Archive | Uncategorized RSS feed for this section

Các tiết phụ An Nam của những ông chồng Quý Châu ở thế kỉ XVI

13 Nov

Các tiết phụ An Nam của những ông chồng Quý Châu ở thế kỉ XVI

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Tôi đã từng lục tìm loanh quanh trong một phiên bản có thể search được của bộ Cô kim đồ thư tập thành, một tuyển tập có tính bách khoa thư các văn bản được sáng tác dưới thời hoàng đế Khang Hi, Ung Chính nhà Thanh và hoàn thành năm 1725.

Tôi đã tìm từ khoá “người An Nam”.

Bốn ghi chép lập tức xuất hiện nói về các tiết phụ An Nam của những người đàn ông Quý Châu. Nguồn được dẫn của thông tin này là cuốn Quý Châu thông chí.

Từ văn bản này chúng ta được biết về bà Tống, người đã thề không bao giờ tái giá sau khi chồng bà chết. Bà chịu đựng khổ đau cho đến khi chết ở tuổi 89.

Chúng ta cũng được biết về bà Dương. Kết hôn ở tuổi 16, chồng bà đã đuổi bà đi, nhưng 2 năm sau ông ta hối hận lại đưa bà về. Bà sinh một đứa con trai, rồi chồng bà mất. Tuy nhiên, bà vẫn tận tâm với gia đình đó cho đến khi chết ở tuổi ngoài 70.

Image

Rồi có một câu chuyện tương tự về một bà Tống khác, người có chồng chết khi bà mới 20 tuổi và một bà Tiêu có chồng khứ thế khi bà mới 29. Cả hai người phụ nữ này vẫn chung thuỷ với kí ức về người chồng của họ và không tái giá.

Image

Những người phụ nữ này có vẻ đã sống ở thế kỉ XVI, và hai trong số họ được triều Minh tôn vinh vì sự chung thuỷ của mình.

Ngày nay, hôn nhân xuyên quốc gia là một phần của thế giới toàn cầu hoá chúng ta, và phần nhiều trong chúng ta có lẽ nghĩ về điều này như một cái gì đó mới mẻ. Tuy nhiên, nhìn vào cuốn Quý Châu thông chí thời Minh, chúng ta có thể thấy rằng điều đó đã từng xảy ra từ lâu lắm rồi.

Tuy nhiên, tôi ngờ (và hi vọng) rằng cái cách sống mà một người thiếu phụ ngày nay quyết định lựa chọn sau khi chồng của cô ta chết sẽ khác cách sống ở thế kỉ XVI.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/11/12/the-loyal-an-nam-wives-of-guizhou-men-in-the-sixteenth-century/

Bonus:

Sai lầm của LE MINH KHAI về “người An Nam”.
Phạm Hoàng Quân

Trong bài viết trên đây, tác giả đã sơ suất khi xác định “An Nam nhân” (trong nguyên tác viết 安南人) là người An Nam Giao Chỉ (Đại Việt/ 大越).
Thật ra, hồi thời Minh, An Nam là địa danh của vài nơi ở các tỉnh Quý Châu và Vân Nam.

An Nam vệ (安南 衛), tức An Nam vệ chỉ huy sứ ty (安南衛指揮使司) thuộc tỉnh Quý Châu, Vệ này đông giáp Trấn Ninh châu (鎭寧 州), tây giáp Phổ An châu (普安州) bắc giáp Quý Châu Tuyên uý ty (貴州 宣慰司), nam giáp An Long ty (安隆 司) của tỉnh Quảng Tây, địa phương này gồm một vệ (An Nam vệ) và một châu (Vĩnh Ninh châu/ 永寧 州), lỵ sở gọi là An Nam thành. Theo Cố Tổ Vũ trong “Độc sử phương dư kỷ yếu”
(顧祖禹-讀史方輿紀要), “xưa đây là vùng đất Tây Nam Di, thời Nguyên là nơi thuộc Phổ An lộ (普安路), thời Minh năm Hồng Võ thứ 23 (1390) đặt làm An Nam vệ”. Thời Thanh đặt làm An Nam huyện thuộc Hưng Nghĩa phủ (興義府). Địa điểm lỵ sở An Nam vệ thời Minh nay đổi tên là Tình Long, là huyện lỵ của huyện Tình Long (Qing long/ 晴隆 ), thuộc Kiềm Tây Nam Bố Y tộc Miêu tộc Tự trị châu (黔西南布依族苗族自治 州), tỉnh Quý Châu.

An Nam sở (安南 所), tức An Nam Thủ ngự thiên hộ sở (安南守禦千户所), thuộc Phổ An châu (普安 州), tỉnh Quý Châu. Sở này là nơi rất gần An Nam vệ (nói trên), đặt năm Hồng Võ thứ 22 (1389). An Nam sở nay đổi tên là Phổ An, là huyện lỵ của huyện Phổ An (Pu an/ 普安) thuộc Kiềm Tây Nam Bố Y tộc Miêu tộc Tự trị châu (黔西南布依族 苗族自治州), tỉnh Quý Châu.

An Nam ty (安南 司), tức An Nam Trưởng quan ty (安南 長官司), thuộc Lâm An phủ (臨安 府) tỉnh Vân Nam (雲南). Xưa là đất Xá Tư bộ (捨資部), đầu thời Nguyên đặt làm Xá Tư thiên hộ (捨資千户), đến năm Chí Nguyên thứ 13 (1276) vì thấy đất này gần Giao Chỉ mới đặt làm An Nam đạo phòng tống quân thiên hộ (安南道防送軍千户), thuộc Lâm An phủ; đầu thời Minh đổi là Trưởng quan ty, năm Chính Đức thứ 6 (1511) nhập vào huyện Mông Tự (蒙自縣), năm Vạn Lịch thứ 10 (1582) đặt trở lại, năm Thiên Khải thứ 2 (1622) lại bỏ, nhập đất này vào Vương Lộng trưởng quan ty (王弄長官司); thời Thanh đổi gọi là An Nam lý (安南里), nhập vào Khai Hoá phủ (開化府). Nay là đất huyện Văn Sơn (文山), thuộc Văn Sơn Tráng tộc Miêu tộc Tự trị châu (文山壯族苗族 自治州), tỉnh Vân Nam. Ty này nằm ở gần cực nam của một Phủ giáp giới phía tây bắc Việt Nam.

An Nam pha (安南坡), [pha là sườn núi, không phải cơ cấu hành chánh như Vệ, Ty, Sở] thuộc Vân Nam huyện (雲南縣) Đại Lý phủ (大理 府) tỉnh Vân Nam (雲南). Cố Tổ Vũ cho biết nơi này từng thiết lập cơ quan Tuần ty, tương truyền xưa kia có lúc là lỵ sở của quận Vân Nam, người dân địa phương gọi nơi đây là Tiểu Vân Nam (小雲南). An Nam pha nay thuộc huyện Nam Hoa (南華縣), thuộc Sở Hùng Di tộc Tự trị châu (楚雄彝族 自治州), tỉnh Vân Nam.

Sở dĩ tôi phải hơi dài dòng về quá trình diễn biến các địa danh An Nam nói trên là nhằm nhân tiện dịp này làm rõ về sự trùng hợp mà có thể còn dẫn đến những sai lầm về sau, hoặc của chính tôi hoặc của những người nghiên cứu khác.
Trong bối cảnh tư liệu mà Leminhkhai (G.S L. C. Kelley) dựa vào, tức trong khoảng thời Minh (1368-1644), như ta thấy có 4 nơi mang tên An Nam, 2 nơi ở Quý Châu và 2 nơi ở Vân Nam. Các tên An Nam này đều cùng mặt chữ Hán với An Nam Đại Việt (tức đều viết là 安南). Như vậy, có tất cả là 5 trường hợp có thể nằm trong trích dẫn của Quý Châu thông chí.
Quý Châu thông chí viết:
Tống thị, An Nam nhân, Chỉ huy Tiêu Luật thê…, (họ Tống, người An Nam, vợ của Chỉ huy Tiêu Luật/ 宋氏, 安南人, 指揮蕭律妻)
Dương thị, An Nam nhân, niên thập lục quy Bá hộ Lý Tuân…, (họ Dương, người An Nam, 16 tuổi về với Bá hộ Lý Tuân/ 楊氏, 安南人, 年十六歸百户李遵)
Tống thị Vương Duy Viên thê, An Nam nhân. Niên nhị thập phu vong.., (Vợ của Vương Duy Viên họ Tống, người An Nam. Năm 20 tuổi chồng chết.. /宋氏王維垣妻, 安南人. 年二十夫亡)
Tiêu thị Đào Nhữ Long thê, An Nam nhân. Niên nhị thập cửu phu vong.., (Vợ của Đào Nhữ Long họ Tiêu, người An Nam. Năm 29 tuổi chồng chết../ 蕭氏陶汝龍妻, 安南人. 年二十九夫亡)
Cả bốn người phụ nữ “Tiết hạnh khả phong”mang hoàn cảnh đáng buồn này đều là người An Nam, nhưng tôi nhận định họ không phải là người An Nam Đại Việt. Và họ cũng không phải ở An Nam ty hay An Nam pha thuộc tỉnh Vân Nam.
Sách địa phương chí (như Quý Châu thông chí) khi viết về một nơi ngoài địa vực hành chính của mình phải theo nguyên tắc chép địa danh lớn rồi kế đến là địa danh nhỏ, như các trường hợp trên đây, nếu bà họ Tiêu ở Vân Nam thì phải chép: “Tiêu thị Đào Nhữ Long thê, Vân Nam An Nam nhân”. Hoặc nếu như bà họ Tống ở Đại Việt thì chép: “Tống thị, An Nam quốc nhân..”, tuy nhiên, đa số các biên chép thời Minh ít khi chép như vậy, mà thường dùng chữ “Giao Chỉ nhân” để chỉ con người, và dùng chữ “An Nam” để chỉ nhà nước.
Bởi bốn bà này ở ngay trong tỉnh Quý Châu nên Quý Châu thông chí chỉ chép họ là An Nam nhân, tức địa phương trực thuộc của tỉnh nhà mà thôi.
Mặc dù sai lầm nhưng suy tưởng của Leminhkhai về hôn nhân xuyên quốc gia và về thân phận “thủ tiết” của những phụ nữ cô quạnh này thật đáng được chia sẻ.

Leminhkhai:

I just got these comments from a reader who points out that there was an administrative unit in Guizhou called the An Nam vệ (安南衛) and that these women could have been from there. This makes sense to me.
Thanks for writing.

Advertisements

Trống đồng Đông Sơn phải làm gì với người Việt?

15 Sep

Trống đồng Đông Sơn phải làm gì với người Việt?

By LeMinhKHai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Trống đồng Đông Sơn là những cổ vật đẹp chứng minh cho sự tinh tế của những người làm ra chúng, nhưng làm thế nào những người đó liên hệ với những người mà rốt cuộc đã đi đến việc tự gọi mình là người Việt?

Image

Tôi đang suy nghĩ về câu hỏi này khi đọc một mục từ về  trong cuốn An Nam chí lược ở thế kỉ XIV cả Lê Tắc.

Lạo Tử là “dân mọi” sống ở những khu vực kéo dài từ tỉnh Hồ Nam cho đến Bắc Việt hiện đại. Lê Tắc mô tả một số điều về đặt trưng của họ, và rồi nói về họ như sau:

Họ thích đánh nhau với kẻ thù [thạo bắn nỏ] và họ đánh trống đồng. Họ đánh giá cao những chiếc trống lớn. Khi một chiếc trống mới được hoàn thành, họ đặt nó ở ngoài sân cùng với rượu rồi mời đồng loại đến [ăn mừng]. Họ đến đứng chật cửa [sân]. Con cái của một nhà quý tộc lấy chiếc thoa bằng vàng hoặc bạc đánh vào trống, sau đó cô ta để lại nó cho chủ nhà”.

[Muốn đọc toàn bộ đoạn văn, hãy click vào đây]

Trong đoạn văn này, Lê Tắc rõ ràng chỉ ra rằng trống đồng khá quan trọng với Lạo Tử. Ông cũng làm rõ rằng ông xem họ là “người mọi”.

Cái mà điều này cho thấy là Lê Tắc xem họ là khác với những người sử dụng trống đồng. Hơn nữa, Lê Tắc là người Việt. Vậy nếu người Việt ở thế kỉ XIV tự coi mình là khác với những người sử dụng trống đồng thì làm thế nào họ có liên hệ với những người đã tạo ra trống đồng Đông Sơn ở cùng khu vực này trong suốt thiên niên kỉ đầu trước Công lịch?

Phải chăng họ là nhóm người giống nhau, nhưng nền văn hoá của họ đã thay đổi? Nếu đúng là như vậy, thì đó là một sự thay đổi căn bản. Trên thực tế, điều đó có nghĩa là họ đã thay đổi quá đỗi đến nỗi họ dần nhận diện bản thân trong sự đối lập với tiên tổ của mình.

Trong một hoàn cảnh như thế, điều gì sẽ tiếp diễn? Nếu người ta thay đổi cuộc sống của họ một cách kịch tính đến như vậy, thì có còn cái gì không thay đổi nữa? Nếu thế, đó là cái gì? Và làm thế nào chúng ta có thể nhận diện nó?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/12/04/what-do-dong-son-bronze-drums-have-to-do-with-the-viet/

Thay đổi hệ hình viết sử ở Việt Nam

21 Jun

Thay đổi hệ hình viết sử ở Việt Nam

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Khái niệm “thay đổi hệ hình” thường được sử dụng bởi các học giả hàn lâm. Nó là một khái niệm được tạo ra bởi Thomas Kuhn vào năm 1962 trong cuốn The Structure of Scientific Revolutions (Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học). Trong khi khái niệm này có một nghĩa chuyên sâu liên quan đến những ngành khoa học có tính ổn định cao trong cuốn sách này, thì các học giả ngày nay ở các lĩnh vực khác thường sử dụng nó với nghĩa phổ quát hơn để bàn về một sự thay đổi xảy ra khi một cái nhìn đã lâu về cái gì đó bị lật nhào.

Một sự biến đổi hệ hình xảy đến như thế nào? Vâng nó thường là trường hợp người ta bắt đầu chú ý đến những cách thức một cái nhìn hay một sự diễn giải nào đó về một vấn đề không còn ý nghĩa nữa. Rồi rốt cuộc ai đó nắm lấy chứng cớ này và đưa ra một lập luận mạnh mẽ nhằm ủng hộ một cách nhìn hay diễn giải mới về vấn đề, và điều này dẫn người ta đến việc ngừng quan niệm/diễn giải vấn đề hay sự kiện bằng cách thức cũ và chào đón góc nhìn mới đó.

Gần đây tôi có nói đến một cuốn sách mới của Nguyễn Liên Hằng có tên  Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam [Cuộc chiến của Hà Nội: Một lịch sử quốc tế về Chiến tranh và Hoà bình ở Việt Nam]. Cuốn sách này có tiềm năng đưa lại một sự biến đổi hệ hình, bởi nó cung cấp nhiều chứng cớ chống lại những cách diễn giải hiện tồn.

Những chứng cớ đó bắt nguồn từ đâu? Trước hết đến từ công việc của Liên Hằng trong các văn khố từ khắp nơi trên thế giới. Thứ hai, từ những công trình mà các học giả khác gần đây đã dẫn dụng về chủ đề này, cũng như những nghiên cứu khác đó cũng cung cấp những chứng cứ cho thấy rằng hệ hình đang [giữ vai trò] chi phối là không chính xác.

Điều này dẫn đến những câu hỏi. Nếu các học giả khác đã cung cấp những dẫn chứng chống lại hệ hình hiện tồn, thì tại sao nó chưa thay đổi? Cái gì sẽ xảy ra cho một hệ hình khi rốt cuộc nó phải thay đổi?

Đây là những câu hỏi khó trả lời. Người ta không bao giờ có thể dự đoán chính xác được khi nào một hệ hình sẽ bị lật nhào. Một học giả có thể biết được qua toàn bộ sự nghiệp của mình rằng có những điều nào đó người ta nói và nghĩ không còn là sự thật nữa, nhưng những cái nhìn đó có lẽ không bao giờ thay đổi trong cuộc đời của một vị học giả xác định.

Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, cách nhìn nhận một chủ đề hay một lĩnh vực nào đó có thể thay đổi triệt để trong một thời gian ngắn.

Điều đó đưa chúng ta đến với lịch sử Việt Nam. Có nhiều hệ hình lí giải về quá khứ của Việt Nam là không chính xác, và những gì nhiều người biết cũng không chính xác. Chúng ta có thể lập một danh sách dài dài.

Nhiều người thực sự tin rằng có một vương quốc tên là Văn Lang ở thiên niên kỉ đầu trước Công nguyên được cai trị bởi các vua Hùng.

Nhiều người không có ý niệm về việc cách thức những người Việt có học nhìn nhận thế giới đã bị thay đổi hoàn toàn thế nào trong thế kỉ XX, và hệ quả là, sử dụng hồn nhiên những khái niệm hiện đại kiểu như “dân tộc” để bàn về thời kì trước thế kỉ XX (khi các trí thức Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX cho thấy rõ rằng đây là một khái niệm mới đối với họ).

Nhiều người tin rằng ý tưởng cho người Việt đã “luôn chống lại sự xâm lược của ngoại bang” là một phần của ý thức về “dân tộc Việt” ngay từ đầu, mà không thấy rằng đây là một diễn ngôn hiện đại được tạo ra ở thế kỉ XX để tập hợp mọi người thực hiện chính xác một điều mà họ đang không làm [trong hiện tại] – phản kháng.

Những cách nhìn này là một phần của một hệ hình, một cách nhìn quá khứ, và có một lượng rất lớn chứng cứ chống lại hệ hình này cũng nhiều nhân tố của nó. Cũng có nhiều người đã nhận ra rằng hệ hình này là không đúng, và hệ hình đó vẫn tồn tại dai dẳng.

Tại sao nó vẫn tồn tại dai dẳng? Nó tồn tại dai dẳng ở bên ngoài Việt Nam bởi vì quá ít người bên ngoài đất nước này nghiên cứu về quá khứ Việt Nam. Vì vậy rất khó có đủ chứng cứ để tích luỹ nhằm rốt cuộc đủ sức lôi cuốn sự chú ý của mọi người.

Bên trong Việt Nam, hệ hình này vẫn tồn tại vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Người ta không xem xét lịch sử Việt Nam theo kiểu so sánh và vì vậy không thấy được những cách thức mà bằng nó sự phát triển của lịch sử Việt Nam tương hợp với sự phát triển lịch sử của các khu vực khác, và rồi họ đưa ra những tuyên bố về quá khứ Việt Nam khá là vô nghĩa trong một bối cảnh có tính so sánh.

Người ta không được cho biết nhiều ý tưởng và lí thuyết vốn đã trở thành kiến thức phổ

thông ở phương Tây từ cách đây vài thập kỉ, mô số kiến thức tôi đã viết ở đây

Cuối cùng, bằng những cách thức nào đó tính hợp pháp về chính trị được gắn chặt đối với các hệ hình hiện tồn, và điều đó gây trở ngại cho người ta khi muốn thách thức những hệ hình hiện tại bởi vì có khả năng nghiên cứu của họ có thể bị diễn giải như là một sự thách thức chính trị (điều dĩ nhiên là không nên, nhưng người ta không thể điều khiển cách người khác nghĩ được).

Vì vậy, nếu bạn là một học giả và bạn thấy rằng một hệ hình hiện tồn không chính xác, bạn sẽ làm gì?

Có một hướng tiếp cận là phải giới thiệu những ý tưởng mới – cái có thể làm thay đổi một cái nhìn lạc hậu, nhưng việc đó không đả động đến những chủ đề có thể bị xem là “nhạy cảm chính trị”. Có công trình chất lượng tốt gần đây, trong đó các học giả đã chỉ dẫn về lịch sử mậu dịch quốc tế chẳng hạn, đã làm được điều này. Những học giả này đã sử dụng các lí thuyết và góc nhìn được vận dụng bởi các học giả trên toàn cầu, và trong quá trình đó, họ tham dự vào một cuộc đối thoại học thuật quốc tế, và sản sinh ra những góc nhìn mới về quá khứ Việt Nam.

Điều đó là tốt, nhưng đồng thời, nó bỏ lại không đụng đến toàn bộ những vấn đề cơ bản còn đầy tính vấn đề trong lịch sử Việt Nam. Vì vậy, rốt cuộc, sự thay đổi là khá ít ỏi. Tức là, có thể có cách khôn ngoan hơn là việc giới thiệu những ý tưởng mới. Hoặc chúng ta có thể sống cả cuộc đời trong khi biết rằng khá nhiều cái đã được viết và nói về quá khứ Việt Nam là không chính xác, mà không từng được nhìn thấy nó thay đổi tí nào cả.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2012/09/06/paradigm-shifts-in-vietnamese-history/

Việc phê bình các chuyên khảo, Bách khoa thư và Luận án

16 Jun

Việc phê bình các chuyên khảo, Bách khoa thư và Luận án

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

 

Tôi vừa ở vào hoàn cảnh ngỡ ngàng trước những gì tôi thấy là hiểu biết gần như bách khoa của nhiều học giả Việt Nam về các học giả Việt Nam khác. Người ta có thể nói cho bạn chính xác ai đã công bố cái gì, năm nào, và với nhà xuất bản nào,…

Ở một số nước phương Tây, các học giả phải biết về công trình của các học giả đồng nghiệp. Nhưng có nhiều học giả không thể nói với bạn về năm xuất bản của một cuốn sách (mặc dù họ thường có thể nhớ khoảng thời gian đại thể), và người ta có thể không nhớ tiêu đề chính xác hoặc nhà xuất bản nào đã xuất bản nó. Nhưng điều người ta sẽ nhớ, là lập luận mà tác giả đưa ra, và liệu tác giả có thành công hay không khi đưa ra lập luận của mình.

Tôi đang nghĩ về điều này khi tôi đọc một số bài điểm sách mà một số học giả Việt Nam viết về các công trình của các học giả Việt Nam khác. Không có bài điểm sách nào mà ở đó tôi có thể tìm thấy ai đó bàn về lập luận của tác giả cuốn sách. Thay vào đó, những gì tôi thấy là những người điểm sách phê bình những chi tiết trong các cuốn sách (và bằng sự mở rộng, người ấy ngụ ý rằng những cuốn sách đó không tốt).

Nếu một tác giả đưa ra một lập luận trong một cuốn sách, có thể tác giả đã mắc sai lầm ở một vài chi tiết nào đó, nhưng lập luận vẫn đứng vững. Những lỗi chi tiết chỉ trở thành một vấn đề thực sự khi chúng xói mòn lập luận.

Dĩ nhiên, chúng ta muốn đọc những cuốn sách không mắc lỗi. Nhưng điều chúng ta thực sự muốn xem là những cuốn sách đưa ra một dạng luận điểm nào đó, đẩy một kiểu luận điểm nào đó tiến lên phía trước, nhờ vậy chúng ta có thể đạt được sự hiểu biết tốt hơn về quá khứ. Điều đó có thể được thực hiện thành công dù với vài chi tiết lỗi (khi và chỉ khi những lỗi đó không làm suy yếu toàn bộ lập luận).

Phải nói là, tôi đoán có một dạng sách mà chúng ta không muốn thấy lỗi nào trong đó, và đó là một công trình tham khảo như một cuốn bách khoa thư chẳng hạn. Ý tưởng đằng sau một cuốn bách khoa thư là: nó được cho là đáng tin cậy 100% (tất nhiên thực tế chưa hẳn như vậy…), và nó là một công trình mà chúng ta có tin cậy ở tính chính xác.

Về mặt cá nhân, tôi không thích đọc những gì tôi biết rồi. Tôi thích đọc những chuyên khảo (tức những cuốn sách chuyên môn hoá) trong đó đưa ra một lập luận mới, ngay cả khi chúng có một số chi tiết lỗi. Lập luận là điều thú vị. Ai quan tâm đến những chi tiết (khi những lỗi trong các chi tiết đó không làm suy yếu lập luận) cơ chứ?

Ít tháng trước, tôi bắt đầu biết về website này, ở đó có “những bài điểm thân thiện, không chỉ trích các luận án được bảo vệ gần đây”. Ý tưởng đằng sau đó là để cho người ta bàn bạc về những luận án mà không bị phủ định, và để chỉ ra luận điểm cơ bản của một luận án, vị trí nó đạt được trong lịch sử vấn đề nó nghiên cứu, cũng như đóng góp của nó lĩnh vực của mình.

Tôi nghĩ rằng đây là một khái niệm thú vị. Tuy nhiên, trên thực tế, có những luận án (và những cuốn sách) không đứng riêng rẽ, và không cung cấp chứng cứ củng cố luận điểm chính của nó. Tôi không chắc liệu có bất kì luận án nào như thế đang được điểm trên trang web này hay không. Nếu có, thì đó là dạng có vấn đề.

Nhưng dù sao, cái hay của trang web này là từ việc đọc các bài điểm sách, ai đó có thể nhận được một cảm giác tốt về những kiểu lập luận mà người ta đang đưa ra trong các lĩnh vực khác nhau ở một thời điểm nhất định. Điều đó rất có giá trị. Càng có giá trị hơn, tôi cho, là việc tìm ra rằng niên đại của dòng thứ ba ở trang 84 [của một luận án?] là không chính xác.

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/05/30/critiquing-monographs-encyclopedias-and-dissertations/

Sự (không) quan tâm đến quá khứ ở Đông Nam Á

2 May

S(không) quan tâm đến quá khứ ở Đông Nam Á

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Năm 1965 có một cuộc bạo động ở Indonesia. Sukarno bị phế truất và cuộc bạo động đó bị quy tội cho những người Cộng sản. Một cuộc thanh trừng những người bị tình nghi là Cộng sản đã xảy ra sau đó, và khoảng nửa triệu người (có thể nhiều hơn?) đã bị giết.

Ít năm trước, nhà nhân chủng học Robert Lemelson đã làm một bộ phim tài liệu về giai đoạn này, tên là “40 năm câm lặng: Một tấn bi kịch của người Indonesia”.

Gần đây hơn, Joshua Oppenheimer đã làm một bộ phim về cùng chủ đề với tên gọi “Hành động giết người”. Tôi vẫn chưa xem phim này, nhưng [tôi biết] nó đang nhận được khá nhiều bình luận tích cực.

Để có một cảm nhận về chủ đề mà bộ phim quan tâm, đoạn video có tên “101 lĩnh vực giết người của miền Đông Indonesia” (101 East – Indonesia’s Killing Fields) thực hiện bởi kênh truyền hình Al Jazeera là một lời dẫn nhập tốt.

Rồi đối với Campuchia, có một loạt chương trình truyền hình được gắn phụ đề tiếng Anh như “Duch ở Phiên tòa” đã ghi lại những gì đã xảy ra trong các phiên tòa liên tục về tội phạm chiến tranh ở Cambodia.

Những phiên tòa này, dĩ nhiên, bị hạn chế. Họ chỉ cố gắng xử những lãnh đạo chóp bu của Khmer Đỏ, tuy nhiên, phạm vi và mức độ vẫn còn nằm nhiều trong lòng xã hội Cambodia.

Điều đó hẳn tạo ra một sự căng thẳng lớn đối với nhiều người. Hẳn rất kinh hoàng khi biết rằng những người có trách nhiệm trong việc tàn sát họ hàng, bè bạn của một ai đó vẫn đang sống bình thường.

Trong trường hợp Indonesia, có một cảm giác rõ ràng về sự sợ hãi với những gì đã xảy ra nếu như những căng thẳng như thế được phép bung ra. “Hành động giết người” vì vậy đã bị cấm ở Indonesia.

Trong đoạn phóng sự của kênh truyền hình Al Jazeera, một thành viên của nhóm Hồi giáo Nahdlatul Ulama (NU), được phỏng vấn. Các thành viên của NU có trách nhiệm trong việc tàn sát nhiều người bị tình nghi là Cộng sản năm 1965, và đây là những gì một thành viên của NU đã nói trong video của Al Jazeera:

“Chúng tôi lo lắng. Ở đất nước này, những việc nhỏ dễ dàng bùng phát. Điều gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ việc này bùng nổ trở lại? Cái gì sẽ xảy ra với Indonesia nếu sự thể năm 1965 được khơi mở?”.

Tuyên bố này nhắc tôi về một cuộc phỏng vấn tôi đọc được từ cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức trong đó người phỏng vấn đại khái nói rằng quá khứ là một cuốn sách nên đóng lại. Không cần nhìn lại quá khứ. Người ta chỉ nên hướng về phía trước và để quá khứ lại phía sau.

Nhưng nói thì dễ hơn làm. Khoảng 150 năm sau khi cuộc Nội chiến ở Hoa Kỳ kết thúc, những sự chia rẽ nảy giữ vị trí chủ đạo thời gian đó vẫn, theo nghĩa rộng, vẫn còn, mặc dù nhiều người đã nỗ lực để vượt qua chúng.

Vậy cách gì tốt nhất để xử sự với những vấn đề này? Có phải quay trở lại và nhìn vào chúng, như đang xảy ra ở một mức độ hạn chế ở Cambodia? Hay nên bỏ lại quá khứ đằng sau như nhiều người đã cố gắng làm ở Indonesia và Việt Nam? Có thể là cái gì đó nằm giữa [hai thái cực ấy]?

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/30/on-not-dealing-with-the-past-in-southeast-asia/

(Với một số trường hợp) lịch sử Việt Nam chắc chắn vẫn chưa chết

30 Apr

VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP) LỊCH SỬ VIỆT NAM CHẮC CHẮN VẪN CHƯA CHẾT
By Le Minh Khai
Tôi biết rằng một số người cảm thấy thất vọng với một số phê phán tôi đưa ra ở blog này (ví như lời tuyên bố rằng sử học Việt Nam đã chết). Tuy nhiên tôi tin tưởng vào những gì tôi nói. Nếu có điều gì cần phê phán, tôi sẽ làm điều đó. Nếu điều gì xứng đáng được ngợi ca, tôi sẽ làm điều đó.
Mọt vài ngày trước đây, một bạn đọc rất lâu của blog này đã gợi ý cho tôi về cuốn sách mới của Huy Đức, tựa đề Bên Thắng Cuộc. Anh ta nói với tôi rằng “từ một số tiêu chí nào đó, nó là cuốn sách lịch sử quan trọng nhất trong vài thập kỷ trở lại đây”. 
Bên thắng cuộc đề cập đến giai đoạn từ 1975 đến 2005. Tôi chắc chắn không nhận mình là chuyên gia của giai đoạn này và tôi rất tò mò đề xem các chuyên gia sẽ đánh giá cuốn sách này như thế nào?
Tuy nhiên, tôi nghĩ là tôi có thể nhận ra các công trình học thuật tốt khi tôi nhận ra nó. Cụ thể, tôi rất ấn tượng với các thông tin chi tiết được đề cập trong công trinh này, với cách thức mà các thông tin này được dẫn giải một cách rõ ràng và với giọng kể trung lập (khách quan). 
Đây là một công trình rất quan trọng. Tôi nghĩ chúng ta đang dần dần được thấy nhiều hơn sự trung thực và các công trình có tính khám phá/ gợi mở từ các tác giả Việt Nam (như là công trình về cải cách ruộng đất trong những năm 1950s ở miền Bắc). Công trình này là sự kết hợp của sự trung thực và tính nghiêm cẩn của học thuật. 
Chắc chắn sẽ là một điều tuyệt vời khi thấy cuốn sách như thế được xuất bản. Tôi nghĩ những người những người tạo điều kiện cho cuốn sách được xuất bản xứng đáng được ghi nhận. Nhưng tất nhiên và trước hết, tác giả của nó xứng đáng được vinh danh vì đã tạo ra một công trình sử học vững chắc. 
Tôi ít khi quảng bá cho bất cứ thứ gì ở blog này nhưng cuốn sách nói trên là một ngoại lệ. Dành cho những ai quan tâm, nó đây link, trang Facebook của cuốn sách và địa chỉ để mua nó: link. 
Và vì thế, có thể một số công trình học thuật của sử học Việt Nam chắc chắn là chưa chết … Nhưng đối với (các chủ để như) Hùng vương và hàng nghìn năm “chống lại xâm lược ngoại bang”… Đó là một câu chuyện khác… Nhưng tạm thời hãy để những những điều này qua một bên và chào đón thành tựu tuyệt vời của Huy Đức. Rất giỏi! Hy vọng tiếp theo sau sẽ có thêm các công trình tương tự. (Vũ Đức Liêm dịch)

Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen15581885

Giải cấu trúc nền học thuật Việt Nam: trường hợp Lê Mạnh Thát

27 Apr

by leminhkhai on Le Minh Khai’s SEAsian History Blog

Vài năm trước, học giả người Việt là Lê Mạnh Thát gây nên một vài huyên náo khi ông tranh biện rằng một văn bản Phật giáo Trung Quốc giai đoạn sớm, cuốn Lục độ tập kinh/Liudu ji jing (六度集經), vốn được viết bằng tiếng Việt. Hầu hết các học giả nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc ngày nay đều tin rằng văn bản này là một dịch bản của một trước thuật vốn viết bằng chữ Phạn (Sanskrit). Tuy nhiên, Lê Mạnh Thát đã tranh biện rằng nó vốn được viết bằng tiếng Việt.

Người được xác nhận đã soạn phiên bản tiếng Hán của Liudu ji jing/Lục độ tập kinh là Kang Senghui (tiếng Việt: Khương Tăng Hội). Kang Senghui sinh ra ở đồng bằng sông Hồng và được cho rằng ông là con của thương nhân người Sogdian (tiếng Hán: 粟特 – NS phụ chú). Ông ấy đã trở thành một nhà sư, và cuối cùng làm công việc như một người phiên dịch trong triều đình Dong Wu (Đông Ngô, the Kingdom of Wu) ở Nanjing (Nam Kinh) vào thế kỉ thứ 3 sau CN.

Lê Mạnh Thát cung cấp một vài dạng bằng chứng khác nhau để ủng hộ tuyên bố của mình rằng Liudu ji jing/Lục độ tập kinh vốn dĩ được viết bằng tiếng Việt. Đầu tiên, ông ấy đã chú thích rằng trật tự từ của một vài thuật ngữ trên văn bản là theo cách dùng tiếng Việt. Có vài chỗ trên văn bản như thế, chẳng hạn, nơi thuật ngữ như trung tâm/zhongxin (中心) xuất hiện. Từ nghĩa trên văn bản thì rõ ràng thuật ngữ này nên được hiểu là “trong lòng ai đó,” nhưng với tiếng Hán cổ, để diễn tả ý này thì con chữ phải đảo ngược lại, tức là tâm trung/xinzhong (心中). Lê Mạnh Thát cho biết rằng người ta có thể tìm thấy những ví dụ về trung tâm/zhongxin được sử dụng với nghĩa “trong lòng ai đó” trong những văn bản cổ như Thi Kinh (the Classic of Poetry), nhưng ông cho rằng cách dùng đó đã không còn được chấp nhận (sử dụng) trong suốt thế kỉ 3 sau CN, tức thời gian Kang Senghui sống.

Điều mà Lê Mạnh Thát biện luận sau đó là, trung tâm/zhongxin là một thuật ngữ trực dịch sang tiếng Hán từ cụm “trong lòng” của tiếng Việt. [Ông ấy cho rằng] thực tế, quá rõ ràng là Kang Senghui đã tạo ra một cách diễn đạt trong tiếng Hán mà không khớp với cách dùng của tiếng Hán.

Cuối cùng, trong Liudu ji jing/Lục độ tập kinh có một câu chuyện đề cập đến một người phụ nữ và trăm trứng, và Lê Mạnh Thát biện luận rằng điều đó được lấy cảm hứng từ chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân.

Đã có lần tôi đề cập đến việc các học giả người Việt luôn luôn nói đến chuyện học thuật của họ “khoa học” (scientific) như thế nào, và tôi đã và đang ghi chú ra xem nền học thuật ấy thực sự “un- khoa học” (không khoa học) như thế nào. Đây đúng là một ví dụ hoàn hảo.

Là “khoa học” không đơn giản chỉ có nghĩa rằng anh phải cung cấp những bằng chứng để bảo vệ tuyên bố của anh. Thay vào đó, “khoa học” có nghĩa là anh cũng phải kiểm tra mọi luận điểm/giải thích phản chiều mà anh có thể nghĩ được đến. Trong trường hợp luận điểm của Lê Mạnh Thát về Liudu ji jing/Lục độ tập kinh vốn được viết bằng tiếng Việt, có rất nhiều giải thích phản chiều mà người ta có thể đưa ra.

1. Nếu cách dùng trung tâm/zhongxin (中心) đã là không được thừa nhận vào thế kỉ 3, thì nó đáng ra phải gây nên những vấn đề cho người đọc. Người Trung Quốc đã làm chú thích những trứ thuật của họ một cách vô cùng kĩ lưỡng. Vậy cách dùng kì lạ của cụm từ này có được chỉ ra trong bất kì phiên bản chú sớ nào của Liudu ji jing/Lục độ tập kinh hay không? Nếu không, điều đó khiến tôi giật mình về một dấu hiệu chứng tỏ rằng cách dùng đó chẳng có gì kì lạ.
2. Trong khi có thể là đúng rằng cụm từ trung tâm/zhongxin (中心) đã được sử dụng trong Thi Kinh và không phổ biến sau thời gian của Thi Kinh, bằng chứng của Lê Mạnh Thát cho điều này đến từ một vài bình luận trong những chú giải Thi Kinh và Sở Từ (the Songs of Chu) của những người mà chúng ta có thể gọi họ là các học giả Nho gia. Như thế, đây không phải là bằng chứng chứng tỏ rằng cụm từ này đã không còn được sử dụng theo cách này nữa. Tìm cụm từ này trong Siku quanshu (Tứ khố toàn thư), và xem cách nó được sử dụng trên những văn bản khác nhau mà nó xuất hiện có thể là cách duy nhất để kiểm tra xem liệu thuật ngữ này đã không thực sự được dùng nữa hay không.
Thêm vào đó, tuy nhiên, người ta phải kiểm tra xem liệu đó có phải là một thuật ngữ Phật giáo. Phật gia Trung Quốc có từ vựng riêng của họ. Thực hiện một tìm kiếm nhanh trên một từ điển Phật giáo online, tôi đã tìm thấy nó đã được sử dụng để chỉ “one’s inner mind” (trí huệ nội tại) và “one’s original nature” (bản chất chân nguyên). Tôi muốn nghiên cứu chuyện này kĩ hơn, nhưng đến điểm này, ý “trí huệ nội tại” có vẻ sát hợp với những đoạn văn xuất hiện cụm từ này trong Liudu ji jing/Lục độ tập kinh. Thế nhưng, một lần nữa, tôi muốn nói rằng tôi sẽ cần phải nghiên cứu nó sâu hơn nữa.
3. Khi thuật ngữ trung tâm/zhongxin (中心) được sử dụng trong Liudu ji jing/Lục độ tập kinh, rõ ràng là quan trọng để chúng ta kiểm tra xem tra xem liệu nó đã được dùng trong các văn bản Phật giáo khác. Một tìm kiếm nhanh trên dữ liệu văn bản Phật giáo cho thấy nó đã xuất hiện không biết bao nhiêu lần. Liệu nó cũng được sử dụng trên những văn bản Phật giáo này theo cùng cách như trên Liudu ji jing/Lục độ tập kinh? Chúng ta cần xem xét tất cả những ngữ liệu đó để tìm hiểu vấn đề.
4. Khi so sánh cách dùng của cụm từ trung tâm/zhongxin (中心) trong Liudu ji jing/Lục độ tập kinh với cách dùng của cụm từ này trong các văn bản khác, người ta có thể cùng cần quan tâm xem liệu cách dùng của cụm từ này có thay đổi qua thời gian hay không. Liudu ji jing/Lục độ tập kinh đã được soạn ra vào những năm thời kì đầu Phật giáo được truyền bá vào Trung Quốc. Chúng ta cần biết những cái là đặc trưng cho ngôn ngữ Phật giáo thời gian đó, bởi vì chắc chắn có những đặc thù và đó là một chủ đề mà nhiều học giả đã và đang nghiên cứu.
5. Chúng ta cũng cần kiểm xét những phần khác trong ngôn ngữ của Liudu ji jing/Lục độ tập kinh. Trong một bài nghiên cứu về vấn đề chúng ta có thể cố gắng khám phá những cách diễn đạt bản xứ trong những văn bản Phật giáo trung đại Trung Quốc như thế nào, Erik Zürcher, Seishi Karashima and Huanming Qin lập luận rằng Liudu ji jing/Lục độ tập kinh là một ví dụ điển hình của một văn bản đã KHÔNG thể hiện những cách diễn đạt bản xứ. Họ cho rằng “Ở đây chúng ta tìm thấy tất cả những đặc điểm và hình thức biểu hiện của “wenyan” (văn ngôn, tức tiếng Hán cổ) chuẩn mực, chẳng hạn việc sử dụng những diễn đạt văn học hiếm lạ, việc dùng thơ, những trợ từ cổ, và nhiều khi, thậm chí là những cấu trúc đối ngẫu kiểu Trung Quốc.” [“Here we find all the characteristics and trappings of standard wenyan [i.e., classical Chinese], such as the use of rare literary expressions, prosody, obsolete or even archaic particles and, occasionally, even Chinese-type parallelism.”]
6. Cuối cùng, về vấn đề “trăm trứng,” ở đây một lần nữa chúng ta cần phải nhìn vào những phản chứng. Liudu ji jing/Lục độ tập kinh là một tập hợp những câu chuyện Jataka, tức là những câu chuyện về những kiếp trước của đức Phật trước khi ngài sinh ra làm Phật. Tôi không tường lắm về cái này, nhưng có lẽ chúng ta không biết được rằng nó đã là bản dịch của chính xác văn bản nào. Tuy nhiên, cái chúng ta cần làm là cố gắng xem xem liệu có chuyện nào trong những câu chuyện này trong văn bản Liudu ji jing/Lục độ tập kinh là gần/sát với những chuyện trong những tập Jataka khác và cố gắng xem xem liệu câu chuyện về người phụ nữa và trăm trứng có thể truy nguyên về một câu chuyện của Ấn Độ hay không. Khi chưa làm như thế, chúng ta không thể đưa ra một tuyên bố nào về thông tin này.

Tôi chắc chắn rằng có nhiều chuyện cần phải bàn nữa để phân minh chủ đề này, nhưng sau điểm nêu trên cũng có thể khiến một vài người quan tâm sẽ mất khá nhiều thời gian. Nhưng sau đó họ có lẽ sẽ đưa được ra một luận điểm “khoa học” hơn rất nhiều.

Nguồn: http://lichsuhoc.wordpress.com

%d bloggers like this: