khác nhau mà Đào Duy Anh không cung cấp chứng cớ chứng minh. Để lập luận rằng các sử gia trung đại đã cố gắng đưa “nội dung cụ thể”  vào các truyền thuyết từ thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên, Đào Duy Anh lẽ ra cần cung cấp chứng cứ cho thấy rằng các truyền thuyết đó thực sự có niên đại ở thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên. Ông lẽ ra cùng cần cho thấy khả năng có thể lưu truyền thông tin đó (rõ ràng là truyền miệng) qua cả hơn nghìn năm. Tuy nhiên, Đào Duy Anh không làm việc này.

Trong khi đó, Trần Quốc Vượng tránh đối diện với một sự thật là một công trình lịch sử đề cập đến 15 “bộ lạc”, trong khi công trình khác đề cập đến 15 “bộ”. Lời khẳng định  nào trong số đó là đúng đắn về mặt lịch sử? Làm thế nào chúng ta biết?

Cuối cùng, Trần Quốc Vượng bắt đầu tiểu luận của mình với những giả định còn rộng hơn bằng việc thừa nhận rằng “nước ta” đã tồn tại trong suốt “thời đại Hùng vương” và rằng vì vậy nền văn hoá của thời đại đó là “nền văn hoá cổ Việt Nam”.

Vậy là thông tin “lịch sử” trong tiểu luận này được xây dựng trên một số lớn những giả định không được chứng minh bằng các chứng cứ lịch sử, và từ những giả định đó, Trần Quốc Vượng tiếp tục đưa ra một số ý tưởng của riêng mình. Cụ thể, ông căn cứ vào một số cái tên của những “bộ lạc” được nói đến đó rồi đưa ra lập luận rằng chúng ta có thể đọc qua chữ Hán được dùng để viết những cái tên đó (khoảng 1500 năm sau  thời điểm những bộ lạc đó được cho là đã tồn tại) để thấy được tên của các loại chim (Mling, Bling, Kling Klang, Blang), những loại chim mà Trần Quốc Vượng cho là bái vật của một số bộ lạc ở thời đại Hùng Vương.

bird

Phương pháp này sai ở chỗ nào? Vấn đề là chỗ Trần Quốc Vượng căn cứ vào thông tin không được kiểm tra bằng bất kì phương pháp nào (qua các văn bản lịch sử hoặc các chứng cứ khảo cổ học) – ví như ý tưởng rằng có 15 “bộ lạc” ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên – và rồi ông phát triển các ý tưởng dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng này, những thông tin mà sau đó ông tin là có thể giúp chứng minh rằng những thông tin chưa được kiểm chứng kia là đúng.

Chẳng hạn, trong tiểu luận này, Trần Quốc Vượng tin rằng các ý tưởng về ngôn ngữ học mà ông đưa ra giúp chứng minh sự tồn tại của 15 bộ lạc được đề cập trong các “truyền thuyết”. Tuy nhiên, điều này không đúng vì các ý tưởng của ông không trả lời được bất kì câu hỏi nào xung quanh những thông tin chưa được kiểm chứng đang tồn tại.

Việc nói rằng “Mê Linh” thực chất là tên của một loại chim, Mling, không cho chúng ta thấy bằng cách nào thông tin này có thể được truyền miệng trong 1000 năm. Nó cũng không lí giải được vì sao một văn bản thời trung đại đề cập đến 15 “bộ lạc” trong khi văn bản khác đề cập đến 15 “bộ”. Và nó không lí giải được tại sao một số trong 15 “bộ lạc/bộ” đó được đặt tên sau khi những địa danh ấy chỉ xuất hiện ở thời nhà Đường.

Thay vào đó, Trần Quốc Vượng lảng tránh toàn bộ những vấn đề quan trọng này, và phá triển những ý tưởng của mình dựa trên những giả định thiếu căn cứ.

lac

Do đó, đây không phải là “phương pháp vận dụng tổng hợp” trong việc nghiên cứu quá khứ. Nó là một “phương pháp vận dụng lựa chọn” trong việc nghiên cứu quá khứ. Trần Quốc Vượng lựa chọn thông tin mà ông muốn dùng, rồi phát triển các ý tưởng của mình từ những thông tin đó.

Phương pháp gì tốt hơn cần có để xem xét những vấn đề này? Trước hết, nhất thiết phải chứng minh rằng một truyền thống truyền miệng có thể được lưu truyền qua một khoảng thời gian 1500 năm trước khi nó được ghi chép lại. Chứng cứ như thế không tồn tại ở đồng bằng sông Hồng, vì vậy học giả phải tìm chứng cứ ở khác vùng khác trên thế giới cho thấy điều có thực sự có thể xảy ra, và rồi sử dụng các chứng cứ đó để nói rằng: “trong khi chúng ta không có chứng cứ gì ở đồng bằng sông Hồng cho thấy những “truyền thuyết” đó được truyền miệng trong 1500 năm trước khi nó được ghi chép lại trong văn bản, chúng ta biết rằng điều này đã xảy ra ở XXX, và vì vậy, về mặt lí thuyết có khả năng  điều đó cũng đã xảy ra ở đồng bằng sông Hồng”.

Về 15 “bộ lạc”, các học giả Việt Nam hiện đại đã chỉ ra tầm quan trọng của khảo cổ học trong việc tìm hiểu quá khứ. Điều này  xem ra là một vấn đề hoàn hảo để khảo cổ học lí giải. Các nhà khảo cổ học đã tìm ra 15 tổ hợp văn hoá khác nhau ở đồng bằng sông Hồng hay chưa? Họ đã tìm thấy những chứng cứ về 15 bái vật ở đồng bằng sông Hồng hay chưa?

Nếu có chứng cứ ở đâu đó trên thế giới cho thấy khả năng một truyền thuyết có thể được lưu truyền trong 1500 năm trước khi nó được ghi chép lại, và nếu có chứng cứ từ ghi chép khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng cho thấy có 15 nhóm người riêng biệt ở thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên, thì chúng ta có thể lập luận dứt khoát rằng những “truyền thuyết” như truyền thuyết mà Trần Quốc Vượng xem xét trong tiểu luận này đã dựa trên sự thực lịch sử nào đó.

Tuy nhiên,  đây không phải là cách Trần Quốc Vượng làm. Thay vào đó, ông dựa vào nhiều giả định – rằng có một quốc gia/dân tộc ở thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên ở đồng bằng sông Hồng, rằng nó bao gồm 15 bộ lạc,… – và rồi ông tạo ra những ý tưởng của riêng mình để “chứng minh” rằng những ý tưởng được giả định đó là đúng.

Đây không phải là loại sử học có giá trị, bởi những ý tưởng mà Trần Quốc Vượng tạo ra không giải quyết bất kì vấn đề hiện tồn nào xung quanh các ý tưởng mà ông dựa vào. Ông đơn thuần lờ đi các vấn đề lịch sử đích thực, và rồi dựng nên các ý tưởng của mình.

Đây là bài tiểu luận tôi đang nhắc đến: Tu Truyen Thuyet, Ngu Ngon Den Lich Su

 

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/11/04/tran-quoc-vuongs-selective-applied-approach-to-studying-the-past/

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

26 Oct

Thuyết về sự di cư của người Việt/Yue và “lối tiếp cận mạng lưới ẩn”

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Có một thuyết xuất hiện ở đầu thế kỉ 20 cho rằng ở cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch, người Việt đã di cư đến đồng bằng sông Hồng từ quê hương gốc ở một vùng mà ngày nay là Đông Nam Trung Quốc.

Ý tưởng này đầu tiên do Edouard Chavannes đề xuất vào năm 1901, rồi sau đó được Leonard Aurousseau phát triển thêm vào năm 1923. Ngày nay thuyết này không còn được tin, mặc dù người ta vẫn có thể thấy nó được đề cập đến. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là nhiều người biết vì sao thuyết này vô nghĩa.

Ở Việt Nam thời hậu thuộc địa, lí thuyết này dần bị bác bỏ vì bị xem là “mang tính thực dân”, tôi đoán vậy bởi nó khẳng định rằng người Việt đến từ một nơi bên ngoài Việt Nam. Tuy nhiên  tôi không thấy việc khẳng định rằng kiểu học thuật đó là “mang tính thực dân” giải thích được gì nhiều.

Vâng, có những vấn đề với học thuật của Chavannes và Aurousseau, nhưng tôi không quy những vấn đề đó cho quan điểm “thực dân”. Thay vào đó, những vấn đề đó đôi khi phụ thuộc vào kiểu học thuật cẩu thả, và hơn nữa là vào cái mà tôi gọi là một phương pháp luận sơ hở, mà chúng ta có lẽ có thể gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nhìn nhận quá khứ.

cover1

Trong một cước chú ở tập 4 (a footnote in the fourth volume) của bản dịch 5 tập cuốn Sử kí của Tư Mã Thiên, Edouard Chavannes đưa ra thuyết rằng “chủng tộc An Nam” là hậu duệ của dân một vương quốc Việt cổ. Vương quốc đó chiếm cứ một khu vực ngày nay là phần phía bắc của tỉnh Triết Giang, và nó bị nước Sở tiêu diệt ở thế kỉ IV trước Công nguyên.

Sau đó, theo  Chavannes, có nhiều chính thể hình thành từ những “mảnh vỡ” của nước Việt, như Nam Việt ở khu vực ngày nay là Quảng Đông, Mân Việt ở tỉnh Phúc Kiến ngày nay, và Việt Đông Hải ở tỉnh Triết Giang ngày nay.

vol-4-page-418

Chavannes cho rằng “những nước này chắc chắn có liên hệ với chủng tộc An Nam”, và ông đưa ra hai chứng cứ để củng cố tuyên bố này.

Thứ nhất, ông trích dẫn cuốn Lịch sử An Nam (Cours d’histoire annamite) của Trương Vĩnh Kí để khẳng định rằng các sử gia An Nam xem “Nam Việt Vương” là đã dựng nên triều đại thứ ba của “An Nam”.

Thứ hai, ông lưu ý rằng kinh đô của nước Việt Đông Hải là Đông Âu (nghĩa đen Âu phía Đông), và rồi trích dẫn cuốn Nghiên cứu lịch sử và khảo cổ của Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc cổ [Étude historique et archéologique sur Co-Loa, capitale de l’ancien royaume de Âu Lc (255-207 av. J.-C.) (Paris, E. Leroux, 1893)] của Gustave Dumoutier, để nhắc rằng các sử gia An Nam cho rằng có một nước An Nam có tên Tây Âu (nghĩa đen, Âu phía Tây) có kinh đô là Cổ Loa ở đồng bằng sông Hồng.

Dựa trên những thông tin trên, Chavannes kết luận rằng Đông Âu, Nam Việt và Tây Âu đều là bộ phận của một chủng tộc An Nam đơn nhất.

dumoutier

Có nhiều vấn đề  với ý tưởng này của Chavannes. Trước hết, “Nam Việt Vương” mà Chavannes nhắc đến là Triệu Đà và hậu duệ của ông, những người ít nhất có nguồn gốc thuộc sắc tộc Hán như chúng ta gọi ngày nay, tức là, những người đến từ các vùng phương Bắc (Triệu Đà là người Hà Bắc), và không phải là thành viên của cư dân bản địa trong khu vực này, hay có liên hệ với những nhóm dân từ nước Việt cổ. Vì vậy thực tế nước này trở thành một phần của truyền thống lịch sử Việt không có nghĩa nó tương đồng “về chủng tộc”.

Thứ hai, trong công trình nghiên cứu năm 1893 về thành cổ Cổ Loa, Gustave Dumoutier khẳng định rằng “[sách] địa lí của Cố Hi Phùng顧nói rằng dưới triều nhà Chu, nước bị Giao Chỉ chiếm cứ được gọi là Lạc Việt, và dưới triều Tần tiếp theo nó lấy tên là Tây Âu hay Âu Lạc” (tr.8).

Cố Tây Phong là Cố Dã Vương顧野王(518-581), tác giả của một công trình thế kỉ 6 có tên Dư địa chí (Yudi zhi 輿地志), và đoạn văn mà Dumoutier dẫn ra được đề cập trong một bản chú giải thế kỉ 8 cho Sử kí của Tư Mã Thiên. Đây là những gì nó viết:

Dư địa chí chép: Giao Chỉ ở thời Chu là Lạc Việt, đến thời Tần gọi là Tây Âu, Họ xăm mình, cắt tóc để tránh rồng rắn. Thế thì Tây Âu Lạc lại ở phía Tây Nam của Phiên Ngô. Việt và Âu Lạc đều có họ là Mị/Mi”. [輿地志云:交趾周時為駱越,秦時曰西甌,文身斷髮避龍。則西甌駱又在番吾之西南。越及甌駱皆羋姓也。]

shiji

 

Đoạn văn này rất không rõ ràng ở chỗ nó có nhiều danh xưng. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Dumoutier đã “giản hoá” nó bằng việc nói rằng khu vực ngày nay là đồng bằng sông Hồng ở thời nhà Tân được gọi là Tây Âu hay Âu Lạc.

Dumoutier thực sự không nói rằng Cổ Loa là kinh đô của Tây Âu. Và ông cũng không nói rằng các sử gia An Nam đã nói như thế. Tuy nhiên, đây là điều mà Chavannes đã nói trong sách của mình (bằng việc trích dẫn trang 8 sách của Dumoutier).

Vậy là dứt khoát có loại học thuật cẩu thả ở đây. Tuy nhiên, hơn thế nữa, những ý tưởng mà Chavannes trình bày cũng có vấn đề. Đầu tiên, ông đánh đồng địa danh (hoặc tên các nước) với chủng tộc. Song le, nếu chúng ta đang dùng quan niệm về chủng tộc để xem xét quá khứ thì chúng ta biết rằng Triệu Đà thuộc về một “chủng tộc” khác (tôi nghĩ Chavannes đang dùng thuật ngữ “chủng tộc” để nói về cái gì đó gần hơn với khái niệm mà chúng ta ngày nay gọi là “nhóm sắc tộc”) với nhiều nhóm dân cư mà ông cai trị trong nước Nam Việt của mình, vì vậy thực sự là vô nghĩa khi đánh đồng địa danh với các chủng tộc đơn nhất.

Thêm nữa, chỉ có mỗi một nguồn tư liệu mà chúng ta có thể dùng để khẳng định rằng đồng bằng sông Hồng ở thời Tần được gọi là Tây Âu (cuốn Dư địa chí của Cố Dã Vương), nhưng một là, văn bản này được viết nhiều thế kỉ sau đó, hai là, biết rằng văn bản này chứa đựng khác nhiều danh xưng khác nhau, khó mà thấy rằng từ “Tây Âu” thực sự có ý nghĩa.

Tuy nhiên, đối với Chavannes, từ “Tây Âu” rất quan trọng, như thể nó đóng vai trò một bản sao của từ Đông Âu.

nodes-and-links

Điều này đem chúng ta đến cái mà tôi gọi là “lối tiếp cận mạng lưới ẩn” khi nghiên cứu quá khứ. Nếu chúng ta xem xét quá khứ theo cái cách Chavannes trình bày các ý tưởng của mình, thì nó cứ như thể ông đang khám phá một mạng lưới ẩn các điểm nút và đường nối trong ghi chép lịch sử.

Các chính thể – Việt, Nam Việt, Tây Âu – cũng như thành, Đông Âu, đều đóng vai trò những nút mà Chavannes sau đó khám phá ra các đường nối để nối chúng.

Đông Âu và Tây Âu được nối với nhau bởi từ chung là “Âu”, cũng giống như việc cặp đôi “tây” và “đông”.

Tây Âu và Nam Việt được nối với nhau bởi thực tế là các sử gia Việt xem Nam Việt là triều đại thứ ba trong sử của họ.

Và rồi khi mà Nam Việt được nối với Tây Âu, và Tây Âu được nối với Đông Âu, thì có vẻ như đối với Chavannes rõ ràng là Việt phải là bộ phận của đường nối này.

map

Tôi đã nhận thấy rằng các học giả như Henri Maspero cũng khảo sát quá khứ theo một lối tương tự. Đối với tôi, lối tiếp cận này quá rắc rối, và nó sẽ sụp đổ một khi người ta bắt đầu chỉ ra những vấn đề liên quan đến một số đường nối trong mạng lưới đó.

Vì vậy thuyết mà Chavannes đưa ra vào năm 1901 này có ít nhất 3 vấn đề liên quan:

  • Nó chứa đựng một số lỗi do cẩu thả.
  • Nó có vấn đề khi đánh đồng chủng tộc với địa danh.
  • Nó áp dụng một lối tiếp cận khi khảo sát quá khứ không hiệu quả nhằm việc diễn giải quá khứ.

Trong khi thuyết mà Chavannes đưa ra này có những giới hạn như thế, như tôi đề cập ở trên, thì năm 1923 Leonard Aurousseau phát triển nó xa hơn, Tuy nhiên, trong quá trình này, Aurousseau không đính chính những sai lầm này trong thuyết của Chavannes. Tôi sẽ cố gắng viết về công trình của Aurousseau một lúc nào đó sơm sớm.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/25/the-yueviet-migration-theory-and-the-hidden-network-approach/

Việc nhìn nhận của người Việt về sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ

24 Oct

Việc nhìn nhận của người Việt về sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Một độc giả có hỏi: ý niệm cho rằng thời gian một ngàn năm khi Đồng bằng sông Hồng là mộ bộ phận của các đế chế “Trung Hoa” khác nhau có thể được nhìn nhận như là cái gì đó đại loại như “một ngàn năm bị người Trung Hoa thống trị” [xuất hiện] ở đâu? Đó là một câu hỏi thú vị bởi vì trong các văn bản lịch sử của người Việt từ trước thế kỉ 20, thời kì này đơn giản được gọi là thời kì “Bắc thuộc”, một từ không có những ý nghĩa như là “thống trị” hay “thực dân”, những nghĩa sẽ được gắn với giai đoạn đó ở thế kỉ XX.

Vậy cái nhìn quá khứ đó đến từ đâu?

cover

Tôi vẫn chưa chắc chắn, nhưng tôi thấy quá khứ được trình bày theo cách đó trong một cuốn sách xuất bản năm 1910 có tên On & Off Duty in Annam (tạm dịch: Bận rộn ở An Nam) của Gabrielle M..Vassal, bà vợ người Anh của một bác sỹ quân y người Pháp ở Đông Dương từ 1907 đến 1910.

Khó để xác quyết Vassal đã lấy tri thức về lịch sử Việt Nam từ đâu. Có những khía cạnh trong đó ngày nay đã không còn được tin nữa, nhưng là điều đã được nhiều tác giả người Pháp khác nhau viết cho đến lúc bấy giờ – chẳng hạn thuyết cho rằng người Việt là bộ phận của một chủng tộc có dấu hiệu đặc trưng là ngón chân cái choãi ra (Giao Chỉ), và ý tưởng cho rằng đã có hai nhóm dân ở Đồng bằng sông Hồng vào thời cổ đại cạnh tranh với nhau (một số tác giả người Pháp đã diễn giải câu chuyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh theo cách này).

Tuy nhiên, có những ý tưởng khác mà Vassal có mà có vẻ như là hoặc sự sáng tạo của chính bà (như ý tưởng của bà rằng triều Hồng Bàng đã cai trị nước “Qui” (những con quỷ ngoại lai)”, một cách diễn giải thú vị ý nghĩa tên của đất nước huyền thoại Xích Quỷ). Dù sao, chúng ta hãy xem điều mà viết về thời sơ sử của người Việt, hay “người An Nam”, như bà gọi.

12

“Người An Nam là hậu duệ của người nước Giao Chỉ – từng được thiết lập ở miền Nam Trung Quốc. Giao Chỉ có nghĩa là ngón chân cái choãi ra; đây là một nét riêng biệt mà người An Nam chưa đánh mất, và cái giúp họ sử dụng ngón chân cái của họ theo một cung cách khéo léo nhất. Nước Giao Chỉ có thể được lần ngược tới thời cổ đại xa xôi nhất. Gần 3000 năm trước thời đại chúng ta, họ đã chiếm cứ Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Kỳ.

“Một hoàng tử Trung Hoa đã gửi con trai mình là Lộc Tục xuống cai trị Giao Chỉ. Đó là gốc gác của triều Hồng Bàng, triều đại cai trị nước Qui (những con quỷ ngoại lai) đó khoảng hơn 2000 năm. Chỉ đến thế kỉ III trước Công lịch chúng ta mới có thể thấy rõ thời đại truyền thuyết đó.

“Lúc bấy giờ những cuộc đấu đá nội bộ đã chia nước Giao Chỉ ra làm hai phần: nước Văn Lang cho những người ở đồng bằng và hạ du, nước Thái cho những người ở miền đồi núi. Trung Quốc nắm cơ hội đó thiết lập một triều đại mới của người Trung Hoa. Vào năm [nào đó] trước Công lịch, nó đã xâm chiếm nước này và giữ quyền cai trị cho đến năm 968 sau Công lịch. Người An Nam vì vậy chịu sự cai trị của các quan lại Trung Quốc, những người giáo đưa họ đến với nền văn minh Trung Hoa trong hơn một thiên niên kỉ. Văn học và mã luân lí của Khổng Tử đã định hình rõ tư tưởng và tôn giáo của người An Nam. Việc tinh thần dân tộc của họ vẫn sống được khẳng định từ thời này qua thời khác trong những cuộc khởi nghĩa liên tục và những cuộc nổi dậy anh hùng chống lại những kẻ xâm lược họ. Từ năm 39 đến 36 trước Công lịch, một phụ nữ An Nam, sau khi tuyên bố độc lập cho nước mình, đã đánh bật người Trung Quốc ra [khỏi An Nam] một thời gian, và cai trị dưới vương hiệu Trưng Vương.

“Nhưng tình hình không còn như vậy ở giữa thế kỉ X khi người nước ngoài bị đánh đuổi và triều đại dân tộc đầu tiên được thiết lập” (5-6).

22

Rồi Vassal tiếp tục nói về người Chăm và những dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, hay dân tộc mà bà gọi là “Mois” [Mọi?] như sau:

“Tự cầm đầu một đội quân 260.000 người, [Lê Thánh Tông] tấn công vào kinh đô của người Chăm và tiêu diệt họ. Trong 15 thế kỉ, người Chăm đã định cư ở một phần lớn của nước An Nam. Với tư cách là đại diện của nền văn minh Hindoo, họ đã để lại những công trình đáng chú ý gợi nhớ quá khứ huy hoàng của mình. Chỉ một số ít người sống sót hiện vẫn ở đó. Sự huỷ diệt nhanh chóng một chủng tộc văn minh và mạnh mẽ này của người An Nam là một vấn đề bắt nguồn từ lợi ích tối thượng”.

“Người Mois, mặt khác, đã sống sót qua những nhiễu loạn và những cuộc cách mạng trong lịch sử của đất nước. Dạt về phía những vùng rừng núi xa xôi của An Nam, họ đã giữ lại được những tập tục thời nguyên thuỷ của mình. Một bộ sưu tập không thống nhất những bộ tộc khốn khổ có thể được tìm thấy ở đó, những người đã dâng hiến tất cả cho tình yêu tự do của mình. Ở tất cả các sự kiện, họ đã thành công trong trong việc chiếm giữ những vùng nội địa mênh mông, thứ tài sản mà những láng giềng của họ thấy không đáng chiếm giữ khi tranh chấp với họ”(7).

32

Cách miêu tả quá khứ của Vassal phản ánh rất nhiều cách mà những người châu Âu có học nhìn nhận thế giới lúc bấy giờ (cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20), cái giai đoạn quan mà chúng ta có thể gọi là thời kì đỉnh cao của chủ nghĩa đế quốc.

Câu chuyện về “các dân tộc” và “các chủng tộc” đã chiến đấu vì “tự do” hoặc đối diện với “sự huỷ diệt” hay “thống trị”, và sự đối lập giữa các dân tộc “văn minh” và “nguyên thuỷ” là những biểu ngữ thuộc về thế giới quan của Tiến hoá luận xã hội đương thời.

Chúng ta không thể thấy cái quá khứ được trình bày như thế trong các văn bản do người Việt viết trước thế kỉ 20. Tuy nhiên, trong thế giới phương Tây lúc bấy giờ, người Trung Quốc thường được miêu tả bằng những lời lẽ tiêu cực, và được nhìn nhận như là đang lăm le giày xéo các vùng khác nhau bên ngoài Trung Quốc, như Philippines, Mỹ và Hawai:

“Nỗi lo sợ về một cuộc xâm chiếm của người châu Á không phải là một con ngáo ộp cũng không phải là một sự mê tín. Nó là một nguy cơ đe doạ và hiện hữu. Kỉ nguyên mới của Trung Quốc có nghĩa là kỉ nguyên của sự di cư một phần trong hàng triệu người đông đúc của nó. Tổ ong Mông Cổ tụ thành bầy. Chúng ta phải đuổi họ khỏi Mỹ hoặc họ sẽ tàn phá nền văn minh của chúng ta như những con châu chấu tàn phá mùa màng”. (Hawaii và người Trung Quốc, The San Francisco Call, October 24, 1897, page 6)

41

Vassal không có một cái nhìn tiêu cực như thế về người Trung Quốc, nhưng những bình luận trung tính của bà vẫn miêu tả người Trung Quốc như là có khả năng giày xéo đất nước ngoài, như Việt Nam:

“Người Trung Quốc cứ tự nhiên rất nhiều ở Đông Dương, sau nhiều thế kỉ họ giành được một vị trí hiếm có ở đây, và được gọi bằng một danh hiệu tôn trọng là “cai-chu” (các chú)(*). Trong tương quan với người An Nam, họ, như lợi thế họ có được, đều tỏ ra vượt trội một kín đáo hoặc xấc láo. Trừ ở Bắc Kì, họ nắm giữa toàn bộ hoạt động buôn bán nhỏ. Họ là những chủ hiệu vô địch, hiến mình cho công việc, thong minh, trung thực, và rất là đoàn kết với nhau. Họ không cày cấy ở đồng lúa, nhưng họ giữ độc quyền buôn bán gạo, xây dựng các nhà máy để xát lúa, thuê tàu để xuất khẩu nó… Họ có lẽ là những kẻ thực dân tốt nhất ở Đông Dương, và là những người kiếm được lợi lớn nhất. Có thể không có đòi hỏi phải đuổi họ trong hiện tại như người Mỹ đã làm ở Philippines (Đạo luật cấm người Trung Quốc). Người Pháp chỉ đơn thuần hạn chế sự nhập cư của người Trung Quốc bằng cách tăng các loại thuế của các Con Giời(**), để tái thiết lập lại sự hài hoà để ủng hộ người An Nam” (3).

51

Nói khác đi, theo Vassal, chỉ nhờ việc đánh thuế người Trung Quốc của người Pháp (và sự miễn cưỡng đóng thuế của người Trung Quốc) mà Đông Dương không bị người Trung Quốc tràn lấn, có liên quan đến việc làm nghiêng sự cân bằng chống lại người An Nam.

Thêm nữa, Vassal không đưa ra bất kì chỉ dấu nào cho thấy người Việt Nam cảm thấy bất cứ sự thù oán nào với người Trung Quốc. Bà đưa ra những ví dụ ở phần sau của cuốn sách (157-158) về việc người Trung Quốc đã thành công thế nào lúc bấy giờ trong việc khiến người Việt Nam đánh bạc mất sạch tiền, và bà nhiều lần cho thấy qua cuốn sách của mình việc người Trung Quốc đã làm thống trị như thế nào về kinh tế, nhưng bà không đề cập đến bất kì sự oán giận nào đối với người Trung Quốc vì bất kì việc gì như thế.

Cái nhìn của Vassal dĩ nhiên chỉ là một cái nhìn. Tuy nhiên, tôi nghĩ dễ dàng nhận ra việc làm thế nào bà có xu hướng nhìn nhận quá khứ theo cách đó. Bà đang sống trong một thế giới mà những vùng đất đang bị xâm chiếm và thực dân, và bà sống ba năm ở một thuộc địa của Pháp, nơi mà bà bị vây quanh bởi những chứng cứ cho thấy sự thống trị về kinh tế của người Trung Quốc.

Thêm vào đó là một thực tế Tiến hoá luận xã hội là một thế giới quan phổ biến lúc bấy giờ, và tôi nghĩ dễ hiểu được việc những người như Vassal sẽ nhìn sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ của Việt Nam như thế nào.

Về việc người Việt Nam rốt cuộc đi đến nhìn nhận sự thống trị của người Trung Quốc trong quá khứ như thế nào, tôi vẫn chưa chắc chắn, khi mà một năm sau khi Vassal xuất bản cuốn sách của mình, học giả Việt Nam Ngô Giáp Đậu đã viết về vai trò của người Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam rất khác.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/10/21/seeing-chinese-domination-in-the-vietnamese-past/#comments

Chú thích

(*) Độc giả Riroriro cho biết : “Cai-chu”, [hiểu là] chú  có lẽ là bị hiểu nhầm: “cai-chu đọc Nôm là “cách chú” còn Hán Việt là “khách trú” ( khách (客 guest ) trú ( 駐 s) ) có nghĩa là “người khách tạm thời”, chứ không có ý tôn trọng gì cả; trú đồng âm với chú  (nghĩa Nôm là “chú”).

(**) Nguyên văn Celestials: Ông Hà Hữu Nga cho biết: Celestials chỉ Thiên Tử, người Hoa Hạ. Trong tiếng Việt có từ “con giời/con trời” có lẽ dịch từ này với nghĩa châm biếm. Ở đây chúng tôi chọn dùng từ này. Xin cảm ơn ông Hà Hữu Nga đã chỉ giúp!

Bình Ngô đại cáo và sự xuất hiện của kiểu loại văn học phản kháng thời hiện đại

28 Aug

Bình Ngô đại cáo và sự xuất hiện của kiểu loại văn học phản kháng thời hiện đại
By Le Minh Khai
Người dịch: Hoa Quốc Văn

Một bình luận gần đây về Bình Ngô đại cáo, một tư liệu được viết vào cuối giai đoạn nhà Minh chiếm đóng đồng bằng sông Hồng đầu thế kỉ XV khiến tôi nghĩ về loại “văn học phản kháng” hay “văn học căn cước dân tộc” mà nhiều người ngày nay cho là tài liệu này thuộc về nó.
Một trong những chỗ đầu tiên mà tôi từng gặp được tài liệu này là trong một tuyển tập bản dịch các tư liệu do người Việt sáng tác qua nhiều thế kỉ có tên Những tấm gương ứng phó với sự can thiệp từ bên ngoài của người Việt: 1858 – 1900 (Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention: 1858-1900.) Các tài liệu trong tuyển tập này đều được dịch và chú sâu bởi học giả Trương Bửu Lâm, và được xuất bản năm 1967 vào lúc cao điểm của cuộc chiến tranh Việt Nam.
Trong khi tuyển tập này tập trung vào giai đoạn từ 1858 đến 1900, khi người Pháp đang thiết lập sự cai trị Việt Nam của họ, Trương Bửu Lâm gộp vào đó một số tư liệu sớm hơn để đặt “ứng phó với sự can thiệp từ bên ngoài” thế kỉ XIX trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn.
Những tài liệu sớm hơn này ngày nay đều rất nổi tiếng, tức là bài Nam Quốc sơn hà mà một số người cho là của Lý Thường Kiệt, bài hịch của Trần Hưng Đạo hướng tới binh lính của mình (thường được biết đến dưới cái tên Hịch tướng sĩ), Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và lời hịch của Nguyễn Huệ kêu gọi quân đội của ông.
Trên thực tế, nhiều tác phẩm ở Việt Nam ngày nay gọi tư liệu đầu tiên và thứ ba trên đây là những “tuyên ngôn độc lập”, và tất cả các tư liệu đó nhiều lần được viện dẫn như là minh chứng cho một “ý thức dân tộc” dài lâu và về một truyền thống “chống ngoại xâm” dài lâu không kém.
Tuy nhiên, liệu chúng ta có biết rằng đây là cách mà những tư liệu này luôn được hiểu và chúng có nghĩa gì hay không?
Khoảng hơn một thập kỉ trước khi Trương Bửu Lâm thực hiện bản dịch tiếng Anh cho Bình Ngô đại cáo, Ưng Quả đã công bố bản dịch tiếng Pháp của cũng tư liệu đó trên tờ Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient (46.1 [1952]: 279-95).
Trong lời dẫn nhập cho bản dịch của mình, Ưng Quả lưu ý rằng nguyên bản Bình Ngô đại cáo đã xuất hiện trong quá khứ trong những văn bản như Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, và những văn tuyển như Hoàng Việt văn tuyển và Ức Trai [di] tập.
Hơn nữa, Ưng Quả cũng khẳng định rằng Bình Ngô đại cáo đã được truyền miệng trong giới tinh hoa hàn lâm những người học để đi thi thời trước khi họ xem nó như là một “kiểu mẫu của thể loại”.
Nếu đó là sự thật, thì nó hợp với “thể loại” nào? Liệu có một phần nào đó trong các cuộc thi nói về “văn học phản kháng” hay “tuyên ngôn độc lập” hay không? Một sự xem xét cái cách Bình Ngô đại cáo xuất hiện trong bộ văn tuyển cuối thế kỉ XVIII, Hoàng Việt văn tuyển, có thể giúp trả lời những câu hỏi này.
“Bình Ngô đại cáo” có thể được tìm thấy trong chương 15 của Hoàng Việt văn tuyển, chương dành cho các thể “cáo”, “chế” và “sách”. Điều này là do mục đích của Hoàng Việt văn tuyển không phải để chứng minh cho bất kì dạng chủ đề hay tư tưởng chủ đạo nào, mà thay vào đó, là để cung cấp những mẫu của những bài văn hay thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Chương 1 vì vậy được dành cho thể cổ phú. Chương 2 dành cho thể kí, như những ghi chép về các chuyến du hành đến các địa điểm khác nhau. Chương 3 là tuyển các bài minh, và chương 4 bao gồm các bài văn tế.
Có tất cả các thể văn mà giới tinh hoa có học thức lúc bấy giờ cần thông thạo, và Bình Ngô đại cáo được đưa vào tuyển tập các bài văn này như là kiểu mẫu cho một thể văn mà các học giả có hoài bão cần phải học.
Vậy thì làm thế nào Bình Ngô đại cáo được chuyển từ một kiểu mẫu của một thể văn mà các học giả cần học thành một kiểu mẫu của “văn học phản kháng”? Để điều đó xảy ra, nhiều thứ khác phải xảy ra. Cụ thể, một thế giới quan tổng thể phải thay đổi, và đây rõ ràng là cái đã xảy ra ở Việt Nam ở thế kỉ XX.
Chúng ta có thể thấy những hệ quả của những biến đổi này trong các công trình như cuốn Việt Nam tranh đấu sử của Phạm Văn Sơn. Được xuất bản năm 1949 ở lúc cao điểm của cuộc kháng chiến chống Pháp, bài “Bình Ngô đại cáo” không được bàn đến trong cuốn sách này như là một kiểu mẫu hoàn hảo của một thể văn mà các học giả cần học hỏi, bởi các học giả không cần học cách viết các bài cáo tí nào. Thế giới ấy đã kết thúc rồi.
Thay vào đó, “Bình Ngô đại cáo” được giới thiệu trong cuốn sách này (cùng với bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo) với tư cách một tác phẩm có dụng ý khích lệ người ta chiến đấu.
Người ta chiến đấu cho cái gì? Tất nhiên là dân tộc, như Ưng Quả đã giải thích 3 năm về trước, đây là ý nghĩa lớn nhất của Bình Ngô đại cáo – nó chứng minh cho sự tồn tại của một tình cảm dân tộc.
Những công trình trước đó như Hoàng Việt văn tuyển và Đại Việt sử kí toàn thư không lí giải tầm quan trọng của Bình Ngô đại cáo như thế. Trên thực tế, chúng không nói vì về tư liệu này. Tuy nhiên, khi chúng ta xemm xét Bình Ngô đại cáo trong Hoàng Việt văn tuyển bên cạnh các bài văn khác không dính dáng gì đến tình cảm dân tộc, chúng ta dù sao cũng có thể hiểu được tư liệu này đã được nhìn nhận theo cách thức khác biệt thế nào trong quá khứ.
Tương tự, khi chúng ta nhìn vào cái cách nó được giới thiệu trong một công trình hiện đại như Việt Nam tranh đấu sử của Phạm Văn Sơn, chúng ta cũng có thể thấy được nguồn gốc cái nhìn hiện tại về tư liệu này.
Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/08/26/the-binh-ngo-dai-cao-and-the-modern-emergence-of-resistance-literature/

Nhà nghiên cứu lịch sử hay kẻ “đốt đền”?

17 Jun

Từ bài báo của Ð.Cô-xi-rép (D. Kosyrev) và việc RIA Novosti phải gỡ bỏ bài báo này, nhìn rộng tới một số công trình, bài viết về lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam, có thể thấy việc làm của Ð.Cô-xi-rép không phải là hiện tượng đơn lẻ trong giới nghiên cứu Việt Nam học và Ðông phương học hiện nay.

 

Gần đây trong bài Những người vẽ bản đồ tiền hiện đại và vấn đề chủ quyền của L.C Ken-li (L.C Kelley) ở Trường đại học Ha-oai trên blog cá nhân có đăng mấy tấm bản đồ cổ. Ðăng kèm theo bản đồ, tác giả lý sự rằng, khi bản đồ không có biểu hiện về biên giới thì khái niệm chủ quyền là không có! Với lối nghiên cứu “hiện đại hóa quá khứ” như thế, L.C Ken-li đã lấy cái cá biệt thay cái toàn thể, bỏ qua nhiều tấm bản đồ biểu thị rất rõ các nội dung hoàn toàn bác bỏ lý sự của ông ta. Và dù từng viết: “Chủ quyền được chứng minh không phải bằng việc đưa cái gì đó lên một tấm bản đồ, mà là đưa ra một sự hiện diện nhà nước liên tục ở một khu vực. Nhà Nguyễn là chính quyền đầu tiên đã cố gắng làm như vậy ở Hoàng Sa, và người Pháp đã thiết lập một sự hiện diện nhà nước lâu dài hơn ở đó trong thập niên 1930s. Ðó là chứng cứ ủng hộ cho một tuyên bố chủ quyền”, thì trong bài viết khác, ông lại đưa ra kết luận: “với tôi có vẻ như có một thực tế là người Pháp là những người đầu tiên chứng minh “sự thể hiện hòa bình và liên tục quyền lực nhà nước” đối với Paracels” (Paracels – Hoàng Sa).

Trong các thế kỷ trước ở Việt Nam, chủ quyền chưa tồn tại với tư cách là một khái niệm khoa học, nhưng không vì thế quan niệm về chủ quyền lại không tồn tại trong ý thức dân tộc. Bởi vậy từ thế hệ này đến thế hệ khác, Việt Nam luôn có các vị anh hùng, các tấm gương hy sinh để bảo vệ chủ quyền đất nước, mà với quần đảo Hoàng Sa thì “Ðội hùng binh Hoàng Sa” và “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” là thí dụ. Nhưng có lẽ L.C Ken-li cố tình không nhận ra, tương tự như trước đây, ông không thể lý giải tại sao người Việt Nam lại đánh thắng đội quân xâm lược nhà Tống, nhà Minh, vì theo ông người Việt đã bị “Hán hóa” và triều cống là một biểu hiện của sự lệ thuộc! Hoặc với Bình Ngô đại cáo, ông lý giải một cách kỳ quái rằng, tác phẩm này là sự răn đe những người Việt đi theo quân Minh, bất chấp việc trong Bình Ngô đại cáo không có câu chữ nào đề cập tới nội dung đó!

Mấy năm qua, “tiếng tăm” của L.C Ken-li nổi lên không phải vì ông có đóng góp trong ngành Việt Nam học, mà chủ yếu là do một số công trình và bài viết có quan điểm gây tranh cãi. Biết tiếng Việt và tiếng Trung, say mê nghiên cứu Việt Nam, thậm chí lấy tên Việt là Lê Minh Khải,… L.C Ken-li được người đọc tin sẽ có cái nhìn khách quan, khoa học. Song qua các công trình, bài viết ông công bố, có thể thấy cùng với nhiều diễn giải lòng vòng về việc cần thay đổi hệ hình trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li ngày càng thể hiện rõ tham vọng muốn soi chiếu, xem xét lịch sử Việt Nam để đạt tới mục đích duy nhất là… đưa ra kết luận ngược với hầu hết các kết luận về lịch sử Việt Nam từng công bố! L.C Ken-li xác định, tự xây dựng một phương pháp nghiên cứu kỳ lạ là “đi qua Trung Hoa để tới Việt Nam”, từ đó cố gắng chứng minh Việt Nam từng là “tiểu Trung Hoa” và ông tỏ ra khéo léo khi ngụy trang cho các suy biện của mình bằng lý thuyết hiện đại của B. An-đéc-xơn (B. Anderson), A.Xmít (A. Smith). Nên không phải là ngẫu nhiên L.C Ken-li lại tán thưởng tác phẩm Ngàn năm áo mũ của nhà nghiên cứu trẻ Trần Quang Ðức. Với cung cách nghiên cứu vốn có, L.C Ken-li ngỡ đây là bằng chứng cho thấy “người Việt đã bị Hán hóa” để qua đó phủ nhận quan niệm người dân ở Ðông – Nam A đã chọn lọc các nhân tố từ các truyền thống văn hóa ngoại lai và rồi “bản địa hóa”, hay vận dụng chúng vào những hoàn cảnh bản địa. Tuy nhiên, Ken-li lại như “không biết!?” tiểu luận Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn hóa trang phục cung đình Việt Nam của Trần Quang Ðức, trong đó nhà nghiên cứu trẻ đã chứng minh Việt Nam không phải là một “tiểu Trung Hoa”. Tác giả Trần Quang Ðức nêu rõ: “Do có sự nhận đồng về điển chương, văn hiến của Trung Quốc, trong suốt một thời gian dài, cũng giống như Triều Tiên, triều đình phong kiến Việt Nam đã coi thể chế, văn hiến Trung Hoa là nguồn tham khảo chính thống. Chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã mô phỏng chế độ của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng đất nước theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên các nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt”.

Sử dụng phương pháp thực chứng một cách máy móc, xem xét và đánh giá từ nguồn sử liệu lỗi thời hoặc không nhận được sự đồng tình, không được lưu giữ trong ký ức cộng đồng,… có thể coi khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam, L.C Ken-li đã trở thành một người “đốt đền” hơn là một nhà nghiên cứu. Không những không nhìn thấy một đặc điểm của sử liệu Á Ðông là thường trong tình trạng xen kẽ, hỗn dung giữa huyền thoại và hiện thực, giữa văn chương, triết học với lịch sử, L.C Ken-li còn nhào nặn làm méo mó nguồn sử liệu cổ và hiện đại về Việt Nam để đạt mục đích. Tự mặc định tài liệu lịch sử là sản phẩm của giới tinh hoa, L.C Ken-li thường tách tác phẩm lịch sử khỏi môi trường văn hóa, biến sách vở trở thành công cụ để từ đó hư cấu nên câu chuyện nước Việt Nam chỉ là mô phỏng bên ngoài, yếu kém hơn mọi mặt. Trong bài “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại, với gần 90 chú thích trong một văn bản ngắn, một người Việt Nam nào đó có thể sẽ tin vào lập luận của L.C Ken-li, từ đó thất vọng rồi ngộ nhận về nguồn gốc dân tộc mình. Song, nếu biết những văn bản L.C Ken-li sưu tầm đều thuộc phần ngoại sử, truyền kỳ, ai cũng dễ dàng nhận ra những lập luận này dựa trên những mối liên hệ không có tính chất áp đặt của văn hóa dân gian trong quá khứ để suy diễn tùy tiện.

Có một điều kỳ lạ là trong nhiều nghiên cứu lịch sử của L.C Ken-li, ông chỉ quan tâm tới việc đưa ra các kiến giải cho thấy Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly (nay là Triều Tiên và Hàn Quốc) chỉ là các “tiểu Trung Hoa không hoàn hảo”. Bởi vậy, như với Việt Nam, ông ta rất hứng thú truy tìm các tài liệu mà giới nghiên cứu không quan tâm, vì chúng không biểu thị cho tinh thần tự chủ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc. Ông không thừa nhận (không muốn thừa nhận?) một vấn đề then chốt là trong lịch sử Việt Nam hay Nhật Bản, Cao Ly là Nho giáo đã chỉ được sử dụng như công cụ phục vụ triều đình phong kiến, còn trong đời sống văn hóa mỗi dân tộc từ đời này sang đời khác vẫn tồn tại hệ thống các giá trị có tính bền vững, không thể lay chuyển. Như văn hóa dân gian Việt Nam chẳng hạn, đó là tài sản văn hóa khiến một số nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp phải ngỡ ngàng, không thể lý giải. Ðó chính là một yếu tố góp phần làm nên bản sắc của người Việt, để ngay cả khi triều đình phong kiến bị khuất phục thì dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hóa bởi bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Trong lịch sử, sự tồn tại độc lập của Việt Nam, Nhật Bản, Cao Ly là thách thức mà nếu chỉ vận dụng lý thuyết “Hoa tâm” sẽ không bao giờ có câu trả lời thỏa đáng.

Một số lý thuyết hiện đại cũng tỏ ra bất lực khi muốn giải thích tại sao tinh thần phản kháng của các dân tộc này lại thể hiện qua sự cố kết của những giá trị văn hóa lâu đời bất chấp các “giá trị” từng được “chủng tộc ưu việt” đưa đến trong quá trình “giáo hóa”; cũng không giải thích được sự chủ động trong tiếp nhận văn hóa của các dân tộc thuộc địa bên cạnh sự “cưỡng bức văn hóa” của các quốc gia thực dân. Các thách thức đó làm cho khá nhiều nhà nghiên cứu phải thay đổi quan niệm cũ, thay đổi cách đánh giá về những dân tộc từng bị họ “xúc phạm”, “đơn giản hóa”. Ngay các học giả Mỹ từng được đào tạo bài bản, chịu ảnh hưởng của quan niệm Việt Nam là “tiểu Trung Hoa” cũng đã ít nhiều thay đổi cách nhìn, giảm bớt thiên kiến. Nhưng L.C Ken-li lại coi đó là sai lầm về nhận thức nên cách đây mấy năm, ông cho công bố tiểu luận Thay đổi cách nhìn về văn hóa Việt – Trung, trong đó L.C Ken-li như muốn nhấn mạnh có thể nghiên cứu trực tiếp từ văn bản gốc, không cần thông qua tài liệu dịch; và như một thông điệp ngầm, L.C Ken-li muốn khẳng định ngôn ngữ sẽ là chìa khóa giúp ông khai thác mọi vấn đề trong sử liệu (mà theo ông, các nhà Việt Nam học của Hoa Kỳ do nhiều lý do đã không dịch thuật đầy đủ).

Trong những năm gần đây, L.C Ken-li vẫn qua lại Việt Nam, vẫn tham dự một số hội thảo và công bố nhiều bài viết phần lớn nhằm chứng minh lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chỉ là hư cấu, một số giá trị văn hóa người Việt Nam tự hào chỉ có được sau khi tiếp xúc với phương Tây! Và “mưa dầm thấm lâu”, không chỉ một số kết luận về lịch sử Việt Nam của tác giả này, mà cả phương pháp làm việc của ông cũng đã ảnh hưởng tới quan niệm và phương pháp làm việc của một vài tác giả, nhất là tác giả trẻ. Phải chăng đó là một biểu hiện của xu hướng “sùng ngoại” đến mức không cần phân biệt đúng hay sai? Phải chăng khối lượng tri thức L.C Ken-li huy động trong các công trình, bài viết đã mê hoặc các tác giả này để họ cũng học theo ông và tiến hành công việc kỳ khôi là “xét lại lịch sử”. Do vậy, đây là xu hướng cần được cảnh báo. Nghiên cứu lịch sử cần cẩn trọng khi xem xét, đánh giá, kết luận về một vấn đề cụ thể, nếu không, sẽ không chỉ làm nhiễu loạn tri thức xã hội, mà còn có thể đi tới sự xúc phạm, xuyên tạc các giá trị cốt lõi và tốt đẹp vốn là niềm tự hào của cả dân tộc. 

LÊ VIỆT ANH
 
Nguồn: http://nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/23521102-%20nha-nghien-cuu-lich-su-hay-ke-dot-den.html 

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

13 Jun

Tạ Đức với Hà Văn Thuỳ và sự thiếu vắng một triển vọng chuyên nghiệp

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Giờ đã là hè. Đã đến lúc tôi phải nghỉ post bài lên blog này. Vì vậy tôi sẽ viết entry cuối này sau đó nghỉ cho đến tháng Tám.

Mấy tuần vừa rồi rất thú vị. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã di chuyển vào “Địa Trung Hải Đông Nam Á” một cách hùng hổ, và một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh một cuốn sách về nguồn gốc người Việt. Hai sự kiện này không nên bị gắn cho nhau, nhưng trên thực tế chúng đã bị như vậy, và đó là một vấn đề.

Gần đây một tác giả có tên là Tạ Đức đã viết một cuốn sách về nguồn gốc người Việt trong định vị nguồn gốc người Việt ở Trung Hoa và sách của ông đã được các học giả rất khác nhau là Trần Trọng Dương và Hà Văn Thuỳ, và nhận được một bài phê bình mang động cơ chính trị của Bùi Xuân Đính.

Image

Tôi đồng ý với những lời phê bình của Tạ Đức về các quan niệm của Hà Văn Thùy, nhưng cũng đồng ý với những lời phê bình của Trần Trọng Dương về công trình học thuật của Tạ Đức.

Rốt cuộc, Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ là 2 tác giả: 1) không có khả năng đọc các nguồn tư liệu nguyên cấp (Hán cổ), và 2) cũng không có khả năng hiểu các nguồn tư liệu tiếng nước ngoài – Pháp, Anh,v.v… Và khi dùng từ “hiểu”, tôi muốn nói rằng họ không thể đọc các nguồn tư liệu bằng tiếng nước ngoài và thẩm định được mức độ khả tín của các nguồn tư liệu đó (Tạ Đức đã chỉ ra điều này cho Hà Văn Thuỳ và tôi nghĩ tôi đã chỉ ra điều này cho Tạ Đức).

Image

Vì vậy cũng có những vấn đề với học thuật của cả Tạ Đức lẫn Hà Văn Thuỳ, nhưng vấn đề thực sự là ở chỗ không có triển vọng nghiêm túc cho học thuật của họ.

Cái nhìn “chính thức” về quá khứ của người Việt đã không thay đổi gì kể từ đầu thập niên 1970s. Sự diễn giải lịch sử Việt Nam được tiến hành lúc bấy giờ được tạo ra trong thời gian chiến tranh và có mục đích đưa người dân đến sự đoàn kết với nhau để bảo vệ và xây dựng quốc gia/dân tộc.

Đó là một nhiệm vụ rất quan trọng, và những sự diễn giải lịch sử trong thời gian đó phục vụ mục đích ấy tốt một cách khác thường.

Vấn đề hiện nay là Việt Nam không còn chiến tranh, và quốc gia/dân tộc đã được thiết lập. Hơn nữa, hàng nghìn công dân của nó giờ đây đang học tập ở nước ngoài và đã được nhìn thầy nhiều cách nhìn thế giới và quá khứ phức tạp hơn. Kết quả là, “câu chuyện cũ mèm” không thoả mãn được thế hệ trẻ.

Quan trọng hơn, phiên bản chính thống về quá khứ không đủ tinh vi để đối mặt với những sự phức tạp của hiện tại.

Image

Quá khứ phức tạp và hiện tại cũng phức tạp. Khi quá khứ được trình bày bằng những cách thức quá đơn giản (như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã làm cũng như sử học chính thống đã có) thì nó dẫn đến tình trạng rất khó cho người ta có thể dựa vào các phương pháp luận hiệu quả để ứng xử với hiện tại.

Không may cho Việt Nam, không có ai đang cố gắng để hình dung quá khứ theo những cách thức phức tạp. Các nhà sử học không chính thức như Tạ Đức và Hà Văn Thuỳ đã phổ biến những quan niệm quá giản đơn, mà các nhà sử học chuyên nghiệp vẫn im lặng (như Nguyễn Hòa đã lưu ý), hoặc đơn giản chỉ lặp lại những ý tưởng tương tự từng tồn tại từ thập niên 1970s.

Vấn đề là bây giờ đã là năm 2014, và thế giới giờ đây đã phức tạp hơn nhiều trước đó.

Image

Vậy là sau khi đã nói như vậy, bây giờ tôi sẽ đánh dấu năm 2014 bằng việc đến Borneo và xăm mình để “thoát Tàu” (thoát Trung) và trải nghiệm nền văn hoá Đông Nam Á “đích thực”.

Cảm ơn mọi người đã đọc và bình luận (hoặc ở đây hoặc ở facebook). Tôi hi vọng các bạn đã học được nhiều từ tôi như tôi đã học được từ các bạn. Và tôi mong sẽ tiếp tục cuộc đàm luận vào tháng Tám.

 

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

10 Jun

Legrand de la Liraye và từ không có để chỉ khái niệm “nation” ở Việt Nam thế kỷ XIX

Tác giả: Lê Minh Khải

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi từng đề cập trong bài viết trước rằng ở thập niên 1860s một người Pháp có tên là Théophile Marie Legrand de la Liraye đã xuất bản một cuốn sách có tên  Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chú lịch sử về dân An Nam).

Rồi năm 1868, Legrand de la Liraye lại xuất bản một cuốn từ điển Việt-Pháp, và trong văn bản này, không có từ nào để ông dịch là “nation”. Ông tìm thấy các từ trong tiếng Việt mà ông có thể dịch thành “kingdom” (quốc, nhà nước – royaume) và “homeland” (nước – la patrie), nhưng không có từ nào để dịch thành “nation”.

Vì sao có tình trạng đó?

Image

Để trả lời câu hỏi ấy chúng ta cần phải xem xét nghĩa của khái niệm “nation” trong tiếng Pháp qua thời gian ((web site này sẽ giúp chúng ta).

Từ chí ít là cuối thế kỉ XVII, từ “nation” trong tiếng Pháp được dùng như một khái niệm chung để chỉ “toàn bộ người dân của cùng một nhà nước, trong cùng một địa vực, những người sống dưới cùng hệ thống luật pháp và ngôn ngữ” (Tous les habitants d’un mesme Estat, d’un mesme pays, qui vivent sous mesmes loix, & usent de mesme langage &c.)

Một từ ngữ có vấn đề trong định nghĩa này là “pays” mà tôi dịch ở đây là “địa vực”. Trên thực tế, nó cũng có nghĩa là “đất nước”, và khái niệm “nation” vì thế có thể chỉ người dân trong cùng một đất nước.

Cụ thể là, có những nghĩa phức (nhưng có liên quan đến nhau) của khái niệm “nation” vào lúc bấy giờ.

Image

Chuyển sang đầu thế kỉ XIX, chúng ta thấy định nghĩa sau: “toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền”. (La totalité des personnes nées ou naturalisées dans un pays, et vivant sous un même gouvernement.)

Điều thú vị là ngôn ngữ không được đề cập đến trong định nghĩa này. Thay vào đó, “nation” ở đây có nhiều nghĩa chính trị hơn.

Tuy nhiên, nghĩa chính trị này không xoá đi cái cảm giác rằng có cái gì đó nữa đã gắn bó các nhóm người với nhau, và điều này được hé lộ trong định nghĩa tiếp đây ở cuối thế kỉ XIX:

“Một tập hợp người dân sống trong cùng vùng lãnh thổ, chịu sự chi phối hoặc không của một chính quyền, và duy trì những mối quan tâm chung mà nhờ đó họ được xem là thuộc về cùng một sắc tộc”  (Réunion d’hommes habitant un même territoire, soumis ou non à un même gouvernement, ayant depuis longtemps des intérêts assez communs pour qu’on les regarde comme appartenant à la même race.)

Image

Có hai khái niệm mới trong định nghĩa này. Thứ nhất, có một ý tưởng rằng các quan niệm – những mối quan tâm chung – có ý nghĩa quan trọng với các “nation”. Thứ hai, khái niệm “sắc tộc” cũng là mới.

Người ta có thể hỏi, làm thể nào thực trạng một dân tộc nào đó có cùng các quan niệm lại khiến cho những dân tộc khác nghĩ rằng họ thuộc cùng một sắc tộc?

Điều đó khó mà trả lời, nhưng nó chỉ ra những quan niệm phức tạp và tranh cãi rằng người dân ở Pháp (và châu Âu nói chung) ở cuối thế kỉ XIX đã nghĩ về khái niệm này. Đây là lí do vì sao một học giả Pháp có tên Ernest Renan đã viết một bài báo mà giờ đây được xem là bài báo có ảnh hưởng lớn trong đó ông nỗ lực lí thuyết hoá cái gọi là “nation”, một bài báo có tên “một nation là gì?” (Qu’est-ce qu’une nation?).

Image

Điều Renan cố gắng chỉ ra cho người ta là những thứ như ngôn ngữ, sắc tộc và địa lí là có vấn đề khi chúng được dùng để xác định một “nation”. Chẳng hạn, nếu ngôn ngữ có vai trò trung tâm cho một nation, thì dân Thuỵ Sĩ đa ngôn ngữ không thể là một nation, và điều đó là rõ ràng.

Vậy thị cái gì là một nation, theo Renan? Renan cho rằng một nation được dựa trên 2 thứ: “Một là sự sở hữu một di sản kí ức chung phong phú; hai là sự đồng thuận trong hiện tại, khát vọng sống chung”.

Đối với Renan, một nation là một nhóm người chia sẻ những kí ức về quá khứ, và những người nhất trí sống cùng nhau trong hiện tại.

Có một luận điểm khác mà Renan đưa ra rất quan trọng và đã rất có ảnh hưởng. Xem xét những kí ức về quá khứ, Renan khẳng định rằng “Quên, tôi thậm chí muốn nói đến sai lầm lịch sử, là một nhân tố cần thiết trong việc kiến tạo một nation”.

Người dân “nhớ” quá khứ chỉ “nhớ” những phương diện của quá khứ ủng hộ nỗ lực thống nhất người dân lại với nhau trong hiện tại. Vì vậy, họ “quên” rằng tổ tiên họ đã chinh phục dân tộc láng giềng, và “nhớ” rằng tổ tiên họ đã chống lại một cuộc xâm lược, cụ thể là những tư tưởng tích cực giúp kiến tạo sự gắn bó tình cảm giúp đoàn kết nation đó.

Image

Tại sao nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi theo thời gian? Nó thay đổi bởi xã hội châu Âu thay đổi. Trong khi “nation” chỉ một nhóm dân từ một địa vực nói chung một ngôn ngữ, thì có nhiều chế độ quân chủ ở Châu Âu cai trị các nhóm dân cư đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Vì vậy nó là một khái niệm được dùng để nhận dạng các nhóm trong phạm vi một vương quốc.

Định nghĩa dễ hiểu ở đầu thế kỉ XIX về một nation là ““toàn bộ người dân sinh ra hay nhập tịch ở một đất nước và sống dưới cùng một chính quyền” phản ánh những thay đổi trong xã hội và các nhu cầu của chính quyền ấy từ hệ quả của Cách mạng Pháp. Với việc chế độ quân chủ biến mất, giờ đây có một nỗ lực nhằm linh động hoá “toàn bộ người dân” trong một đất nước nhằm ủng hộ chính quyền, và nghĩa của khái niệm “nation” thay đổi để phù hợp với nhu cầu mới này.

VÀ sự thay đổi này rất quan trọng khi mà ở thời điểm này ý tưởng cốt lõi về một nation như người ta nghĩ hôm nay – là nó chỉ toàn thể người dân trong một đất nước – trở nên quan trọng.

Rồi với sự xuất hiện của khái niệm sắc tộc, và khi các nước châu Âu trở nên dân chủ hơn và  đề cao ý tưởng rằng “các công dân” hay “nhân dân” đóng một vai trò quyết định vận mệnh của đất nước, nghĩa của khái niệm “nation” lại thay đổi.

Image

Tuy nhiên, không có sự phát triển nào như thế xảy ra ở Việt Nam trong suốt giai đoạn này. Ở thế kỉ XIX, khi Legrand de la Liraye soạn cuốn từ điển của mình, triều Nguyễn là một chế độ quân chủ thuần tuý, giống như chế độ quân chủ ở Pháp trước Cách mạng. Vì vậy không có nhu cầu chính trị cần đến “toàn thể người dân” như bắt đầu xảy ra ở châu Âu sau khi các chế độ quân chủ thuần tuý bị lật đổ, và vì vậy, không có nhu cầu cần đến một khái niệm như thế.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi năm 1868 Legrand de la Liraye có thể tìm thấy các từ chỉ “kingdom” (quốc, nhà nước) and “homeland” (nước), nhưng không thấy từ chỉ “toàn thể người dân” trong nước này, tức là “nation” (dân tộc).

Từ đó (dân tộc), tuy vậy, rốt cuộc cũng xuất hiện, nhưng đó là một câu chuyện phức tạp khác…

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2014/06/10/legrand-de-la-liraye-and-the-missing-word-for-nation-in-nineteenth-century-vietnam/

  

 

%d bloggers like this: